Cộng đồng kinh tế ASEAN nhìn từ góc độ của chủ nghĩa kiến tạo và một số hàm ý chính sách cho Việt Namtt - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Vĩnh Bảo Ngọc CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN NHÌN TỪ GÓC ĐỘ
CỦA CHỦ NGHĨA KIẾN TẠO VÀ MỘT SỐ HÀM Ý
CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI


HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN MẠNH HÙNG Hà Nội - 2012

MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
i
DANH MỤC CÁC BẢNG
ii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
ii
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP TÁC KHU VỰC Ở
ĐÔNG NAM Á
7
1.1.
Chủ nghĩa khu vực và các lý thuyết về hội nhập khu vực
7
1.2.
Các kiến giải về cộng đồng từ góc nhìn của chủ nghĩa
kiến tạo xã hội

KẾT LUẬN
73
TÀI LIỆU THAM KHẢO
75
PHỤ LỤC
83 2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Sáng kiến xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), một
trong 3 trụ cột của Cộng đồng (APSC), Cộng đồng Kinh tế (AEC) và
Cộng đồng Văn hoá – Xã hội (ASCC)) được thông qua tại Hội nghị
thượng đỉnh ASEAN lần thứ 9 vào năm 2003. Hội nghị Thượng đỉnh
ASEAN lần thứ 12 vào tháng Giêng năm 2007, đã quyết định rút ngắn
thời hạn hoàn thành Cộng đồng ASEAN, từ năm 2020 xuống còn 2015.
Tháng 11 năm 2008, Hiến chương ASEAN bắt đầu có hiệu lực và trở
thành trụ cột thể chế của Cộng đồng ASEAN.
Thời hạn hình thành AEC đang đến gần, trong khi đó những khó
khăn và trở ngại trên con đường tiến tới AEC vẫn đang hiện hữu như
chênh lệch phát triển lớn; sự khác biệt trong thể chế chính trị - xã hội và
thiếu người lãnh đạo,… Do đó việc nghiên cứu sâu hơn về mô hình của
AEC sẽ giúp hiểu sâu hơn về liên kết kinh tế này để đưa ra những biện
pháp và sáng kiến nhằm thực hiện thành công AEC cũng như sự phát
triển của cộng đồng này trong tương lai.
Tuy là một thành viên của ASEAN từ năm 1995 nhưng Việt
Nam vẫn thuộc nhóm các nước kém phát triển hơn và chưa tham gia một
cách có hiệu quả cao vào các quá trình liên kết kinh tế của ASEAN.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu sâu hơn về mô hình AEC sẽ giúp

hướng phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế” tiến hành năm 2006
đã phân tích và đánh giá mối quan hệ kinh tế, xã hội, ngoại giao của Việt

4
Nam khi tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN. Các nghiên cứu của
Nguyễn Xuân Thắng (2006) “Việt Nam và ASEAN: Những bước hội nhập
tiếp theo”; Trần Văn Tùng và Phạm Ngọc Tân (2007) “Bối cảnh quốc tế
và tác động của nó đối với quá trình hình thành AEC” cũng phân tích
những điểm cơ bản ban đầu về bối cảnh, điều kiện và thể chế hình thành
AEC.Tại Hội thảo quốc tế “ASEAN: Bốn mươi năm nhìn lại và hướng tới”
do Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học quốc gia Hà
Nội tổ chức ngày 19/7/2007, các học giả trong nước cũng có nhiều bài
tham luận có giá trị dự đoán về cấu trúc an ninh-chính trị ở ASEAN cũng
như tương lai của các thể chế và diễn đàn đối thoại ở khu vực. Trong số
các bài tham luận, Nguyễn Vũ Tùng (2007) cũng đã bước đầu tiếp cận
nhìn nhận hợp tác ASEAN trong lĩnh vực chính trị và an ninh từ góc độ
của chủ nghĩa kiến tạo. Tiếp theo các nghiên cứu kể trên, cuốn sách “
Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC): Mục tiêu, nội dung và lộ trình” do
Nguyễn Hồng Sơn chủ biên tổng kết 6 bài học từ việc Việt Nam tham gia
vào hợp tác kinh tế ASEAN và đưa ra một số khuyến nghị giúp Việt Nam
tham gia AEC có hiệu quả.Chương trình cấp bộ: “Cộng đồng ESEAN: Cơ
sở hình thành, triển vọng và phản ứng chính sách của các nước trong khu
vực” năm 2010 do Lê Bộ Lĩnh làm chủ nhiệm cũng đã đóng góp những
nghiên cứu tổng thể về hợp tác phát triển trong cộng đồng ASEAN về các
mặt: chính trị, ngọai giao, kinh tế, xã hội…
Bên cạnh đó, trên các tạp chí như “Những vấn đề kinh tế thế
giới”, “Nghiên cứu quốc tế” và “Nghiên cứu Đông Nam Á”, các trang
điện tử như google.com.vn, vietnam.net và vnexpress.net có thể thấy
một số bài viết của các học giả Việt Nam đánh giá về sự ra đời của AEC


