Nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực dược bệnh viện và xác định nhu cầu nhân lực dược sĩ tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, huyện trong giai đoạn hiện nay - Pdf 26

i BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
TRẦN BÁ KIÊN NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG
NGUỒN NHÂN LỰC DƢỢC BỆNH
VIỆN VÀ XÁC ĐỊNH NHU CẦU NHÂN
LỰC DƢỢC SĨ TẠI CÁC BỆNH VIỆN ĐA
KHOA TUYẾN TỈNH, HUYỆN TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƢỢC HỌC

HÀ NỘI, NĂM 2015
ii

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI


iv

LỜI CẢM ƠN
Luận án được hoàn thành là kết quả nỗ lực, cố gắng của bản thân và sự
giúp đỡ, động viên và cổ vũ của rất nhiều người đã luôn đồng hành bên tôi.
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN 3
1.1. NGUỒN NHÂN LỰC DƢỢC 3
1.1.1. Một số khái niệm 3
1.1.2. Quản trị nguồn nhân lực 6
1.1.3. Vị trí, vai trò của dƣợc sĩ và dƣợc sĩ công tác tại BV 7
1.2. THỰC TRẠNG NHÂN LỰC DƢỢC 10
1.2.1. Thực trạng nhân lực dƣợc ở một số nƣớc 10
1.2.2. Thực trạng nhân lực dƣợc tại Việt Nam 13
1.3.1. Nhu cầu dƣợc sĩ ở một số nƣớc 18
1.3.2. Nhu cầu dƣợc sĩ ở Việt Nam 20
1.4.SỰ HÀI LÒNG VÀ HÀI LÒNG CỦA DƢỢC SĨ VỚI CÔNG VIỆC 23
1.4.1. Khái niệm về sự hài lòng với công việc 23
1.4.2. Tầm quan trọng của sự hài lòng đối với công việc 23
1.4.3. Mối liên quan giữa sự hài lòng với công việc và sự thiếu hụt dƣợc sĩ 25
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
31
2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU 31
2.2.PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.2.1. Mô hình thiết kế nghiên cứu 31
2.2.2. Các biến số nghiên cứu 31
2.2.3. Mẫu nghiên cứu 37
2.2.4. Phƣơng pháp thu thập, xử lý và phân tích số liệu 39
2.3.HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU, SAI SỐ VÀ BIỆN PHÁP KHẮC
PHỤC 45
vi

1. KẾT LUẬN 139
1.1. Thực trạng nhân lực dƣợc bệnh viện 139
1.2. Nhu cầu dƣợc sĩ tại BVĐK 140
vii

1.3. Sự hài lòng đối với công việc của dƣợc sĩ 140
2.KIẾN NGHỊ 141
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
viii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BR-VT
Bà Rịa - Vũng Tàu
BS
Bác sỹ
BTB và DHMT
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung
BV
Bệnh viện
BVĐK
Bệnh viện đa khoa
CB
Cán bộ
CBYT
Cán bộ y tế

Cao đẳng


Giám đốc
KV
Khu vực
ix

KNDPMP
Kiểm nghiệm dược phẩm mỹ phẩm
KTV
Kỹ thuật viên
Mã TM
Mã tiểu mục
MN&TDPB
Miền núi và trung du phía Bắc
NNL
Nguồn nhân lực
NVYT
Nhân viên y tế
PGĐ
Phó giám đốc
QLHNYDTN
Quản lý hành nghề y dược tư nhân
SL
Số lượng
TCCB
Tổ chức cán bộ
TKD
Trưởng khoa dược
ThS
Thạc sỹ

