1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
NGUYỄN PHƯỚC THÔNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU
NHÂN LỰC ĐIỀU DƯỠNG TẠI CÁC CƠ SỞ Y TẾ
CÔNG LẬP TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
CẦN THƠ – 2016
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
NGUYỄN PHƯỚC THÔNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU
NHÂN LỰC ĐIỀU DƯỠNG TẠI CÁC CƠ SỞ Y TẾ
tăng cường công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu nhằm đáp ứng những nhu cầu
cơ bản về chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Mạng lưới y tế cơ sở từng bước được
củng cố và phát triển cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc thiết yếu cũng như
về nhân lực. Nhiều chương trình phòng, chống dịch bệnh đã được triển khai rộng
rãi tại cộng đồng đến tới người dân.
4
Trong những năm qua, công tác điều dưỡng của thành phố Cần Thơ đã có
nhiều đóng góp tích cực nhưng về nhân lực vẫn còn một số bất cập nên phần nào
đã ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc. Vì lý do trên chúng tôi thực hiện đề tài
“Nghiên cứu thực trạng và nhu cầu nhân lực điều dưỡng tại các cơ sở y tế
công lập tại thành phố Cần Thơ ” nhằm mục tiêu:
1. Xác định số lượng, trình độ và cơ cấu nhân lực điều dưỡng tại các cơ sở y
tế công lập tại thành phố Cần Thơ năm 2015.
2. Xác định nhu cầu cử nhân điều dưỡng tại các cơ sở y tế công lập tại thành
phố Cần Thơ năm 2015.
5
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác y tế
Từ ngày thành lập nước đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra những
quan điểm và đường lối về công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân cho
mỗi giai đoạn khác nhau của đất nước. Quan điểm chỉ đạo cơ bản xuyên suốt quá
trình phát triển của nền y tế cách mạng Việt Nam đã được khẳng định rõ trong
Nghị quyết Trung ương 4 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về một
nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng căn cứ cách mạng, vùng sâu, vùng xa.
Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi, tỷ lệ tử
vong của bà mẹ có liên quan đến thai sản. Giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do
các bệnh truyền nhiễm, không để xảy ra dịch lớn. Tích cực phòng, chống các
dịch bệnh không do nhiễm trùng, khắc phục hậu quả tai nạn và thương tích. Bảo
đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và an toàn truyền máu [5]. Hoàn chỉnh quy
hoạch, củng cố và nâng cao mạng lưới y tế cơ sở, có bác sĩ làm việc ở tất cả các
trạm y tế xã đồng bằng và trung du, phần lớn các xã miền núi. Nâng cấp bệnh
viện tỉnh, huyện… Tiêu chuẩn hoá và tăng cường đào tạo cán bộ y tế, chú ý
người dân tộc thiểu số; phân bố cán bộ theo vùng phù hợp nhu cầu. Khuyến
khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển các cơ sở khám, chữa bệnh,
chăm sóc sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu đa dạng của xã hội .
7
1.2. Tình hình nhân lực y tế và phát triển nhân lực y tế
1.2.1. Khái niệm nhân lực y tế
Theo WHO năm 2006 “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham
gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe”. Nó bao gồm cán bộ y
tế chính thức và cán bộ không chính thức (như tình nguyện viên xã hội, những
người chăm sóc sức khỏe gia đình, lang y…); kể cả những người làm việc trong
ngành y tế và trong những ngành khác (như quân đội, trường học hay các doanh
nghiệp) [8], [42].
Theo định nghĩa này của WHO, ở Việt Nam “Nhân lực y tế” sẽ bao gồm
các cán bộ, nhân viên y tế thuộc biên chế và hợp đồng đnag làm trong hệ thống y
tế công lập, các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y, dược và tất cả những
người khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ CSSK
nhân dân (nhân lực y tế tư nhân, các cộng tác viên y tế, lang y và bà đỡ/mụ
vườn) [13].
Phát triển đội ngũ nhân lực y tế có chất lượng, cơ cấu và phân bố hợp lý
được Bộ Y tế xác định là mục tiêu chính trong Quy hoạch phát triển nhân lực
giai đoạn 2011–2020 [10].