- Đưa ra một số khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao hiệu quả
tham gia vào AEC của Việt Nam.
3.3. Câu hỏi nghiên cứu
Cần nhìn nhận quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng
kinh tế ASEAN như thế nào?
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn.
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Quá trình hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN nhìn dưới góc
độ lý thuyết.
4.2. Phạm vi nghiên cứu luận văn
Đề tài đi sâu nghiên cứu sự hình thành Cộng đồng liên kết kinh
tế ASEAN từ khi thành lập năm 2003 đến tháng 6/2012.
Vấn đề nghiên cứu chính là sự thay đổi nhận thức trên hai khía cạnh:
- Về hợp tác kinh tế khu vực ở Đông Nam Á;
- Về sự tham gia của Việt Nam vào hợp tác kinh tế ở khu vực ĐNA.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Kết hợp các phương pháp phân tích và mô hình hóa lý thuyết.
- Phương pháp nghiên cứu tiến trình lịch sử để nghiên cứu quá
trình hình thành và phát triển của AEC.
- Phương pháp nghiên cứu tiến trình nhận thức của chủ nghĩa
kiến tạo (thông qua phân kỳ giai đoạn) để phân tích sự thay đổi nhận
thức đối với hợp tác kinh tế ASEAN.
- Tiếp xúc với các chuyên gia Viện nghiên cứu Đông Nam Á,
Vụ Đông Nam Á – Nam Á – Nam Thái Bình Dương.

7
- Phân tích sử dụng các tài liệu của Việt Nam kết hợp với việc
khai thác các nguồn tài liệu của nước ngoài.
Nguồn tài liệu chính được sử dụng trong luận văn là tài liệu thứ
cấp và kết quả phỏng vấn với các chuyên gia.

đi cùng với phát triển xã hội để thành công.
Cùng với sự xuất hiện của chủ nghĩa khu vực mới là sự định
nghĩa lại một loạt khái niệm liên quan đến quá trình liên kết khu vực như
chủ nghĩa khu vực (regionalism) và khu vực hóa (regionalization). Chủ
nghĩa khu vực mới không chỉ là một khái niệm địa lý mà nó còn thể hiện
một quá trình năng động, bao gồm từ sự tập trung của các mối quan hệ
kinh tế cho đến các mối quan hệ về chính trị và văn hóa-xã hội.
Các lý thuyết về hội nhập khu vực
Chủ nghĩa Chức năng Mới (Neo-functionalism)
Chủ nghĩa Chức năng Mới được bắt đầu xuất hiện vào cuối
những năm 1950 của thế kỷ XX. Chủ nghĩa Chức năng Mới vẫn dựa trên
nền tảng lý luận cơ bản và cách tiếp cận tới hoà bình của Chủ nghĩa
Chức năng cổ điển là quan niệm về con đường hợp tác kinh tế-xã hội là
nơi quốc gia có nhiều lợi ích chung. Hợp tác chức năng kinh tế-xã hội có
tác động tới các lĩnh vực khác. Cách thức hội nhập vẫn dựa trên việc xây
dựng các tổ chức chuyên môn. Các tổ chức này dần dần sẽ vượt lên trên
quốc gia để có thể thực thi hiệu quả sự hợp tác liên quốc gia. Trong quá