Bảng 1.7. Dự kiến nhu cầu nhân lực dược ở Mỹ 19
Bảng 1.8. Ước tính nhu cầu DS cần đào tạo hàng năm đến 2020 21
Bảng 2.1. Các biến số nghiên cứu 32
Bảng 2.2. Khu vực địa lý được khảo sát thực trạng nhân lực dược 37
Bảng 2.3. Chỉ số phân tích thực trạng nhân lực dược 39
Bảng 2.4. Kết quả thu thập phiếu phỏng vấn dược sĩ 43
Bảng 3.1. Cơ cấu nhân lực dược BVĐK tuyến tỉnh theo hạng BV 47
Bảng 3.2. Cơ cấu nhân lực dược BVĐK tuyến tỉnh theo khu vực địa lí 48
Bảng 3.3. Cơ cấu nhân lực dược BVĐK tuyến tỉnh ở các thành phố trực
thuộc TW 49
Bảng 3.4. Phân bố dược sĩ theo GB và BS theo hạng BV 51
Bảng 3.5. Phân bố dược sĩ theo GB và BS theo khu vực 51
Bảng 3.6. Phân bố DS theo GB và BS ở các thành phố trực thuộc TW 52
Bảng 3.7. Cơ cấu nhân lực dược BVĐK tuyến huyện theo khu vực 53
Bảng 3.8. Cơ cấu nhân lực dược BVĐK tuyến huyện ở các thành phố trực
thuộc TW 54
Bảng 3.9. Phân bố dược sĩ BVĐK tuyến huyện theo GB và BS 56
Bảng 3.10. Phân bố dược sĩ BVĐK tuyến huyện theo GB, BS ở các thành
phố trực thuộc TW 57
Bảng 3.11. Phân tích số DS tại các BVĐK tuyến huyện toàn quốc 57
Bảng 3.12. Phân tích số DS tại các BVĐK tuyến huyện khu vực ĐBSH. 58
xi

Bảng 3.13. Phân tích số DS tại các BVĐK tuyến huyện khu vực
MN&TDPB 59
Bảng 3.14. Phân tích số DS tại các BVĐK tuyến huyện khu vực
BTB&DHMT 60
Bảng 3.15. Phân tích số DS tại các BVĐK tuyến huyện khu vực TN 61
Bảng 3.16. Phân tích số DS tại các BVĐK tuyến huyện khu vực ĐNB 62
Bảng 317. Phân tích số DS tại các BVĐK tuyến huyện khu vực ĐBSCL62

Bảng 3.43. Sự hài lòng của DS đối với nhân tố Điều kiện làm việc 97
Bảng 3.44. Sự hài lòng của DS đối với nhân tố Đào tạo 98
Bảng 3.45. Mối liên quan giữa sự hài lòng của DS với các đặc điểm cá nhân
99
Bảng 3.46. Kết quả phân tích ANOVA 101
Bảng 3.47. Kết quả mô hình hồi quy 101
Bảng 3.48. Kết quả phân tích hồi quy 101
Bảng 3.49. Các yếu tố chính đáp ứng sự hài lòng của dược sĩ BV 103 xiii DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ


dụng nhân lực dược không ngừng gia tăngbởi số lượng thuốc mới, nhu cầu chăm
sóc sức khoẻ người dân ngày một cao [61], [120]. Nhân lực dược là xương sống
củangành dược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Vì vậy, việc đào tạo và sử dụng
nhân lực dược phải đáp ứngnhu cầu của hiện tại và tương lai vì sự phát triển liên
tục của ngành nghề.
Ngày nay,vai tròvàtrách nhiệm của đội ngũ nhân lực dược, đặc biệt là
dược sĩ, khôngchỉlàm nhiệm vụphân phátthuốcmà còn thực hiện việc cung cấp
dịch vụ chăm sóc,lấybệnh nhân làm trung tâmnhư cung cấpthông tin thuốc, tư
vấn vàkhuyến cáo phương phápđiều trị bằng thuốc, tức làdược sĩcũnglà những
chuyên giasức khỏe ban đầu. Trên thế giới, các nước Mĩ, Anh,Pháp, Úc,
TháiLan và một số nước khác đều đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt dược sĩ
trong lĩnh vực dược bệnh viện ở hiện tại và tương lai[83], [100].
Tại Việt Nam, các báo cáo cho thấy, NNL dược trong vài năm gần đây vẫn
còn thiếu và tồn tại nhiều vấn đề bất cập. Năm 2010 trung bình cả nước có 1,74
DS/10.000 dân. Tuy nhiên,có phân bố không đồng đều dược sĩ giữa thành thị và
nông thôn, giữa các vùng miền, đặc biệt tình trạng thiếu hụt dược sĩ ở vùng nông
thôn,vùng sâu, vùng xa [11].
Số dược sĩ mới ra trường trong cả nước hàng năm đều tăng ở các cơ sở
đào tạo. Thực tế, đang có sự chuyển dịch không thích hợp dược sĩ trong toàn
quốc, tăng ở hệ thống tư nhân và giảm ở hệ thống nhà nước. Do vậy, có những
tỉnh, nhiều năm không có thêm dược sĩ về nhận công tác. Hiện nay, quá tải
bệnhviện xảy ra ở các tuyến TW có xu hướng gia tăng, trang thiết bị thiếu, nhiều
kỹ thuật y tế chưa đáp ứng nhu cầu, đặc biệt nhân lực y tế thiếu, mất cân đối.
2

Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị đã chỉ đạo “chú trọng đào tạo cán bộ
quản lý y tế, nhất là cán bộ quản lý bệnh viện”. Sự thiếu hụt NNL là một vấn đề
quan trọng trong việc gắn bó lâu dài với công việc của nhân viên [115]. Nhiều
nghiên cứu chỉ ra rằng sự thiếu hụt DS ngày càng tăng do DS ngày càng không
hài lòng với công việc. Một trong những giải pháp để cải thiện tình trạng thiếu

đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục
tiêu của tổ chức. Bất cứ tổ chức nào cũng được tạo thành bởi các thành viên là
con người hay NNL đó của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động
làm việc trong tổ chức đó [8].
Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm thể
lực và trí lực. Thể lực chỉ là sức khoẻ của thân thể nó phụ thuộc vào sức vóc,
tình trạng sức khoẻ của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống,
chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực con người còn tùy thuộc và
tuổi tác, thời gian công tác, giới tính. Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự
tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin nhân
cách…của từng con người [24].
b. Nguồn nhân lực y tế
NNL trong lĩnh vực CSSK, có thể được địnhnghĩa là các kiểu khác nhau
của nhân viên lâm sàng và phi lâm sàng chịu trách nhiệm can thiệp sức khỏe cá
nhân và cộng đồng. NNL là yếu tố quan trọng nhất của đầu vào hệ thống sức
khỏe, hiệu quả và những lợi ích mà hệ thống có thể cung cấp phụ thuộc rất
4

nhiều vào kiến thức, kỹ năng và động lực của những cá nhân chịu trách nhiệm
về cung cấp dịch vụ y tế [93].
Năm 2006, WHO đã đưa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả
những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe”.
Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm
công tác quản lý y tế và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các
dịch vụ y tế. Nó bao gồm CBYT chính thức và CBYT không chính thức (như
tình nguyện viên xã hội, những người CSSK gia đình, lang y ); kể cả những
người làm việc trong ngành y tế và trong các ngành khác (như quân đội, trường
học hay các doanh nghiệp) [119].
Nhân lực y tế không chỉ là cán bộ chuyên môn y dược mà gồm cả đội ngũ
kỹ sư, cử nhân, kỹ thuật viên và công nhân lành nghề đang tham gia phục vụ

Dược tá đảm nhiệm những công việc hỗ trợ cho DSĐH, cao đẳng dược và
trung cấp dược/KTV dược.
d. Nhân lực dƣợc bệnh viện
Nhân lực dược bệnh viện là một bộ phận của nhân lực dược, là những
người được đào tạo chuyên môn dược và công tác trong các bệnh viện. Người có
chuyên môn về dược có thể làm ở các bộ phận như khoa dược, khoa chống
nhiễm khuẩn, khoa xét nghiệm nhưng chủ yếu công tác tại khoa dược bệnh
viện và đảm nhận các công việc liên quan tới hoạt động cung ứng và hướng dẫn
sử dụng thuốc trong bệnh viện.
Tại bệnh viện, nhân lực dược có thể được chia thành ba hình thức
chính[100]:
- Quản lý (Management): bao gồm các DS trưởng khoa hoặc phó khoa,
quản lý mọi hoạt động của khoa dược và chịu trách nhiệm về toàn bộ công tác
dược trong bệnh viện.
6

- Chuyên môn/nghiệp vụ (Professional staff): thực hiện việc phân phát,
kiểm soát và cung cấp thông tin thuốc. DS chuyên môn có thể thực hiện nhiệm
vụ của quản lý khoa khi cần thiết.
- Nhân viên hỗ trợ (Support staff): bao gồm các nhân viên có trình độ
khác như: kỹ thuật viên, nhân viên văn phòng hoặc cán bộ thông tin.
Ở nhiều nước trên thế giới, DS công tác tại bệnh viện là chuyên gia về
thuốc, người tư vấn về kê đơn, quản lý và giám sát, đồng thời cũng là một nhà
quản lý cung ứng, người đảm bảo rằng các loại thuốc luôn có sẵn thông qua việc
mua bán, lưu trữ, phân phối, kiểm soát, và bảo đảm chất lượng. Sự cân bằng
giữa hai vai trò khác nhau, phụ thuộc vào mỗi cá nhân và môi trường công việc.
Thông thường, DS không làm việc trực tiếp với bệnh nhân, mà thông qua nhân
viên y tế khác để tối ưu hóa điều trị cho bệnh nhân. Một DS còn có thể đảm
nhận vai trò lâm sàng để tư vấn được cho các bác sĩ và điều dưỡng trong bệnh
viện [64], [100], [118].

