1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Dân tộc Việt Nam trải qua hàng năm dựng nước và giữ nước đã hun đúc
truyền thống yêu nước, truyền thống chống giặc ngoại xâm, ý thức cố kết
cộng đồng dân tộc do phải thường xuyên đương đầu với các thế lực ngoại
bang xâm lăng hoặc có ý đồ đồng hoá, kể cả đồng hoá cưỡng bức. Trong tiềm
thức mỗi người dân Việt Nam, dù thuộc tộc người đa số hay thiểu số, đều
chứa đựng tình yêu quê hương đất nước nồng nàn kết tinh thành ý thức của
dân với nước, được thể hiện sinh động trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ của
thiết chế Gia đình - Làng - Nước, thành sắc thái độc đáo của văn hoá Việt
Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng ngợi ca truyền thống yêu nước của nhân
dân Việt Nam: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền
thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh
thần ấy lại sôi sục, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó
lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ
cướp nước ". Lòng yêu nước, tình cảm gắn bó máu thịt và trách nhiệm của
"con dân" với Nước đã đúc kết thành truyền thống và hơn thế trở thành chủ
nghĩa yêu nước Việt Nam. Bài tiểu luận này sẽ phân tích rõ về chủ nghĩa yêu
nước Việt Nam từ các góc độ: cơ sở hình thành và phát triển, những nội dung
cơ bản của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
trong giai đoạn mới và xây dựng con người Việt Nam thấm sâu chủ nghĩa yêu
nước.
2
I. CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ NGHĨA YÊU
NƯỚC VIỆT NAM
1.1.
3
Nước ta nằm trên bán đảo Đông Dương, trong vùng nhiệt đới gió mùa;
do điều kiện kiến tạo của trái đất, nên đất nước ta nằm trong vùng có nhiều tài
nguyên thiên nhiên quý, hiếm. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên đó đã tạo nên
những tiềm năng to lớn của sự phát triển kinh tế, nhưng cũng đặt ra không ít
thử thách lớn đối với dân tộc ta.
Trong quá trình lao động sản xuất, xây dựng đất nước... chúng ta vừa
tìm cách thích nghi với điều kiện tự nhiên, vừa tìm cách khai thác điều kiện tự
nhiên để phục vụ cho sự tồn tại, phát triển của mình. Trong quá trình săn bắn,
trồng trọt, chăn nuôi, những cư dân Việt Nam đã có cuộc sống ổn định, với
một nền sản xuất vật chất, những giá trị tinh thần mang bản sắc riêng và đạt
đến trình độ cao của nền văn minh lúa nước.
Qua thực tiễn đấu tranh chống lại thiên nhiên hà khắc, những cư dân
Việt Nam dần dần liên kết lại với nhau, cùng nhau làm thuỷ lợi, đắp đê sông,
đê biển để chống đỡ lụt lội, hạn hán. Kinh tế phát triển, sự giao lưu giữa các
vùng trong nước từng bước được mở mang. Đó là quá trình từng bước tạo nên
sự gắn bó giữa các cư dân, cộng đồng với nhau; là cơ sở hình thành tình yêu
quê hương, đất nước, sự gắn bó, đùm bọc lẫn nhau.
Sự phát triển biến đổi của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử
Việt Nam ảnh hưởng đến sự phát triển tinh thần, ý thức dân tộc và chủ nghĩa
yêu nước Việt Nam.
Lý luận về hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác đem lại cho người ta sự
lý giải đúng đắn về sự biến đổi, phát triển của xã hội loài người. Sự phát triển
xã hội loài người gắn liền với sự biến đổi của hình thái kinh tế - xã hội.
Việt Nam không giống như nhiều nước trên thế giới, không trải qua
tuần tự 5 hình thái kinh tế - xã hội một cách tự nhiên. Việt Nam không trải
qua thời kỳ chiếm hữu nô lệ, từ chế độ công xã nguyên thuỷ chúng ta tiến lên
chế độ phong kiến. Chế độ phong kiến Việt Nam là chế độ phong kiến
nguyên nhân quan trọng của mọi thắng lợi cách mạng Việt Nam.