9
trình này, các giá trị và lòng trung thành với quốc gia dân tộc sẽ dần bị
xói mòn và chuyển sang các thể chế hợp tác chung. Một sự vận động
như vậy sẽ thúc đẩy tiến tới hoà bình và hội nhập chính trị.
Chủ nghĩa Liên bang (Federalism)
Nội dung cơ bản của Chủ nghĩa Liên bang là chủ trương hội
nhập các quốc gia vào trong một liên minh chính trị trên cấp độ khu vực
hoặc toàn cầu. Liên minh chính trị này có thể theo thiết chế liên bang
kiểu Mỹ hoặc là một hệ thống chính phủ quốc gia nào đó. Đó chính là
con đường hội nhập toàn phần từ dưới lên vì mục tiêu hoà bình. Như
vậy, khác với các lý thuyết trên, Chủ nghĩa Liên bang đi vào chính trị
trực diện và mạnh mẽ hơn hẳn. Nó hướng tới hội nhập chính trị trên cơ

hơn ở những lĩnh vực chính trị ít nhạy cảm (low politics) song sẽ trở nên
khó khăn hơn đối với những lĩnh vực chính trị quan trọng (high politics).
1.2 Các kiến giải về cộng đồng từ góc nhìn của chủ nghĩa kiến tạo xã
hội
Khái niệm về „cộng đồng‟ lần đầu tiên được Ferdinand Tönies
đưa ra vào cuối thế kỷ 19. Tönies (1887) phân biệt hai thuật ngữ xã hội
học „Gesellschaft‟ và „Gemeinschaft‟ được dịch tương ứng là tổ chức
hoặc hiệp hội và cộng đồng. „Gemeinschaft‟ được hình thành dựa trên
các mối liên hệ theo hợp đồng vì lợi ích chung, còn „Gesellschaft‟ được
hình thành dựa trên các mối liên hệ về văn hóa, truyền thống, chuẩn mực
và bản sắc chung. Trong quan hệ quốc tế, khái niệm về “cộng đồng”
(community) thường được dùng để chứng tỏ sự hợp tác sâu trong nhiều
lĩnh vực.

11
Trong liên kết kinh tế, khái niệm “cộng đồng kinh tế” thường
được dùng để chỉ một trong các hình thức hợp tác kinh tế là việc thành
lập một khu vực thương mại tự do, liên minh thuế quan, thị trường
chung hoặc liên minh kinh tế. Bàn về "cộng đồng văn hoá-xã hội," theo
Amitav Acharya (2009), sự gần gũi, các mối quan hệ lịch sử và nền văn
hoá chung không phải lúc nào cũng tạo ra được cộng đồng, nhưng chúng
có thể tạo ra động lực ban đầu để xây dựng cộng đồng.
Chủ nghĩa đa nguyên và chủ nghĩa xuyên quốc gia chưa đủ
“mạnh” để giải thích quyết tâm nâng hợp tác khu vực lên mức độ “cộng
đồng,” nhất là khi các nước Đông Nam Á lại phụ thuộc vào bên ngoài về
các mặt kinh tế và chính trị nhiều hơn. Chủ nghĩa chức năng mới cũng
chỉ lý giải được phần nào quá trình hợp tác theo “chức năng” của
ASEAN trong những thập niên 1980 và 1990, song cũng chưa thể giải
thích được thực tế rằng ASEAN vốn bắt đầu từ hợp tác vì mục đích
chính trị rồi chuyển sang lĩnh vực kinh tế trước khi có quyết tâm đột phá

thành trong một quá trình và theo nhận thức, nên quá trình “ra hiệu –
diễn giải – phản ứng” sẽ chi phối hành vi của các nước (Wendt, 1992).
Chủ nghĩa kiến tạo và các lý thuyết xã hội học cho rằng “cộng
đồng” được hình thành qua ba giai đoạn tiến triển về nhận thức và hành
vi đối xử với nhau giữa các thành viên. Giai đoạn thứ nhất là xây dựng
một tình cảm dung thứ (tolerance), thể hiện qua việc khép lại quá khứ,
hướng tới tương lai cùng với sự ngưỡng mộ, lắng nghe và học hỏi lẫn
nhau. Giai đoạn thứ hai là sự đối xử tương hỗ (reciprocity), theo Robert
Putnam (2000), thể hiện qua việc “tôi sẽ làm việc này cho bạn bây giờ