nguồn nhân lực của tổ chức, là điều kiện quyết định để các tổ chức có thể đứng
vững và thắng lợi trong môi trường cạnh tranh .
- Duy trì nguồn nhân lực
Chức năng này có liên quan đến các chính sách và các hoạt động nhằm
khuyến khích động viên nhân viên trong tổ chức làm việc hăng say, tận tình, có
ý thức trách nhiệm và hoàn thành công việc với chất lượng cao và tìm cách làm
tăng mức độ hài lòng của nhân viên với tổ chức [23].
1.1.3. Vị trí, vai trò của dƣợc sĩ và dƣợc sĩ công tác tại BV
Đa số các quốc gia, đặc biệt là các nước phát triển, khi nói đến NNL dược,
người ta chủ yếu đề cập đến người DS. DS là một chức danh nghề nghiệp chỉ
những người đã tốt nghiệp đại học dược (có bằng cử nhân dược trở lên), có kinh
nghiệm chuyên môn nghiệp vụ, được các cơ quan có thẩm quyền cấp chứng chỉ
hành nghề, và chủ yếu làm việc trong các cơ sở liên quan đến hoạt động cung
8

ứng, tư vấn sử dụng thuốc cho người bệnh, chủ yếu là trong bệnh viện và nhà
thuốc cộng đồng [61], [73], [120]. Tuy nhiên, tại Việt Nam, theo quy định của
Luật Giáo dục, những người tốt nghiệp đại học dược sẽ được cấp bằng DSvà để
có bằng DS người học có thể được đào tạo 5 năm chuyên ngành dược đối với
sinh viên đào tạo chính quy dài hạn, 4 năm với sinh viên đã có bằng trung cấp
dược, 2 năm đối với người có bằng đại học chính quy dài hạn các ngành bác sỹ
y khoa, sinh học, hóa học [6], [18],[43].
Dược sĩ là các chuyên gia CSSK được đào tạo chuyên biệt, thực hiện
các vai trò khác nhau để đảm bảo kết quả CSSK tối ưu cho bệnh nhân thông
qua việc sử dụng thuốc thích hợp. DS hiểu biết rõ về công thức hoá học,
dạng bào chế, tác dụng, chỉ định, chống chỉ định, tương tác của một loại
thuốc cụ thể, vì vậy họ đóng một vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa
một thuốc điều trị cho người bệnh [71], [73]. DS thường làm việc tại bệnh
viện, trong ngành sản xuất dược phẩm (công nghiệp bào chế), ngành kinh doanh
(phân phối và cung ứng thuốc), các cơ sở kiểm tra chất lượng thuốc (kiểm

- Phân phát thuốc trực tiếp cho bệnh nhân tại các khu vực khác nhau của
bệnh viện, bao gồm các trung tâm cấp cứu hoặc chấn thương.
- Pha chế đặc hiệu hỗn hợp, các loại kem và các loại thuốc khác để phù hợp
với nhu cầu của bệnh nhân.
- Chuyên gia tư vấn về thuốc cho các bác sĩ, bác sĩ phẫu thuật, y tá và nhân
viên chăm sóc sức khỏe khác trong môi trường bệnh viện [87].
Tại Việt Nam, trong lĩnh vực điều trị, chức năng nhiệm vụ của khoa dược
được quy định tại TT22 của Bộ Y tế ban hành năm 2011, trong đó chỉ ra những
nhiệm vụ của người DS và cũng có nhiều điểm khác biệt so với thế giới. DS
không chỉ thực hiện nhiệm vụ chăm sóc thuốc cho người bệnh mà còn đảm
nhiệm thậm chí kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác. Ngoài vị trí công tác là quản
lý khoa dược, các DS còn có thể làm việc ở bộ phận nghiệp vụ dược, thực hiện
10