5
Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta hun đúc nên tinh thần đoàn
kết, ý chí đấu tranh bất khuất, kiên cường, niềm tự tôn dân tộc tác động sâu
sắc đến sự phát triển của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.
Nước Việt Nam nằm ở khu vực án ngữ đường giao lưu giữa Bắc Á và
Nam Á, Đông Á sang Tây Á, nơi có nhiều đường giao thông quan trọng, cửa
ngõ thông thương với các nơi trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nơi
có nhiều tài nguyên thiên nhiên quý hiếm. Vì vậy, từ xưa đến nay, nước ta
luôn bị xem là "miếng mồi béo bở", mảnh đất đầy hấp dẫn đối với nhiều đế
quốc hung bạo. Kể từ cuộc kháng chiến quân Tần (thế kỷ II - trước Công
nguyên, đến năm 1975 kế thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước) trong
vòng 22 thế kỷ, dân tộc ta có tới 12 thế kỷ phải tiến hành kháng chiến chống
lại nhiều kẻ thù thường có tiềm lực kinh tế và quân sự vượt trội hơn ta gấp
nhiều lần.
Những cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống quân xâm lược phương
Bắc trước đây, kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân kiểu cũ, kiểu mới trong
thời hiện đại đều là những cuộc chiến đấu không cân sức, diễn ra rất ác liệt
cả về quy mô và tính chất chiến tranh. Trong điều kiện như vậy, không có
con đường nào khác, cả dân tộc đồng lòng nhất tề đứng dậy, cố kết với nhau,
tạo thành sức mạnh to lớn chiến đấu và chiến thắng quân thù. Những điều
kiện đó đã tác động sâu sắc tới quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa
yêu nước Việt Nam, hình thành truyền thống đoàn kết, cố kết dân tộc trong
sự nghiệp dựng nước và giữ nước hình thành nên những phẩm chất đặc biệt
của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.
Sự thống nhất trong tính đa dạng của nền văn hoá dân tộc tác động
lớn đến sự hình thành và phát triển chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.
Quá trình hình thành, phát triển của nhà nước, gắn liền với quá trình
thống nhất quốc gia. Tuy mỗi thời kỳ có tên gọi khác nhau, nhưng dân tộc
Việt Nam được hình thành là do nhu cầu trị thuỷ, nhu cầu chống ngoại xâm
7
và do nhu cầu trao đổi kinh tế, văn hoá ngày càng gia tăng giữa các vùng, các
miền lại với nhau, sớm hình thành ý thức cộng đồng, đoàn kết cố kết dân tộc.
Đó là cơ sở của chủ nghĩa yêu nước truyền thống.
* Nhân tố chủ quan.
Ngoài những điều kiện khách quan nêu trên tác động đến quá trình hình
thành, phát triển chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, chúng ta cần làm rõ những
nhân tố chủ quan - nhân tố quan trọng quyết định đến nội dung, hình thức của
chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Từ khi hình thành nhà nước, từ nhà nước sơ
khai ban dầu, đến nhà nước hiện đại, bất kỳ nhà nước nào cũng quan tâm
chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, kế thừa và phát triển truyền thống yêu nước của
các thế hệ ông cha trong quá trình dựng nước và giữ nước .
Lịch sử Việt Nam bắt đầu bằng một sự kiện có ý nghĩa vô cùng trọng
đại là sự ra đời rất sớm của Nhà nước Văn Lang trên cơ sở hợp nhất tự
nguyện của người Việt cổ (Lạc Việt và Âu Việt): "Vua Hùng đã có công dựng
nước”, và nước Việt ngay từ lúc mới ra đời đã là một quốc gia có cương vực
ổn định với một nền văn hóa rực rỡ, với sản phẩm trống đồng. Có thể khẳng
định rằng sự xuất hiện sớm của Nhà nước Văn Lang đã tạo điều kiện rất cơ
bản cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hình thành sớm.