13
mà không trông đợi sự đáp trả tức thời, thậm chí không cần phải biết bạn
là ai, và tự tin rằng sau này bạn hoặc một ai đó sẽ đáp trả.” Nói một cách
khác, trong ngắn hạn, đối xử tương hỗ xuất phát từ sự thật lòng và trong
dài hạn chính là vì lợi ích bản thân. Giai đoạn thứ ba là có được một
mức độ tín nhiệm (trust), thể hiện qua sự tự tin rằng mọi người và các
thể chế sẽ hành động một cách thống nhất, trung thực và hợp lý. Tín
nhiệm không loại trừ sự góp ý và chỉ trích với mục đích tốt.
Khi nghiên cứu về ASEAN, Amitav Acharya (2009) cho rằng
cộng đồng này có hai đặc điểm chính. Thứ nhất, nó chỉ một quan hệ xã
hội, chứ không phải một quan hệ chỉ thuần tuý mang tính phương tiện.
Những thuộc tính chính yếu của cộng đồng là sự tin cậy, tình hữu nghị,
sự bù đắp và tinh thần trách nhiệm. Thứ hai, cộng đồng không phải chỉ
là một nhóm những người có cùng văn hoá mà cũng là nhóm người có
tinh thần trách nhiệm chung, sự tin tưởng, quí trọng, và tự giác nhận
thức được về sự đồng nhất. Việc phát triển một cộng đồng thường liên
quan đến ý thức về sự đồng nhất chung song các cộng đồng cũng có thể
tạo dựng được sự đồng nhất và mục tiêu chung bằng cách thu hút và hấp
dẫn những người ngoài chứ không phải là loại trừ hoặc chống lại họ.
Thực tế cho thấy, ASEAN đã có một lịch sử lâu dài về các mối quan hệ

nhìn ASEAN 2020 khẳng định ASEAN sẽ là một tổ chức hướng ra bên
ngoài (outward looking). Tiếp đó, Tuyên bố Bali cũng nêu rõ ASEAN
tiếp tục đánh giá cao “tầm quan trọng của các luật lệ của hệ thống
thương mại đa phương,” tăng cường “mở rộng kết nối với nền kinh tế
thế giới” (Mục 7) và trở thành “một mắt xích năng động và mạnh mẽ
hơn trong dây chuyền cung ứng toàn cầu” (phần B.3). Trong đó,
ASEAN đặc biệt coi trọng thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác trong tiến
trình ASEAN+3 (Mục 8). 15
Biện pháp và Lộ trình của Cộng đồng kinh tế ASEAN
Hình 2.1: Lộ trình hội nhập kinh tế tổng thể ASEAN (RAI)

Nguồn: Dựa trên Krishnam, Gary. 2007. Initiative for ASEAN Integration: Narrowing
the Development Gap. IAI Unit. ASEAN Secretariat.
Theo Tuyên bố Bali II và khuyến nghị của HLTF, về cơ bản các
biện pháp nhằm thực hiện AEC gồm có:
+ Đẩy nhanh hoàn thành các chương trình hội nhập kinh tế hiện thời
+ Đẩy mạnh hội nhập một số ngành ưu tiên
+ Tăng cường triển khai Sáng kiến hội nhập ASEAN và thu hẹp khoảng
cách phát triển
+ Tăng cường hoàn thiện thể chế
2.2. Tiếp cận sự hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) dƣới
góc độ của Chủ nghĩa kiến tạo
Chủ nghĩa kiến tạo xã hội cho rằng Cộng đồng kinh tế ASEAN là
một sự kiến tạo mang tính chất xã hội (socially constructed) trong quan
Lộ trình hội nhập kinh tế của ASEAN
Mục tiêu: Tầm nhìn 2020 - AEC
ASEAN-6 và ASEAN-4

