MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
i
DANH MỤC CÁC BẢNG
ii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
ii
MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP TÁC KHU VỰC Ở
ĐÔNG NAM Á
7
1.1.
Chủ nghĩa khu vực và các lý thuyết về hội nhập khu vực
7
1.2.
Các kiến giải về cộng đồng từ góc nhìn của chủ nghĩa
kiến tạo xã hội
23
CHƢƠNG II: CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN NHÌN TỪ GÓC
ĐỘ CỦA CHỦ NGHĨA KIẾN TẠO
32
2.1.
Nội dung của cộng đồng kinh tế ASEAN
32
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Diền giải
ASEAN
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
AEC
Cộng đồng kinh tế ASEAN
APSC
Cộng đồng Chính trị-An ninh
ASCC
Cộng đồng Văn hoá – Xã hội
AFTA
Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN
AICO
Chƣơng trình hợp tác công nghiệp ASEAN
AFAS
Hiệp định Khung ASEAN về Dịch vụ
AIA
Khu vực đầu tƣ ASEAN
AIC
Chƣơng trình bổ trợ công nghiệp ASEAN
AIJV
Chƣơng trình liên doanh công nghiệp ASEAN
AIP
Dự án công nghiệp ASEAN
APC
Cộng đồng Châu Á-Thái Bình Dƣơng
AU
Liên minh châu Phi
IMF
Quỹ Tiền tệ Quốc tế
JMM
Hội nghị Liên Bộ trƣởng
MERCOSUR
Khu vực tự do thƣơng mại Nam Mỹ
PTA
Thỏa thuận thƣơng mại ƣu đãi
TPP
Đối tác xuyên Thái Bình Dƣơng
TAC
Hiệp ƣớc thân thiên và hợp tác ASEAN
SEOM
Cuộc họp các quan chức Kinh tế cao cấp
SOM
Cuộc họp các quan chức cao cấp
RTA
Hiệp định tự do thƣơng mại khu vực
WB
Ngân hàng Thế giới
WTO
Tổ chức Thƣơng mại Thế giới
i DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu
Tên bảng biểu
53
ii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Sáng kiến xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), một trong 3 trụ
cột của Cộng đồng ASEAN (Cộng đồng Chính trị-An ninh (APSC), Cộng
đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hoá – Xã hội (ASCC)) đƣợc thông
qua tại Hội nghị thƣợng đỉnh ASEAN lần thứ 9 vào năm 2003.
Tại Hội nghị Thƣợng đỉnh ASEAN lần thứ 12 vào tháng Giêng năm
2007, các nhà lãnh đạo ASEAN đã quyết định rút ngắn thời hạn hoàn thành
Cộng đồng ASEAN, từ năm 2020 xuống còn 2015.
Tháng 11 năm 2008, Hiến chƣơng ASEAN bắt đầu có hiệu lực và trở
thành trụ cột thể chế của Cộng đồng ASEAN. Tại Hội nghị thƣợng đỉnh lần
thứ 14, các nhà lãnh đạo ASEAN đã thông qua bản Kế hoạch Cộng đồng
ASEAN là sự kết hợp của ba bản Kế hoạch Cộng đồng Chính trị - An ninh,
Cộng đồng kinh tế và Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN đến năm 2015
kèm theo kế hoạch thực hiện Sáng kiến hội nhập ASEAN giai đoạn II (2009 –
2015).
Thời hạn hình thành AEC đang đến gần, trong khi đó những khó khăn
và trở ngại trên con đƣờng tiến tới AEC vẫn đang hiện hữu nhƣ chênh lệch
phát triển lớn; sự khác biệt trong thể chế chính trị - xã hội và thiếu ngƣời lãnh
đạo,… Do đó việc nghiên cứu sâu hơn về mô hình của AEC sẽ giúp hiểu sâu
hơn về liên kết kinh tế này để đƣa ra những biện pháp và sáng kiến nhằm thực
Bình luận về AEC còn đƣợc tìm thấy trong phát biểu của các nhà lãnh
đạo các nƣớc tại các hội nghị, diễn đàn khu vực, gần đây nhƣ hội nghị các Bộ
trƣởng kinh tế, các chuyên gia kinh tế và lãnh đạo ASEAN.