Nhà nước thứ hai trong lịch sử Việt Nam là nước Âu Lạc (thống nhất
giữa Tây Âu và Lạc Việt) với người thủ lĩnh kiệt hiệt là Thục Phán để chống
lại sự xâm lược của nhà Tần từ phương Bắc tràn xuống, với sự kiện này đã
nói rõ một đặc điểm của lịch sử Việt Nam: bắt đầu dựng nước cũng là bắt đầu
giữ nước! Tư thế chung của dân tộc ta trong lịch sử là phải luôn luôn vừa lao
Quốc gia) cao hơn Văn Lang. Sự thành lập nước Âu Lạc là bước phát triển kế
tục nước Văn Lang. Thời đại Văn Lang và Âu Lạc là thời đại văn minh Sông
Hồng, thời đại các Vua Hùng và Vua Thục, một thời đại vô cùng quan trọng
của lịch sử Việt Nam. Đó là thời kỳ hình thành dân tộc với nền tảng là một
9
đời sống kinh tế chung cho toàn quốc, là thời kỳ hình thành Nhà nước đầu
tiên. Đó cũng là thời đại hình thành một nền văn hóa dân tộc với một bản sắc
độc đáo phi Hoa, phi Ấn với một phong cách Đông Sơn rất đặc trưng, rất điển
hình và có ảnh hưởng lớn đến toàn vùng Đông Nam Á. Cộng đồng dân tộc
Việt xây dựng từ đó một lối sống riêng, có một bản lĩnh vững vàng, và trên
nền tảng đó đã xây dựng được một xã hội, một lối sống Việt Nam, một truyền
thống Việt Nam. Đó cũng là thời kỳ hình thành ý thức dân tộc được tổng hợp
từ những tình cảm gia đình, họ hàng, quan hệ đồng bào, tình làng nghĩa
nước... để trở thành một lòng yêu nước Việt Nam bất khả chiến bại, một ý
thức về quyền sở hữu chung của dân tộc, về địa bàn đất đai, đất nước, lãnh
thổ để trên nền tảng đó ý thức hệ của công cuộc giữ nước bắt đầu. Đó là kỷ
nguyên bắt đầu dựng nước của dân tộc Việt Nam, mở đầu truyền thống dựng
nước và giữ nước oai hùng của dân tộc, từ đó được nâng lên trình độ chủ
nghĩa yêu nước Việt Nam.
Nhưng vào năm 183 trước CN, Triệu Đà lợi dụng tình hình phương
Bắc rối loạn để xưng đế, lập nước Nam Việt, rồi đưa quân xuống phía Nam
chiếm nước Âu Lạc, mở đầu một thời kỳ mất nước kéo dài hơn ngàn năm, là
một thời kỳ thử thách lớn lao đối với sức sống của dân tộc với âm mưu đồng
hóa toàn diện và triệt để của kẻ thù. Sự đô hộ hơn 1000 năm của các triều đại
phong kiến phương Bắc với nhiều thủ đoạn đồng hóa đã không thể bẻ gãy ý
chí độc lập, tự chủ của dân tộc. Ý chí độc lập tự chủ luôn được bảo tồn và
phát triển từ đời này qua đời khác. Các cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng
gốc giữ nước”. Khởi nghĩa Lam Sơn đã phát huy cao độ sức mạnh “nêu hiệu
gậy làm cờ, tụ tập khắp bốn phương manh lệ”, phát triển thành một cuộc
chiến tranh giải phóng dân tộc mang tính nhân dân sâu rộng. Những tổng kết
trong “Bình Ngô đại cáo” cho thấy tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc đã phát
triển lên trình độ của chủ nghĩa yêu nước với một nhận thức mang tính hệ
thống, khái quát tương đối toàn diện về sự tồn tại của đất nước và dân tộc.