Cùng với sự ra đời của Hiến chương ASEAN là những tiến triển
rõ rệt về cơ cấu tổ chức của ASEAN để hướng tới một cộng đồng. Trong
những năm đầu, cơ quan cao nhất của ASEAN là Hội nghị Ngoại
trưởng, và số lượng các tổ chức của ASEAN còn rất hạn chế, thậm chí là
không có Ban thư ký. Theo Hiến chương ASEAN, hội nghị Thượng
đỉnh, được tổ chức hai lần một năm, là cơ quan hoạch định chính sách
cao nhất của ASEAN. Ngoài hội nghị Thượng đỉnh ra, ASEAN còn có
các Hội nghị cấp Bộ khác và các Hội nghị này cứ tăng dần theo thời
gian. Bên cạnh các Hội nghị, ASEAN còn có các Hội đồng và các Uỷ
ban, tính đến nay số lượng các Hội đồng và Uỷ ban này nhiều hơn hẳn
so với khi ASEAN mới được thành lập. Cũng theo Hiến chương
ASEAN, cơ cấu tổ chức của ASEAN sẽ còn phát triển hơn với các cơ
quan hoàn toàn mới như các Hội đồng Cộng đồng ASEAN: Chính trị -
An ninh, Kinh tế và Văn hoá – Xã hội. Mỗi Hội đồng này chịu trách
nhiệm quan lý các cơ quan cấp bộ có liên quan. Điều này có thể coi là
một sự phát triển đột biến trong cơ cấu tổ chức của ASEAN và nó làm
cho cơ cấu tổ chức của ASEAN ngày càng hoàn thiện hơn.
Sự tiến triển nhận thức về lộ trình tiến tới cộng đồng.
Nếu ban đầu ASEAN phải mất đến 30 năm (1967-1997) để xác
định chuyển từ Hiệp hội sang Cộng đồng thì chỉ cần thêm 10 năm
(1997-2007), ASEAN đã xác định được mô hình và cách thức hoạt động

17
của Cộng đồng ASEAN. Nếu trong sáu năm từ 1997 đến 2003, ASEAN
xác định sẽ xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2020 thì chỉ trong
hai năm từ 2005 đến 2007 ASEAN lại quyết định hoàn thành Cộng đồng
ASEAN vào năm 2015. “Chính trị tốc độ” đã thể hiện quyết tâm mạnh
mẽ hơn bao giờ hết và quan trọng là không thể đảo ngược được của các
nhà lãnh đạo ASEAN đối với việc đẩy mạnh hội nhập khu vực và xây
dựng một cộng đồng các quốc gia và dân tộc ở Đông Nam Á. Như Tổng

khu vực, bổ sung "phương tiện mặc cả" cho việc theo đuổi chính sách
"cân bằng nước lớn" của ASEAN, mặt khác cũng làm khó dễ trong việc
lựa chọn và ưu tiên đối tác và quan hệ bạn hàng với từng nước lớn; có
thể gây tổn thương đến tình đoàn kết và thống nhất lập trường chung của
ASEAN, làm tăng xu hướng “ly tâm”, “đi riêng lẻ” trên một số vấn đề,
kể cả chính trị và an ninh. Hơn nữa, sự nổi lên của Trung Quốc và ấn
Độ, sự gia tăng Hợp tác Đông á theo cơ chế ASEAN +1, ASEAN +3,
v.v. có thể làm giảm đi sức hấp dẫn của ASEAN với tư cách là một khu
vực kinh tế năng động và giữ vai trò chủ đạo trong các nỗ lực hợp tác
khu vực. Ngoài ra, Ngoài các tác động trên, sự tái chạy đua vũ trang và
đề cao sức mạnh quân sự cùng với sự gia tăng tranh chấp chủ quyền lãnh
hải, tài nguyên thiên nhiên, khủng bố bạo lực và ly khai dân tộc trên quy
mô toàn cầu cũng ảnh hưởng tiêu cực đến nỗ lực hợp tác đa phương
trong ASEAN, nhất là đối với các nước thành viên mới.
Điểm yếu khó vượt qua nhất của ASEAN là tính chất hợp tác
lỏng lẻo, thiếu sự ràng buộc về mặt pháp lý vẫn tiếp tục duy trì các
nguyên tắc cơ bản của Hiệp hội như không can thiệp, đồng thuận, chưa
nhận thức và hành động đúng mức về sự cần thiết phải thúc đẩy LKKV.
Tiếp đến, các nước ASEAN chủ yếu còn là những nước nghèo,
thiếu lực hướng tâm, chưa đủ nguồn tài chính để giúp các thành viên
mới kém phát triển hơn. .

19
Các kịch bản của Cộng đồng kinh tế ASEAN
Khả năng thứ nhất là hội nhập như kế hoạch đã định ra hiện nay.
Tức là AEC sẽ chỉ dừng lại ở mức độ FTA cộng sẽ được hoàn thành vào
năm 2015.
Khả năng thứ hai là hội nhập sâu hơn. Điều này có nghĩa là AEC
sẽ phát triển lên các nấc cao hơn của liên kết kinh tế khu vực chứ không
chỉ dừng lại ở FTA+.