Kế hoạch bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn
2011–2015 đã được Bộ Y tế phê duyệt, đặt ra chỉ tiêu đến 2015 80% số xã có bác
sỹ làm việc; trên 95% số xã có nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi, phấn đấu 90% số
thôn bản trong toàn quốc có nhân viên y tế hoạt động [11]. Quy định mới với các
nội dung cụ thể hơn về chức năng, nhiệm vụ của nhân viên y tế thôn bản được
9
ban hành [12], giúp nhân viên y tế thôn bản hiểu rõ hơn nhiệm vụ, quyền lợi của
mình và các cơ quan quản lý có thể tổ chức tốt hơn mạng lưới y tế thôn bản.
Nghiên cứu nguồn nhân lực phải đặt trong quá trình quản lý nguồn nhân
lực. Do đó, không thể chỉ chăm chú vào phát triển nguồn nhân lực bằng cách
chăm lo đào tạo con người, mà không quan tâm đến việc tổ chức quản lý, sắp
xếp công việc phù hợp cho con người lao động và tạo môi trường làm việc [24].
Nguồn nhân lực y tế: Là nguồn toàn bộ những người lao động dưới dạng
tích cực và tiềm năng được đào tạo dưới các dạng khác nhau hoạt động trong
lĩnh vực y tế.
Nguồn nhân lực y tế là yếu tố thiết yếu nhất cho sự phát triển hệ thống
cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ trong đó bao gồm: Các dịch vụ khám
chữa bệnh, phòng bệnh, phục vụ chức năng, sản xuất và phân phối thuốc, những
người làm công tác đào tạo cán bộ trong lĩnh vực khoa học sức khoẻ và người
quản lý các dịch vụ y dược, các cá nhân có thẩm quyền ra chính sách [25].
Khi nói nguồn nhân lực y tế cần chú ý đến cả hai khu vực y tế tư nhân và y
tế công lập. Phát triển nguồn nhân lực y tế vừa nằm trong tổng thể phát triển hệ
thống y tế, vừa nằm trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực con người của
đất nước, hơn nữa đây là loại hình dịch vụ đặt biệt vì bất kỳ người nào là công
ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ hiện tại và tương lai [17].
Đổi mới, xây dựng các chính sách, cơ chế, công cụ để quản lý hiệu quả
nguồn nhân lực y tế như qui trình hoạt động chuẩn, bản mô tả chức năng, nhiệm
vụ, vị trí việc làm, theo dõi, giám sát, đánh giá kết quả hoạt động của nhân lực y
11
tế, thực hiện chế độ đãi ngộ gắn với mức độ hoàn thành công việc, Có chính sách
ưu tiên về giáo dục, đào tạo tuyển dụng, và sử dụng nhân lực y tế cho các chuyên
khoa khó tuyển và vùng khó khăn, y tế các tuyến huyện, xã. Coi trọng hơn nữa
công tác tuyển dụng và sử dụng nhân lực y tế, nâng cao năng lực cho cán bộ
quản lý, có các chính sách để bảo vệ quyền lợi và rủi ro nghề nghiệp cho viên
chức y tế, cải thiện môi trường, điều kiện làm việc cho viên chức y tế, đặc biệt ở
chuyên ngành khó tuyển, vùng khó khăn, và y tế cơ sở [40].
Quản lý nhân lực là một trong năm quản lý cả ngành y tế: Quản lý kế
hoạch, quản lý cơ sở vật chất, quản lý tài chính, quản lý nhân lực và quản lý về
khoa học kỹ thuật. Quản lý nhân sự y tế là quản lý về số lượng, chất lượng cán
bộ y tế ở mỗi lĩnh vực: y, nha, dược, y tế dự phòng, với từng đối tượng phục vụ:
bác sĩ, dược sĩ, bác sĩ răng hàm mặt…[14]. Ứng với từng đối tượng lại có đối
tượng khác hỗ trợ về chăm sóc chuyên môn tương ứng, đó chính là lực lượng
điều dưỡng, kỹ thuật viên các chuyên ngành và các đối tượng này lại phù hợp
với chuẩn quy định của nhà nước, của ngành như ứng với một vạn dân có bao
nhiêu bác sĩ, bao nhiêu dược sĩ…. Và cứ ứng với một bác sĩ là có bao nhiều điều
dưỡng phục vụ.