11
Đến thế kỷ 15, nhà Trần đổ nát và bị nhà Hồ thay thế. Nhưng cuộc kháng
chiến do Hồ Quý Ly đứng đầu đã nhanh chóng thất bại vì không phát huy
được sức mạnh vĩ đại của dân tộc để chống giặc giữ nước. Phong trào yêu
nước dâng lên mạnh mẽ, lôi cuốn mọi tầng lớp, mọi thành phần, phát triển
rộng khắp dần quy tụ vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi đứng đầu.
Sau 10 năm chiến đấu (1418-1428), với thắng lợi của cuộc kháng
chiến, nền độc lập dân tộc được khôi phục và giữ vững, âm mưu xâm lược
của kẻ thù bị đánh bại hoàn toàn. Tình hình đó tạo ra những điều kiện rất
thuận lợi để củng cố và xây dựng đất nước. Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII,
chế độ phong kiến Việt Nam chuyển sang mô hình chế độ phong kiến trung
ương tập quyền lấy Nho giáo làm nòng cốt. Từ đó, Nho giáo đã có ảnh hưởng
và chi phối ngày càng sâu sắc trong triều đình và xã hội Việt Nam. Phong trào
Tây Sơn (1771) nổi lên ở Đàng Trong rồi tiến ra Bắc. Phong trào đó từ một
cuộc khởi nghĩa nông dân phát triển thành một phong trào dân tộc, đánh đổ
các chính quyền phong kiến, đánh bại quân xâm lược Xiêm, Thanh và xoá bỏ
tình trạng chia cắt Đàng Trong- Đàng Ngoài. Nhưng khi Quang Trung mất thì
nhà Nguyễn chuyên chế lại lên thống trị. Thời kỳ này chế độ phong kiến Việt
Nam đã bước vào giai đoạn khủng hoảng suy vong. Phong trào nông dân khởi
nghĩa tiếp tục lan tràn, chỉ trong vòng nửa thế kỷ đầu của triều Nguyễn đã có
tới trên 300 cuộc khởi nghĩa nông dân lớn và nhỏ.
tạo nên một bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Từ đây Cách mạng
Việt Nam đi vào quỹ đạo của thời đại. Chủ nghĩa yêu nước lúc này là chủ
nghĩa yêu nước của nhân dân, không bị hạn chế, biến chất bởi chủ nghĩa quốc
gia hẹp hòi, chủ nghĩa sô vanh tư sản, phong kiến. Chính trong thời kỳ Đảng
lãnh đạo, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam càng có những điều kiện vô cùng
thuận lợi để phát triển. Yêu nước ngày nay là kiên định mục tiêu độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp hài hòa với chủ nghĩa quốc tế vô sản chân
13
chính, là đem hết nhiệt tình, trí tuệ và tài năng để xây dựng Tổ quốc theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, trước mắt là xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh trên tinh thần hòa bình, hữu nghị và hội nhập,
cùng nhau phát triển.
II. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC
VIỆT NAM
* Tình yêu quê hương, đất nước, con người
Trong ý niệm về Tổ quốc của con người Việt Nam bao giờ cũng có ý
niệm về quê hương cụ thể nơi họ sinh ra và lớn lên với bao hình ảnh thân
thương: cây đa, giếng nước, sân đình, con người cụ thể trên mảnh đất đó. Tổ
quốc chung, rộng lớn bao giờ cũng gắn với một cái làng riêng biệt. Trong
thực tế đã hình thành lên mối quan hệ Nhà - Làng - Nước trong sự hình thành,
phát triển của dân tộc Việt Nam, trong tổ chức nhà nước, trong tư tưởng, tình
cảm con người Việt Nam. Điều đó làm cho chủ nghĩa yêu nước truyền thống
Việt Nam có độ sâu sắc, mạnh mẽ và độc đáo.