Ngoài ra, còn có một số bài viết về AEC đƣợc đăng tải trên Internet cũng
nhƣ báo chí các nƣớc trong khu vực nhƣ Bangkok Post, Asia Times, Strait
Times Các học giả tập trung phân tích, bình luận về triển vọng của AEC, kể
cả các thách thức đối với thể chế này khi trong khu vực đã tồn tại các thể chế
khác nhƣ AFTA, AICO, AFAS và AIA.
Các nghiên cứu trong nƣớc gần đây gồm có Đề án Chính Phủ “ Sự
tham gia của Việt Nam vào Cộng đồng kinh tế ASEAN trong định hướng phát
triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế” tiến hành năm 2006 đã phân tích và
đánh giá mối quan hệ kinh tế, xã hội, ngoại giao của Việt Nam khi tham gia
Cộng đồng kinh tế ASEAN.
Các nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thắng (2006) “Việt Nam và ASEAN:
Những bước hội nhập tiếp theo”; Trần Văn Tùng và Phạm Ngọc Tân (2007)
“Bối cảnh quốc tế và tác động của nó đối với quá trình hình thành AEC” cũng
phân tích những điểm cơ bản ban đầu về bối cảnh, điều kiện và thể chế hình
thành AEC.
Tại Hội thảo quốc tế “ASEAN: Bốn mươi năm nhìn lại và hướng tới” do
Trƣờng Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội tổ
chức ngày 19/7/2007, các học giả trong nƣớc cũng có nhiều bài tham luận có
giá trị dự đoán về cấu trúc an ninh-chính trị ở ASEAN cũng nhƣ tƣơng lai của
các thể chế và diễn đàn đối thoại ở khu vực. Trong số các bài tham luận,
Nguyễn Vũ Tùng (2007) cũng đã bƣớc đầu tiếp cận nhìn nhận hợp tác
ASEAN trong lĩnh vực chính trị và an ninh từ góc độ của chủ nghĩa kiến tạo.
Tiếp theo các nghiên cứu kể trên, cuốn sách “ Cộng đồng kinh tế
ASEAN (AEC): Mục tiêu, nội dung và lộ trình” do Nguyễn Hồng Sơn chủ
biên tổng kết 6 bài học từ việc Việt Nam tham gia vào hợp tác kinh tế
ASEAN và đƣa ra một số khuyến nghị giúp Việt Nam tham gia AEC có hiệu
Trong khuôn khổ nghiên cứu, luận văn sẽ tập trung tìm hiểu cơ sở lý
luận của quá trình hình thành AEC, trên cơ sở đó, đƣa ra khuyến nghị đối với
cách thức tham gia của Việt Nam vào AEC và mô hình hợp tác kinh tế Việt
Nam – ASEAN.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài sẽ:
- Tìm hiểu khung khổ lý thuyết cho quá trình hình thành và phát triển
của “cộng đồng kinh tế” ASEAN;
- Phân tích sự thay đổi nhận thức về hợp tác kinh tế khu vực ở Đông
Nam Á;
- Phân tích sự thay đổi nhận thức về định hƣớng tham gia của Việt Nam
trong quá trình xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN;
- Đƣa ra một số khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao hiệu quả tham
gia vào AEC của Việt Nam.
3.3. Câu hỏi nghiên cứu
Cần nhìn nhận quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng kinh
tế ASEAN như thế nào?
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn.
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Quá trình hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN nhìn dƣới góc độ lý
thuyết.
4.2. Phạm vi nghiên cứu luận văn
Đề tài đi sâu nghiên cứu sự hình thành Cộng đồng liên kết kinh tế
ASEAN từ khi thành lập năm 2003 đến tháng 6/2012 (thời điểm dự kiến kết
thúc đề tài).