Mặt khác, quản lý nhân lực ngành y tế còn phụ thuộc vào đặc điểm của
từng điạ phương: Thành thị, nông thôn, vùng sâu, vùng xa, của tỉnh, huyện, xã,
thôn, ấp, mà có sự phân bổ một cách thích hợp và khi nói đến yếu tố con người
trong quản lý còn phải nói đến vấn đề khả năng, tình cảm, tâm tư, nguyện vọng
của các đối tượng cần phải quản lý. Từ đó, có những kế hoạch, chính sách hợp
2010, trường Cao đẳng Y tế Nghệ An được chính thức nâng cấp thành trường
13
Đại học Y khoa Vinh với nhiệm vụ chính là đào tạo nhân lực y tế cho khu vực
miền trung.
Các trường y dược năm qua đã tăng số lượng tuyển sinh chính quy, triển
khai các hình thức đào tạo đặc biệt, tiếp tục triển khai kiểm định đào tạo và đổi
mới công tác giáo dục.
Số lượng tuyển sinh bậc đại học và sau đại học tăng rõ rệt. Ở bậc đại học,
chỉ tiêu đào tạo đại học đã tăng từ 6360 (năm 2004) lên tới 16 905 (năm 2010).
Đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ, bác sỹ nội trú, bác sỹ chuyên khoa I và chuyên khoa II
cũng tăng. Chỉ tiêu đào tạo sau đại học năm 2004 là 3098 học viên, đến năm
2010 lên tới 5170 [37].
Biểu đồ 1.1: Chỉ tiêu đào tạo bậc đại học và sau đại học khối ngành khoa
học sức khỏe, 2004–2010
Tổng số sinh viên đại học khối ngành khoa học sức khỏe tốt nghiệp đại
học năm 2010 là 7.897. Với các loại hình nhân lực y tế cơ bản là bác sỹ, dược sỹ
đại học và điều dưỡng, số lượng sinh viên tốt nghiệp hằng năm đã tăng khá
nhanh. Năm 2008, có 2365 sinh viên y khoa, 817 sinh viên dược đại học và 790
sinh viên điều dưỡng tốt nghiệp. Năm 2010, đã có 4069 sinh viên y khoa, 1583
sinh viên dược đại học và 1710 sinh viên điều dưỡng tốt nghiệp, tức là khoảng
14
gấp đôi năm 2008. Các con số này cho thấy nguồn cung ứng nhân lực y tế đã
được cải thiện đáng kể. Số lượng sinh viên tốt nghiệp cũng tăng ở các loại hình
quản lý hành chính nhà nước, nghiệp vụ. Kế hoạch đào tạo được xây dựng chủ
yếu dựa trên đề nghị của các đơn vị. Hình thức đào tạo chủ yếu là các lớp đào tạo
ngắn hạn tập trung [36].
Các trường đại học y, các bệnh viện lớn thường xuyên tổ chức các khóa
đào tạo định hướng chuyên khoa, đào tạo các kỹ thuật tiên tiến theo nhu cầu của
người học và các cơ sở y tế. Các khóa tham quan, học tập ngắn hạn ở nước ngoài
theo nguồn tiền trong nước và hỗ trợ quốc tế được thực hiện nhưng với số lượng
hạn chế.
1.3 Tình hình nhân lực điều dưỡng
1.3.1 Một số định nghĩa về điều dưỡng
Theo Nightingale năm 1860: “Điều dưỡng là một nghệ thuật sử dụng môi
trường của người bệnh để hỗ trợ sự phục hồi của họ”.
Theo Virginia Handerson năm 1960: “Chức năng duy nhất của người điều
dưỡng là hỗ trợ các hoạt động nâng cao hoặc phục hồi sức khỏe của người bệnh
hoặc người khỏe, hoặc cho cái chết được thanh thản mà mỗi cá nhân có thể tự
thực hiện nếu cho họ đạt được sự độc lập càng sớm càng tốt”.
Theo Hội điều dưỡng Mỹ năm 1980: “Điều dưỡng là chẩn đoán và điều trị
những phản ứng của con người đối diện với bệnh hiện tại hoặc bệnh có tiềm
năng xảy ra”.