Yêu nước của người dân Việt Nam là một tình yêu cụ thể, không trừu
tượng, từ yêu những cảnh quan thiên nhiên nơi mảnh đất họ sinh ra, đến tình
yêu Tổ quốc bao la.
Tư tưởng yêu nước gắn với thương nòi, đã sản sinh ra những hành động
tiếp thu có chọn lọc, hợp lý tinh hoa văn hoá thế giới. Bảo vệ nhưng không
đóng cửa, bảo vệ gắn liền với sự phát triển. Ở mỗi bước phát triển của lịch sử
dân tộc có bước phát triển của một nền văn hoá cao hơn. Đó là tính quy luật
của sự phát triển văn hoá Việt Nam.
* Ý thức bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, chúng ta đã có ba bản
Tuyên ngôn độc lập. Bản Tuyên ngôn lần thứ nhất vào mùa xuân 1077 sau khi
chiến thắng quân Tống xâm lược, Lý Thường Kiệt viết bài thơ bất hủ:
15
"Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư"
Năm 1428 sau khi cuộc chiến tranh giải phóng khỏi ách đô hộ của nhà
Minh - Nguyễn Trãi người anh hùng dân tộc đã viết "Bình ngô đại cáo", bản
Tuyên ngôn độc lập lần thứ II.
Bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ II do Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố
ngày 02 tháng 9 năm 1945 khai sinh Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Tất cả các bản Tuyên ngôn đều khẳng định quyền dân tộc tự quyết của
Việt Nam; ý chí quyết tâm giữ vững độc lập dân tộc, giữ vững bản sắc văn
hoá Việt Nam; nghị lực, quyết tâm của dân tộc trong sự nghiệp xây dựng một
nước Việt Nam độc lập, dân chủ và giàu mạnh.Từ tình yêu quê hương, xứ sở
nâng lên thành ý thức bảo vệ non sông đất nước, giang sơn, tổ quốc, sơn hà xã
tắc (ý niệm sâu sắc về lãnh thổ quốc gia) là bước trưởng thành của chủ nghĩa
yêu nước Việt Nam truyền thống.
Thế kỷ XV Lê Thánh Tông đã khẳng định: "Một thước núi, một tấc
sông của ta không thể vất bỏ... Ai dám đem một thước núi, một tấc sông của
Phát huy mạnh mẽ chủ nghĩa yêu nước, đáp ứng yêu cầu xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng
của Đảng ta, dân tộc ta. Kiên định mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội là bài học lớn, xuyên suốt trong quá trình cách mạng
Việt Nam.
Đại hội lần thứ X của Đảng khẳng định Mục tiêu "dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" thể hiện được các mục tiêu của
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thể hiện sự gắn bó chặt chẽ giữa nước với dân.
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vẫn là ngọn cờ chiến đấu và chiến thắng
của thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau.
Kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong
sáng của giai cấp công nhân. Không chỉ bảo vệ giữ vững chủ quyền mà
18
chúng ta còn góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế
giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Bằng việc phát
huy nội lực, tranh thủ nguồn ngoại lực; thực hiện nghĩa vụ quốc tế phù hợp
với khả năng và hoàn cảnh quốc tế đã thê hiện được tình thủy chung, trong
sáng của Việt Nam đối với đồng chí, bạn bè trên thế giới.
Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng,
đoàn kết toàn dân, toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đoàn kết là yêu cầu khách
quan của sự nghiệp cách mạng, là lực lượng vô cùng to lớn, là sức mạnh vô
địch không gì thắng nổi. Vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề chiến
lược có tầm quan trọng đặc biệt, trở thành một nhu cầu cấp thiết, một động
lực chủ yếu để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đồng thời, phải biết kết
Kiên quyết đấu tranh với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ
quốc, của nhân dân, phát huy truyền thống kiên cường, bất khuất, bảo vệ
Tổ quốc. Trong bối cảnh phát triển hiện nay, cần kiên quyết đấu tranh chống
quan liêu, tham nhũng, lãng phí, những hành động làm yếu đi sức mạnh tổng
hợp của đất nước đồng thời cảnh giác và kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu
xâm phạm lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân.