công tác kiểm tra quy định chuyên môn dược trong BV, cập nhật các văn bản
quản lý chuyên môn và đảm nhiệm việc cung ứng thuốc. DS làm công tác DLS
ngày càng được ngành y tế và bệnh viện quan tâm. Tùy theo từng hạng và tuyến
BV mà khoa dược thành lập tổ DLS hoặc bộ phận DLS [41]. DS lâm sàng chịu
trách nhiệm về thông tin thuốc, cảnh giác dược trong BV, tư vấn về sử dụng
thuốc an toàn hợp lý cho CBYT và người bệnh. Tại các BV có pha chế, DS thực
hiện pha chế theo đúng quy trình kỹ thuật và đảm bảo công tác chống nhiễm
khuẩn. Ngoài ra, tại các BV tuyến trên, DS cũng phụ trách kho cấp phát thuốc
(đặc biệt quản lý thuốc gây nghiện, hướng thần) hoặc phụ trách chuyên môn cho
nhà thuốc BV [40],[42].
1.2. THỰC TRẠNG NHÂN LỰC DƢỢC
1.2.1. Thực trạng nhân lực dƣợc ở một số nƣớc
Dược sĩ là nhóm chăm sóc sức khỏe chuyên nghiệp lớn thứ ba trên thế
giới,sau các bác sĩ và y tá. Đa số các nước trên thế giới nói tới nhân lực dược là
nói tới DS. Ở nhiều nước, việc nâng cao trách nhiệm của DS với vai trò tư vấn,
tập trung vào bệnh nhân nhiều hơn đã làm tăng nhu cầu lực lượng lao động.

viện chiếm khoảng 8%. Nghiên cứu đã chỉ ra Úc thiếu khoảng 3.000 DS vào
năm 2010, trong đó thiếu hụt lớn nhất là khu vực nông thôn và vùng sâu vùng xa
[66], [118].
Tại Mỹ, một báo cáo cho thấy tình trạng thiếu hụt nhân lực dược tại các
bệnh viện và hệ thống y tế diễn ra trong nhiều năm và chưa có dấu hiệu cải
thiện. Cụ thể, tại các bệnh viện, tỷ lệ thiếu hụt DS là 2,4% (năm 2011) và 2,7%
(năm 2012) và KTV dược là 3,5% (năm 2011) và 3,4% (năm 2012). Tỷ lệ DS
rời đi trung bình là 7,1% và KTV dược là 12,7%. Tỷ lệ DS thiếu hụt là tương
đương nhau ở các bệnh viện có quy mô khác nhau [65].
Hiện nay, để đánh giá khả năng đáp ứng của NNL dược của mỗi quốc gia,
người ta sử dụng chỉ số số DS/10.000 dân. Tuy nhiên ở đa số các nước trên thế
giới chỉ số này chủ yếu tính số DS đăng kí hành nghề trong lĩnh vực dược cộng
12

đồng và dược bệnh viện [61], [73]. Điều này có sự khác biệt so với ở Việt Nam,
theo quy định của Luật giáo dục năm 2005, tất cả những người tốt nghiệp đại
học dược đều gọi là DS [36], do đó tỷ lệ DS/10.000 dân ở Việt Nam bao gồm tất
cả các DS chứ không chỉ có DS hành nghề như ở các nước, do vậy, chỉ số này ở
Việt Namtheo khía cạnh nào đó còn thấp hơn nhiều so với các nước trên thế
giới. Năm 2012, theo đánh giá của liên đoàn dược phẩm quốc tế (FIP), chỉ số số
DS/10.000 dân của các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới dao động từ 0,02-
25,07 DS/10.000 dân và trung bình là 6,02 DS/10.000 dân [82]. Sau đây là chỉ
số số DS/10.000 dân ở một số nước trên thế giới [113].
Bảng 1.1. Số DS/10.000 dân của một số nƣớc trên thế giới năm 2010
STT
Quốc gia
SốDS/10000
Dân
STT
Quốc gia

Tây Ban Nha
10,7
6
Thổ Nhĩ Kỳ
3,3
14
Anh
6,6
7
Pháp
12,3
15
Việt Nam
1,74
8

9,0
16
Thái Lan
3,0 Đề cập đến NNL dược bệnh viện, nhiều nước trên thế giới quan tâm đến
chỉ số DS/GB để đánh giá khả năng phục vụ của DS trong bệnh viện. Từ năm
2000, ở Nhật Bản, tỷ lệ DS trong các bệnh viện công là 1DS/75GB [110].
1DS/75GB là một áp lực đối với DS khi khối lượng công việc nhiều. Do đó, ở
Nhật, công tác DLS trong bệnh viện cũng là một thách thức [121]. Theo một báo
cáo năm 2004; Estonia có tỷ lệ DS/GB cao nhất là gần 2DS/GB, tiếp theo là Na

Trích đoạn THỰC TRẠNG NHÂN LỰC DƢỢC BỆNH VIỆN Sự phân bố D Sở BVĐK tuyến tỉnh và huyện Các nhân tố ảnh hƣởng tới sự hài lòng và mức độ tác độngcủa các nhân tố Mối liên quan giữa các đặc điểm cá nhân với sự hài lòng công việc của
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status