Theo từ điển Tiếng Việt, nhà xuất bản khoa học xã hội năm 1999: “Điều
dưỡng là người có trình độ trung cấp trở xuống và chăm sóc người bệnh theo y
16
lệnh bác sĩ” [42]. Ta nhận thấy rằng, sức khỏe là vốn quý của mỗi con người, là
động lực quan trọng phất triển kinh tế - xã hội vì vậy chúng ta cần quan tâm đến
sức khỏe bằng hoạt động chăm sóc của y tế, vì thế chúng ta cần có góc nhìn mới
về điều dưỡng để phản ánh đầy đủ vai trò và vị trí người điều dưỡng, nghề điều
dưỡng trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân hiện nay.
với người và đề thúc đẩy sự phát triển của mỗi người. Tư vấn đòi hỏi người điều
dưỡng phải có kỹ năng phân tích tình hình, tổng hợp thông tin và đánh giá quá
trình tiến triển của người bệnh sau khi đã được tư vấn.
1.3.2.5 Người biện hộ cho người bệnh
Biện hộ nghĩa là hành động thay mặt hoặc bảo vệ quyền lợi cho người
khác. Vì vậy, biện hộ nghĩa là bảo vệ quyền lợi chính đáng của người bệnh, thúc
đẩy những hành động mang lại kết quả tốt nhất cho sự phục hồi sức khỏe của
người bệnh, bảo đảm cho những nhu cầu của người bệnh được đáp ứng một cách
thích hợp [28].
1.3.3 Chương trình hành động quốc gia về tăng cường công tác điều dưỡng,
hộ sinh và kỹ thuật viên từ nay đến năm 2020
Mục tiêu chung: đến năm 2020, dịch vụ chăm sóc sức khỏe do điều
dưỡng viên, hộ sinh viên cung cấp đảm bảo an toàn, chất lượng, đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của nhân dân và sự hài lòng của người bệnh tại các cơ sở khám
chữa bệnh; ngành điều dưỡng và hộ sinh phát triển đạt theo chuẩn nghề nghiệp
khu vực và quốc tế; gồm các mục tiêu cụ thể sau:
18
Mục tiêu 1: Tăng cường chất lượng dịch vụ điều dưỡng, hộ sinh nhằm
đảm bảo an toàn, hiệu quả và tăng cường sự hài lòng của người bệnh, người nhà
người bệnh và cộng đồng.
Mục tiêu 2: Hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm tính tự chủ, độc lập
và vị thế của nghề điều dưỡng, hộ sinh trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, quản
lý và điều hành công tác điều dưỡng và hộ sinh ở các cấp được xây dựng và hoàn
thiện theo khuyến cáo quốc tế.
Mục tiêu 3: Tăng cường nguồn nhân lực điều dưỡng, hộ sinh cả về số
lượng và chất lượng, cơ cấu trình độ phù hợp, ưu tiên nhân lực cho khu vực khó
khăn, bảo đảm cân đối giữa thực hiện thỏa thuận công nhận lẫn nhau trong khu
y học còn quá thấp so với yêu cầu và Quyết định 153 của Thủ tướng Chính phủ
năm 2006 [28], [38].
1.4.2 Về trình độ cán bộ y tế
Bác sĩ có trình độ sau đại học 31,73%, trong đó chuyên khoa I chiếm 27,
94%, chuyên khoa II chiếm 1,15%. So với các vùng miền khác trong nước tỷ lệ
bác sĩ chuyên khoa II còn quá thấp.
Dược sĩ đại học có 368 người, chiếm 20,06%,chủ yếu là chuyên khoa cấp
I. Khu vực Miền Trung và Tây Nguyên tỷ lệ dược sĩ sau đại học chiếm 28%.
Điều dưỡng trình độ cao đẳng và đại học chiếm 2,05%, kỹ thuật y học
trình độ cao đẳng và đại học chiếm 17,07% [29].
1.4.3 Về cơ cấu đội ngũ cán bộ y tế
Hiện nay, các tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng Sông Cửu Long có gần 18
triệu dân, trung bình 10.000 dân có 4,81 bác sĩ; 0,21 dược sĩ đại học; 0,16 cử
nhân điều dưỡng và 0,12 cử nhân kỹ thuật y học.