4.2.
Các giải pháp xây dựng con người Việt Nam thấm sâu chủ
nghĩa yêu nước Việt Nam
Một là, cần đẩy mạnh công tác giáo dục tư tưởng chính trị, giáo dục
lòng yêu nước cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên. "Thế
hệ trẻ ngày nay tiếp nối sự nghiệp của lớp người đi trước, đẩy mạnh công
cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước nhà để rửa nỗi nhục nghèo
khổ, mở ra một trang sử mới rạng rỡ cho non sông Việt Nam quang vinh sánh
vai cùng các dân tộc khác trên thế giới". Nghị quyết Trung ương 7 khoá X
về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với thanh niên thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá không chỉ tiếp tục khẳng định vai trò chủ nhân
tương lai đất nước của thanh niên Việt Nam mà còn chỉ ra những nguyên
nhân dẫn đến những hạn chế về nhận thức của thanh niên hiện nay trước ảnh
hưởng từ mặt trái của cơ chế thị trường, của tình hình phong trào cộng sản và
công nhân quốc tế và âm mưu "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù
địch.
20
Đại hội XI của Đảng tiếp tục chỉ rõ: Để phát huy mạnh mẽ sức mạnh
tổng hợp của toàn dân tộc, chúng ta cần phải tăng cường tuyên truyền, giáo
Cần làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, làm cho mỗi người Việt
Nam, trước hết là từng cán bộ, đảng viên nhận thức rõ tình trạng tham nhũng,
lãng phí đang là quốc nạn, làm xói mòn lòng tin của nhân dân và đảng viên
đối với Đảng và Nhà nước, trực tiếp đe dọa sự lãnh đạo của Đảng, sự tồn
vong của chế độ. Triển khai nghiêm túc Cuộc vận động Học tập và làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị
quyết Trung ương 4 khoá XI là biện pháp cực kỳ quan trọng để xây dựng và
phát triển đất nước trong tình hình mới, là sự phát huy chủ nghĩa yêu nước
Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế.
22
KẾT LUẬN
Yêu nước, đó không chỉ là một tình cảm, một phẩm chất tinh thần, mà
đã phát triển thành một chủ nghĩa - chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa dân tộc
chân chính thành dòng chủ lưu của tư tưởng Việt Nam, xuyên suốt lịch sử dân
tộc. Cái dòng chủ lưu ấy - chủ nghĩa yêu nước Việt Nam - có thể hình dung
trên những nét tiêu biểu là: - Tình cảm, ý thức hướng về cội nguồn, tổ tiên như
một yếu tố tâm linh của người Việt Nam: "Dù ai đi ngược về xuôi - Nhớ ngày
giỗ tổ mồng Mười tháng Ba". - ý thức ngưỡng mộ, tôn sùng, ghi ơn những
anh hùng có công với nước, với dân. - Gắn bó vận mệnh đất nước với tồn tại
của từng gia đình: "Nước mất, nhà tan". - ý thức cố kết cộng đồng trong xây
dựng quê hương đất nước, trong đấu tranh chống thiên nhiên khắc nghiệt và
chống ngoại xâm. - ý thức về tinh thần độc lập, tự chủ về lãnh thổ, chủ quyền
quốc gia v.v.. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là sức mạnh tư tưởng Việt Nam một nguồn sức mạnh to lớn được kết tinh hun đúc qua trường kỳ lịch sử.
Trong thời đại hiện nay, phát huy chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là cơ sở vững
chắc, là bệ đỡ để Việt Nam hội nhập và phát triển bền vững trong xu thế toàn
cầu hoá và hội nhập quốc tế. Mỗi con người Việt Nam đều phải không ngừng
phấn đấu trở thành con người cua thời đại mới thấm nhuần chủ nghĩa yêu