Vấn đề nghiên cứu chính là sự thay đổi nhận thức trên hai khía cạnh:
- Về hợp tác kinh tế khu vực ở Đông Nam Á;
- Về sự tham gia của Việt Nam vào hợp tác kinh tế ở khu vực Đông
Nam Á.
Chương I : Cơ sở lý luận về hợp tác khu vực ở Đông Nam Á sẽ đƣa ra
khung khổ lý thuyết cho việc nghiên cứu chủ nghĩa khu vực, các kiến giải về
cộng đồng và quá trình hội nhập.
Chƣơng II: Cộng đồng kinh tế ASEAN nhìn từ góc độ của Chủ nghĩa
kiến tạo sẽ phân tích sự hình thành của cộng đồng kinh tế ASEAN cũng nhƣ
triển vọng của liên kết kinh tế này gắn liền với sự thay đổi nhận thức về hợp
tác kinh tế trong khu vực.
Chƣơng III: Một số hàm ý chính sách đối với việc tham gia của Việt
Nam vào Cộng đồng kinh tế ASEAN sẽ đề xuất một số kiến nghị làm cơ sở
cho việc hoạch định chính sách của Việt Nam trong việc tham gia AEC.
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP TÁC KHU VỰC Ở ĐÔNG NAM Á
1. 1 Chủ nghĩa khu vực và các lý thuyết về hội nhập khu vực
Chủ nghĩa khu vực
Trong thế kỷ 20, chủ nghĩa khu vực từng đƣợc nghiên cứu nhiều và tiếp
cận dƣới nhiều góc độ khác nhau. Thí dụ, chủ nghĩa tự do thƣơng mại cho
rằng cần tăng cƣờng liên kết kinh tế khu vực vì các nƣớc sẽ ít gây chiến với
nhau hơn nếu có đƣợc mức độ tùy thuộc lẫn nhau cao về kinh tế và thƣơng
mại. Chủ nghĩa tự do thể chế cho rằng các thể chế quốc tế nhƣ các tổ chức
khu vực tạo ra sự hợp tác cùng có lợi, hạn chế tình trạng vô chính phủ và
những hành động đơn phƣơng, đồng thời thúc đẩy hành động đa phƣơng
trong quan hệ kinh tế và an ninh giữa các nƣớc. Theo chủ nghĩa hiện thực,
trong một hệ thống thế giới vô chính phủ (anarchy), các tổ chức khu vực
đƣợc hình thành nhƣ là hình thức hợp tác bá quyền (cooperative hegemony),
nói một cách khác là liên minh giữa những nƣớc nhỏ với một nƣớc lớn vì lý
do an ninh.
Theo quan điểm truyền thống, Anthony Payne (2003: 213) định nghĩa
chủ nghĩa khu vực “là một dự án do quốc gia đảm nhận nhằm phân định ra
một khu vực cụ thể bên cạnh các đƣờng ranh giới về kinh tế và chính trị.”
khu vực mới
Chủ nghĩa
khu vực truyền thống
Chủ thể
Quản trị
Chính phủ
Hệ thống vận hành bởi
Quá trình
Cấu trúc
Hình thức tổ chức
Mở
Đóng
Quan hệ giữa các thành
viên
Phối hợp
Điều phối
Chuẩn mực
Tín nhiệm lẫn nhau
(trust)
Trách nhiệm giải trình
(accountability)
Mục tiêu
Nâng cao khả năng
(empowerment)
Quyền lực (power)
Chủ nghĩa khu vực mới còn thể hiện qua sự ra đời của hàng loạt thoả
thuận tự do hoá thƣơng mại song phƣơng và khu vực trong vòng 10 năm trở
lại đây khi các vòng đàm phán của WTO về tự do hóa thƣơng mại đa phƣơng
tại Seattle, Cancun và Đôha thất bại. Tính đến tháng 12 năm 2008, đã có
mở cửa và thực thi các cam kết tự do hoá đa phƣơng. Đây là bƣớc mở đầu cho
sự hình thành ý thức về khu vực, tiếp đó là sự hợp tác chủ động giữa các nƣớc
để tạo ra hội nhập khu vực. Chủ nghĩa khu vực là sự hợp tác và hội nhập
chính thức (formal) nhƣ việc hai chính phủ thoả thuận thúc đẩy phát triển
kinh tế hai nƣớc thông qua tự do hoá thƣơng mại và đầu tƣ (Hurrell, 1995:
334). Chủ nghĩa khu vực mới không chỉ là một khái niệm địa lý mà nó còn
thể hiện một quá trình năng động, bao gồm từ sự tập trung của các mối quan
hệ kinh tế cho đến các mối quan hệ về chính trị và văn hóa-xã hội.