20
Trong 13 tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng Sông Cửu Long có 104 quận,
huyện và 1.554 xã, phường. Dược sĩ đại học làm việc ở tuyến huyện là 85 người,
như vậy có khoảng 20 huyện chưa có dược sĩ đại học. Bác sĩ hiện đang công tác
ở tuyến xã là 1260 người. Nếu tính mỗi xã có 1 bác sĩ thì hiện nay đã có 80% số
xã, phường, thị trấn có bác sĩ, đạt được đủ tiêu chuẩn theo Quyết định 153 của
Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên bác sĩ làm việc tại tuyến xã lại không đều giữa
các tỉnh như Kiên Giang có 142 xã, phường, thị trấn, trong đó chỉ có 74 bác sĩ
làm việc tại xã; Hậu Giang có 69 xã, phường, thị trấn chỉ có 20 bác sĩ làm việc
tại tuyến xã [28].
1.5 Một số nghiên cứu về nguồn nhân lực y tế
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hà năm 2011 về nguồn nhân lực điều
dưỡng – hộ sinh tỉnh Đồng Nai và nhu cầu năm 2015 ghi nhận kết quả như sau:
NVYT/giường bệnh thực kê (GBTK); Từ 75 – 93,2% không đạt về tỷ lệ các khối
chuyên môn. Tỷ lệ khối lâm sàng (LS) thường vượt mức quy định trong khi khối
hành chính giảm tỷ lệ và khối cận lâm sàng (CLS)– dược thiếu nghiêm trọng. Tỷ
số bác sĩ (BS) và điều dưỡng (ĐD)– nữ hộ sinh (NHS) – kỹ thuật viên (KTV)
không đạt và vượt mức quy định chiếm tỷ lệ cao trong khi tỷ số dược sĩ (DS) đại
học và BS rất thấp. CSSD GB phần lớn không đạt ở mức tối ưu (85% - 90%)
[20].
22
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu bao gồm lãnh đạo các đơn vị y tế công lập của
thành phố Cần Thơ và các trưởng/ phó phòng tổ chức cán bộ hoặc người trực
tiếp phụ trách nhân sự của đơn vị.
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
Lãnh đạo các đơn vị y tế công lập của thành phố Cần Thơ và các trưởng/
phó phòng tổ chức cán bộ hoặc người trực tiếp phụ trách nhân sự của đơn vị năm
2015.
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
Các cơ sở y tế công lập không có chức danh điều dưỡng.
Các cơ sở y tế tư nhân, y tế cơ quan, y tế trường học.
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Các cơ sở y tế công lập trong thành phố Cần Thơ.
Thời gian nghiên cứu năm 2015.
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Bệnh viện Đa khoa huyện Thới Lai
Trung tâm y tế huyện Cờ Đỏ
Trung tâm y tế huyện Bình Thủy
24
Trung tâm Y tế dự phòng Quận – Huyện: 7 đơn vị
Trung tâm Y tế dự phòng quận Ninh Kiều
Trung tâm Y tế dự phòng quận Ô Môn
Trung tâm Y tế dự phòng quận Cái Răng
Trung tâm Y tế dự phòng quận Thốt Nốt
Trung tâm Y tế dự phòng huyện Phong Điền
Trung tâm Y tế dự phòng huyện Vĩnh Thạnh
Trung tâm Y tế dự phòng huyện Thới Lai
Như vậy, toàn thành phố có 29 đơn vị được chọn khảo sát.
2.2.3. Nội dung nghiên cứu
2.2.3.1 Số lượng nhân lực điều dưỡng
−
Giới tính
+ Nam
+ Nữ
−
Dân tộc
+ Kinh
+ Khmer
Số lượng nhân lực điều dưỡng theo đơn vị công tác
2.2.3.2 Trình độ nhân lực điều dưỡng
Trình độ điều dưỡng là văn bằng cao nhất hiện có thuộc lĩnh vực chuyên
môn đang công tác gồm:
+ Sơ cấp
+ Trung cấp
+ Cao đẳng
+ Đại học
+ Sau đại học
+