Tác động tích cực
+ Thúc đẩy tăng trưở ng kinh tế và tham gia phân công lao độ ng
quố c tế củ a Việ t Nam
+ Thúc đẩy cải cách thể chế kinh tế
Tác động tiêu cực
Tham gia AEC sẽ ả nh hưở ng đế n quyề n tự quyế t củ a Việ t Nam
trong mộ t số chính sá ch kinh tế , đặ c biệ t nế u trong tương lai AEC có thể
trở thà nh mộ t liên minh thuế quan hay thị trườ ng chung ASEAN. .
Việ t Nam phả i chịu sứ c é p cạ nh tranh lớ n hơn từ cá c nề n kinh tế
khác của AEC trong điều kiện không cân sức , gây ra mộ t số khó khăn
thiệ t hạ i cho nề n kinh tế Việ t Nam khi quy mô nề n kinh tế cò n nhỏ bé và
năng lự c cạ nh tranh chưa đá p ứ ng đượ c yêu cầ u phá t triể n , chênh lệ ch
của Việt Nam với các nước ASEAN 6 còn khoảng cách lớn.
Sự chênh lệ ch phá t triể n thể hiệ n ở quy mô vố n củ a cả nề n kinh
tế và cá c doanh nghiệ p , trình độ khoa học công nghệ và t ay nghề lao
độ ng khiế n cho nề n kinh tế Việ t Nam có sứ c cạ nh tranh ké m và chưa
muố n mở cử a nhanh để cạ nh tranh vớ i cá c nề n kinh tế trong khu vự c. .
3.2. Kiến nghị về quan điểm và định hƣớng tham gia của Việt Nam
vào cộng đồng ASEAN và AEC
Về quan điểm:

21
* Thay đổi nhận thức về vai trò của ASEAN trong hội nhập kinh tế quốc
tế của Việt Nam
* Thay đổi nhận thức về cách thức tham gia và thực hiện các cam kết
với ASEAN
Vì vậy, khi đặt liên kết kinh tế ASEAN vào tâm điểm của các
liên kết khu vực ở phạm vi rộng lớn hơn cần thấy được rằng:
Thứ nhất, thúc đẩy hội nhập kinh tế ASEAN sẽ là m cho khu vự c
Đông Nam Á , trong đó Việ t Nam đang đượ c coi là mộ t trong nhữ ng

nhập thành công; còn hội nhập bên ngoài là yếu tố thúc đẩy cải cách.
Tác động tích cực hay tiêu cực của hội nhập quốc tế phụ thuộc phần lớn
vào mức độ chuẩn bị sẵn sàng tiếp nhận nó như thế nào. Nhanh chóng
mở toang cửa nền kinh tế (chỉ có hội nhập mà không có cải cách) có thể
sẽ gây ra thua thiệt, hay chỉ đợi cải cách xong mới hội nhập thì cải cách
sẽ rất lâu vì không có động lực và bỏ lỡ cơ hội phát triển nhanh.
Bài học tham gia ASEAN của Việt Nam cho thấy ASEAN có rất
nhiều sáng kiến hợp tác; có những sáng kiến phải lâu mới thành hiện
thực,
1
có những sáng kiến lại được triển khai rất nhanh và liên tục rút
ngắn lộ trình.
2
Đối với những sáng kiến có thời hạn thực hiện lâu, Việt
Nam có thể tận dụng thời gian để tiến hành cải cách, đối với những sáng
kiến phải thực hiện nhanh, Việt Nam sẽ phải ưu tiên hội nhập.

1
như quá trình phát triển từ PTA năm 1977 tới AFTA năm 1992
2
như rút ngắn thời gian thực hiện AFTA 5 năm

23
Về định hướng tham gia
* Thố ng nhấ t nhậ n thứ c tích cực về AEC và quá n triệ t quan
điể m tích cự c tham gia AEC
* Thiế t lậ p vai trò chủ chố t trong quá trì nh xây dựng AEC
* Xác định thuận lợi và khó khăn của Việt Nam khi tham gia
AEC
* Tích cự c nghiên cứ u đề xuấ t cá c sá ng kiế n về mô hình và cơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status