Có thể nói, chủ nghĩa khu vực mới là sự lan truyền của chủ nghĩa khu
vực từ châu Âu ra toàn thế giới, thoát ra khỏi những khuôn khổ của các liên
minh chính trị-an ninh trong thời kỳ Chiến tranh lạnh. Một mặt, nó thể hiện
qua sự thành lập của Khu vực tự do thƣơng mại Bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực
tự do thƣơng mại Nam Mỹ (MERCOSUR), Khu vực tự do thƣơng mại vùng
Caribê (CARICOM), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dƣơng, các
ý tƣởng xây dựng Khu vực tự do thƣơng mại toàn châu Mỹ (FTAA), và Cộng
đồng kinh tế Đông Á…Mặt khác, nó kéo theo sự cải tổ của các liên kết khu
vực đã đƣợc hình thành nhƣ liên kết khu vực ở châu Âu để trở thành Liên
minh châu Âu (EU), của Tổ chức thống nhất châu Phi (OAU) để trở thành
Liên minh châu Phi (AU). Đối với Đông Nam Á, chủ nghĩa khu vực mới có
thể đƣợc nhìn nhận thông qua việc chuyển hƣớng hợp tác của ASEAN từ
chính trị sang kinh tế và tiến tới thành lập một cộng đồng.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang tạo ra những hố sâu phân cách giữa
“tính hiện đại” phổ quát và “bản sắc” truyền thống, giữa “phát triển” và “kém
phát triển”, có thể dự đoán rằng sẽ có hai khuynh hƣớng chi phối sự phát triển
và đặc điểm của chủ nghĩa khu vực trong thế kỷ 21. Khuynh hƣớng thứ nhất,
phù hợp với luận điểm của chủ nghĩa kiến tạo xã hội, cho thấy rằng chủ nghĩa
khu vực sẽ ngày càng hƣớng đến một “tính chất khu vực” (regionness) nhiều
hơn. Nói một cách khác, xét dƣới góc độ chính trị-xã hội, chủ nghĩa khu vực
sẽ ngày càng nhấn mạnh vai trò của văn hóa, chuẩn mực (norms) và bản sắc
xã hội công nghiệp, dân chủ, đa nguyên chính trị, sự thống nhất các giá trị tƣ
tƣởng chủ yếu Có thể những điều kiện hội nhập của Chủ nghĩa Chức năng
Mới còn phải tranh luận nhƣng tính điều kiện của hội nhập rõ ràng là cần
thiết.
Nếu con đƣờng hội nhập của Chủ nghĩa Chức năng cổ điển dựa trên sự
hợp tác trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, kỹ thuật và dần dần
tiến tới củng cố nhận thức về hội nhập chính trị thì con đƣờng của Chủ nghĩa
Chức năng mới đƣợc quan niệm bắt đầu bằng các dự án kinh tế lớn. Những
ngƣời theo Chủ nghĩa Chức năng Mới cho rằng điều này dễ đạt đƣợc hơn nếu
các dự án này khái quát đƣợc lợi ích quốc gia trong những lĩnh vực cụ thể mà
không động chạm đến chủ quyền quốc gia. Khi đó, sự hợp tác sẽ không bị tản
mác trong nhiều tổ chức chức năng chuyên môn mà đƣợc tập trung vào các cơ
quan trung ƣơng cũng nhƣ trong giới tinh hoa kinh tế. Trong quá trình này,
chủ quyền quốc gia cũng sẽ đƣợc chuyển dần sang cho những cơ quan mới có
vai trò trung tâm hợp tác. Nhƣ vậy, khác với Chủ nghĩa Chức năng cổ điển,
Chủ nghĩa Chức năng Mới có sự quan tâm nhiều hơn tới xây dựng thể chế và
có xu hƣớng tiến tới thể chế trên quốc gia rõ ràng hơn.
Vai trò của cơ quan trung ƣơng và sự liên hợp lợi ích của giới tinh hoa
kinh tế sẽ giúp hình thành và phát triển quan niệm hội nhập đầu tiên trong
giới lãnh đạo và giới tinh hoa. Cùng với sự tăng cƣờng hội nhập, quan niệm
này sẽ đƣợc phổ biến từ trên xuống đến nhân dân và dần đƣợc củng cố. Con
đường nhận thức hội nhập của Chủ nghĩa Chức năng Mới là quá trình xây
dựng nhận thức từ trên xuống.
Chủ nghĩa Chức năng Mới cũng nhấn mạnh hơn tới khía cạnh chính trị
của hội nhập. Chủ nghĩa Chức năng Mới cho rằng không thể tách các vấn đề
kinh tế-xã hội ra khỏi chính trị cũng nhƣ không thể đặt phúc lợi ra ngoài
quyền lực đƣợc. Bản thân quyết định hội nhập ngay từ đầu đã mang trong
mình một áp lực chính trị lớn. Vì thế, những ngƣời theo Chủ nghĩa Chức năng
Mới chủ trƣơng đẩy mạnh hợp tác để giải quyết các vấn đề chính trị chứ
giữa các thành viên tham gia hội nhập và giữa thể chế chung với thế giới bên
ngoài. Kết quả là EU ngày nay vẫn thƣờng xuyên phải đối phó với bài toán
này.
Chủ nghĩa Liên bang (Federalism)
Lập luận quan trọng của những ngƣời theo Chủ nghĩa Liên bang là cho
rằng liên bang tồn tại cao hơn quốc gia. Khi hội nhập vào liên bang, quốc gia
không còn nữa nhƣng con ngƣời sẽ dễ tồn tại hơn, các di sản quốc gia cũng sẽ
an toàn hơn bởi không còn chiến tranh nữa. Lập luận này có cơ sở lý luận gần
giống với quan điểm của nhà thần học Fransisco de Victoria (1480-1546) cho
rằng sự phân chia thành quốc gia chỉ là thứ nguyên và nhân tạo, bản chất con
ngƣời là thống nhất và cần đặt trên quốc gia. Mục tiêu tối hậu của Chủ nghĩa
Liên bang hoàn toàn trùng với ý kiến của Albert Einstein: “Không có sự cứu
tế nào cho nền văn minh hay cho cả loài ngƣời hơn là việc tạo ra một chính
phủ thế giới”
1
.Mục tiêu này khác hẳn với Chủ nghĩa Chức năng Mới và càng
khác với Chủ nghĩa Chức năng cổ điển.
Những ngƣời theo Chủ nghĩa Liên bang cho rằng nguyên nhân của
xung đột và chiến tranh là do hệ thống đa quốc gia và môi trƣờng quốc tế vô
chính phủ. Các quốc gia vốn có lợi ích quá khác nhau nên dễ xung đột, đặc
biệt là xung đột quyền lực. Môi trƣờng vô chính phủ tạo điều kiện cho xung
đột khi thiếu vắng một chính quyền ở trên các quốc gia để ngăn chặn xung đột
giữa chúng giống nhƣ vai trò của Nhà nƣớc bên trong quốc gia. Việc tập hợp
các quốc gia vào trong thể chế có tính liên bang sẽ làm mất đi những đe doạ
từ bên ngoài cũng nhƣ sẽ tạo nên nhiều giá trị chung và thúc đẩy sự thịnh
vƣợng. Một cơ cấu chính quyền liên bang về mặt chính trị nhƣ vậy sẽ là cơ sở
quan trọng để đạt đƣợc hoà bình khi hạn chế đƣợc tình trạng vô chính phủ.
1
Charles W.Kegley, Jr & Eugene R. Wittkoft, “World Politics: Trends and Transformation”,
quyền quốc gia. Nhƣ vậy, cách thức hội nhập của của Chủ nghĩa Liên bang có
sự khác biệt khá rõ so với Chủ nghĩa Chức năng. Nếu con đƣờng hội nhập của
Chủ nghĩa Liên bang là từ trên xuống thì con đƣờng của Chủ nghĩa Chức
năng là từ dƣới lên. Nếu Chủ nghĩa Liên bang sẵn sàng đối mặt ngay với hội
nhập chính trị thì Chủ nghĩa Chức năng tìm cách tránh né, coi đó nhƣ mục
tiêu lâu dài và tìm cách đạt đƣợc một cách gián tiếp thông qua hội nhập kinh
tế-xã hội. Nếu cách tiếp cận của Chủ nghĩa Liên bang là tổng thể thì Chủ
nghĩa Chức năng là từng phần thông qua hợp tác chức năng. Nếu cách thức
thể chế hoá của Chủ nghĩa Liên bang là xây dựng trực tiếp thể chế siêu quốc
gia có tính bao trùm thì cách thức của Chủ nghĩa Chức năng lại là sự tiệm tiến
thông qua các cơ cấu liên quốc gia có tính chức năng. Nó cũng không giống
Chủ nghĩa Chức năng Mới khi quan tâm nhiều hơn tới khía cạnh chính trị đối
ngoại của hội nhập
Chủ nghĩa Liên bang phản đối mô hình quốc gia thông thƣờng đang tồn
tại. Chính điều này đã gây ra những phê phán mạnh mẽ từ những ngƣời phản
đối Chủ nghĩa Liên bang, đặc biệt là những ngƣời theo chủ nghĩa quốc gia.
Họ cho rằng quốc gia vẫn là hạt nhân và hệ thống quốc gia vẫn là bất biến.
Mặt khác, họ cũng chứng minh bằng việc nhân dân hầu nhƣ không ủng hộ
chủ trƣơng liên bang và điều này cho thấy Chủ nghĩa Liên bang khó đi đƣợc
từ trên xuống dƣới. Bên cạnh đó, họ cũng chỉ ra rằng một kế hoạch nhƣ vậy
cũng tạo ra nguy cơ xung đột giữa lực lƣợng ủng hộ liên bang với lực lƣợng
chủ trƣơng duy trì quốc gia.
Một hình thái hiện đại của Chủ nghĩa Liên bang xuất hiện gần đây là
Chủ nghĩa Siêu quốc gia (Supranationalism). Về cơ bản, Chủ nghĩa Siêu quốc
gia không khác Chủ nghĩa Liên bang. Nó cũng quan tâm tới việc dựa trên luật
pháp và thể chế hoá để lập ra các cơ quan hoạch định chính sách chung cho
các quốc gia thành viên. Có khác chăng chỉ là ở chỗ nó có quan niệm rộng rãi
hơn về cái đích cuối cùng của quá trình hội nhập. Theo đó, thể chế siêu quốc
gia có thể có nhiều mức độ và hình thức chứ không nhất thiết phải là liên
nhất thể mà bao gồm các cá nhân, các nhóm lợi ích, thậm chí là các phe phái
khác nhau; thứ tƣ, những vấn đề quốc tế ngày nay cũng rất đa dạng gồm cả
chính trị-an ninh tới kinh tế, văn hoá, xã hội và nhiều vấn đề phát sinh từ sự
phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các quốc gia. Những ngƣời theo Chủ
nghĩa Đa nguyên coi các vấn đề này đều có vai trò nhƣ nhau.
Cũng dựa trên những luận điểm căn bản của Chủ nghĩa Đa nguyên,
Chủ nghĩa Xuyên quốc gia đã có sự điều chỉnh và phát triển hơn so với Karl
W. Deutsch. Ra đời muộn hơn trong bối cảnh sự phụ thuộc lẫn nhau ngày
càng tăng và sự nổi lên của các chủ thể phi quốc gia, Chủ nghĩa Xuyên quốc
gia nhấn mạnh sự phụ thuộc lẫn nhau thay cho sự tƣơng tác đơn thuần, nhấn
mạnh vai trò ngày càng tăng của các chủ thể phi quốc gia chứ không chỉ ghi
nhận giản đơn về tính đa nguyên của thế giới. Trong đó, hội nhập đƣợc xem
nhƣ kết quả của sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng trong sự tƣơng tác
mạnh mẽ giữa các loại hình chủ thể khác nhau.
Do xuất hiện muộn hơn và lại đƣợc chứng kiến những thực tiễn hội
nhập phong phú đang diễn ra ngày nay, đặc biệt sự phát triển trong công nghệ
thông tin và giao thông vận tải, Chủ nghĩa Xuyên quốc gia dƣờng nhƣ mang
tính toàn diện và thực tiễn cao hơn so với các xu hƣớng lý luận trên. Nếu các
xu hƣớng lý luận trên quan tâm nhiều tới mục đích chính trị của hội nhập
quốc tế còn những thứ khác chỉ là phƣơng tiện thì Chủ nghĩa Xuyên quốc gia
đã xem xét hội nhập theo nhiều góc độ khác nhau, cả về chính trị, kinh tế, xã
hội, cơ cấu thể chế lẫn ý thức cộng đồng. Nếu các xu hƣớng trên quan tâm
nhiều tới việc tìm tòi con đƣờng và cách thức tiến đến hội nhập, Chủ nghĩa
Xuyên quốc gia cho rằng sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng chính là con
đƣờng chủ yếu của hội nhập. Với quan niệm coi hội nhập là mức độ liên kết
đã phát triển tới mức nhất định chứ không phải một hình thức liên kết nào đó,
các học giả của Chủ nghĩa Xuyên quốc gia quan tâm nhiều tới việc đƣa ra
những tiêu chí đánh giá mức độ hội nhập trong các lĩnh vực cơ bản và các tác
động của nó.
Integration). Hội nhập chính sách là hệ thống tập thể trong quyết định chính
2
Robert O. Keohan & Joseph S. Nye, “Interdependence and Integration”, Dẫn theo Paul R. Viotti
& Mark V. Kauppi, “International Relations Theory”, Macmillan Publishing Company, New York,
tr.389.
sách giữa các quốc gia. Do sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng, quyết định
chính sách của quốc gia này sẽ ảnh hƣởng ngày càng nhiều tới quốc gia khác
và toàn bộ hệ thống. Do đó, các nƣớc sẽ tìm cách gây ảnh hƣởng lên chính
sách nƣớc kia và dẫn đến nguy cơ xung đột. Nguy cơ xung đột đã kích thích
hội nhập chính sách. Khi đó, sự phụ thuộc lẫn nhau về chính sách ngày càng
tăng sẽ dẫn đến việc chủ động phối hợp chính sách giữa các quốc gia. Điều
này không chỉ giúp làm giảm nguy cơ xung đột mà còn giúp hạn chế tác động
tiêu cực của sự phụ thuộc lẫn nhau. Theo Robert O. Keohane và Joseph S.
Nye, khi hội nhập chính sách phát triển và đƣợc thể chế hoá, sẽ hình thành
một hệ thống quy tắc và các nƣớc sẽ dễ dàng đạt đƣợc thoả thuận hơn.
Robert O. Keohane và Joseph S. Nye nhấn mạnh đến hội nhập chính
sách hơn là hội nhập thể chế và hội nhập ý thức. Các ông cho rằng mặc dù
chúng có liên quan đến nhau và cùng nằm trong hội nhập chính trị nhƣng hội
nhập thể chế chỉ nên hiểu là hội nhập về cơ cấu, còn hội nhập ý thức chỉ là
mức độ chia sẻ ý thức về tính đồng nhất chung cũng nhƣ chia sẻ về nghĩa vụ.
Thể chế hoá không hoàn toàn là ý nghĩa chính trị của quá trình hội nhập. Mối
quan tâm của các học giả này tới hội nhập về thể chế và thái độ là ở tác động
của chúng tới chính sách quốc gia nhƣ thế nào. ở đây, các ông quan tâm nhiều
tới việc hình thành những luật lệ và nguyên tắc chung hơn là tìm cách thiết
lập một cơ cấu chính quyền chung nhƣ quan niệm của một số trƣờng phái
trên.
Về khả năng thực hiện hội nhập, các tác giả này cũng lập luận rằng
thƣờng chính sách của các chính phủ đi từ trên xuống vào xã hội, còn các giao
liên chính phủ cho rằng các chính phủ quốc gia kiểm soát quá trình hội nhập
và có ảnh hƣởng quyết định đến khả năng gia tăng quyền lực của các thể chế
siêu quốc gia. Stanley Hoffmann (1966) cho rằng hội nhập do các chính phủ
quốc gia tiến hành và bị chi phối bởi các vấn đề kinh tế và chính trị trong
nƣớc và vì thế khả năng “lan truyền hội nhập” là khó khả thi. Hội nhập
thƣờng dễ dàng hơn ở những lĩnh vực chính trị ít nhạy cảm (low politics) song
sẽ trở nên khó khăn hơn đối với những lĩnh vực chính trị quan trọng (high
politics).
Theo Robert Putnam (1988), khi đàm phán và thực thi cam kết quốc tế,
chính phủ sẽ phải xử lý một “Trò chơi hai cấp độ” (two-level game) do phải
cố gắng dung hòa hai quan điểm và lợi ích mâu thuẫn nhau của các đối tác
nƣớc ngoài và các lực lƣợng trong nƣớc. Ở cấp độ quốc tế, chính phủ sẽ cố
gắng đạt đƣợc một thoả thuận với bên ngoài và chứng tỏ nỗ lực nhằm thực
thiện đầy đủ thoả thuận đó. Ở cấp độ trong nƣớc, chính phủ sẽ cố gắng để
thoả mãn yêu cầu của các nhóm lợi ích và để đảm bảo rằng thoả thuận sẽ
đƣợc phê chuẩn. Một mặt chính phủ có thể dùng sức ép bên ngoài để tác động
đến các lực lƣợng trong nƣớc, buộc các lực lƣợng này phải nghiêm chỉnh thực
thi cam kết quốc tế. Mặt khác, chính phủ có thể gây sức ép với các đối tác bên
ngoài bằng cách chứng tỏ rằng các nhóm lợi ích trong nƣớc chỉ có thể chấp
nhận một sự nhƣợng bộ có chừng mực. Tùy từng trƣờng hợp, sức ép từ bên
trong và bên ngoài sẽ khác nhau và chính phủ cần có những ƣu tiên khác nhau
về đối nội hay đối ngoại.
Theo Graham Allison (1971), chính phủ có thể được xem là một tập
hợp gồm các tổ chức liên kết lỏng lẻo với nhau. Các tổ chức này hoạt động
tương đối độc lập, tập trung vào giải quyết một số vấn đề đặc thù, theo những
quy trình riêng và có các lợi ích cục bộ gắn liền với các lĩnh vực và tổ chức
kinh tế do mình quản lý. Việc thực thi các cam kết cụ thể sẽ phụ thuộc vào
hoạt động của từng tổ chức riêng rẽ trong bộ máy chính phủ và mối quan hệ
lợi ích của các tổ chức này với các nhóm lợi ích và thị trường trong nước.