BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LÊ VĂN KHÁNH
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI
CỦA THÀNH PHỐ TRÀ VINH TỪ NĂM 1992 ĐẾN NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
HÀ NỘI, NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LÊ VĂN KHÁNH
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI
CỦA THÀNH PHỐ TRÀ VINH TỪ NĂM 1992 ĐẾN NĂM 2015
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ: KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ KIỀU TRANG
HÀ NỘI, NĂM 2017
LỜI CAM ĐOAN
1.1.1. Vị trí địa lý và các đơn vị hành chính …………………...
9
1.1.2. Đặc điểm tự nhiên và xã hội …………………………….
11
1.1.3. Truyền thống đấu tranh bất khuất của nhân dân thành phố
Trà Vinh qua các thời kỳ lịch sử ……………………………………...
18
1.2. Những nhân tố tác động đến quá trình phát triển kinh tế, xã
hội của thành phố Trà Vinh giai đoạn 1992 - 2015 …………………..
27
1.2.1. Đường lối phát triển kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà nước
27
1.2.1.1. Bối cảnh lịch sử ……………………………………….
27
1.2.1.2. Đường lối phát triển kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà
nước ……………………………………………………………
30
2.1.2. Thương mại - dịch vụ ………………………………….
74
2.1.3. Nông nghiệp ……………………………………………
80
2.1.4. Xây dựng kết cấu hạ tầng ………………………………
85
2.1.5. Tài chính, ngân sách …………………………………....
89
2.2. Nhận xét về quá trình phát triển kinh tế của thành phố Trà
Vinh (1992 – 2015) …………………………………………………..
91
2.2.1. Thành tựu nổi bật ……………………………………….
92
2.2.2. Đặc điểm kinh tế thành phố Trà Vinh ………………….
94
2.2.3. Những hạn chế và phương hướng giải quyết ……………
112
3.1.6. Những thay đổi về công tác dân tộc, tôn giáo …………..
121
3.2. Nhận xét về những chuyển biến xã hội của thành phố Trà
Vinh ………………………………………………………………….
124
3.2.1. Thành tựu tổng quát ……………………………………
124
3.2.2. Những vấn đề tồn tại và phương hướng giải quyết ……..
125
KẾT LUẬN ………………………………………………………….
130
TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………….
134
PHỤ LỤC ……………………………………………………………
138
Bình. Lúc này, tỉnh lỵ tỉnh Vĩnh Bình cũng được đổi tên là Phú Vinh, do lấy
theo tên xã Phú Vinh thuộc quận Châu Thành là nơi đặt tỉnh lỵ.
Sau năm 1975, Quốc hội Việt Nam khóa VI quyết định hợp nhất 2
tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long thành tỉnh Cửu Long, với tỉnh lỵ là thị xã Vĩnh
Long. Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1991, thị xã Trà Vinh là trung tâm
vùng phía Đông Nam của tỉnh.
Trên những chặng đường lịch sử, nơi đây đã chứng kiến sự xuất hiện
của một trong ba chi bộ Cộng sản đầu tiên của tỉnh Trà Vinh trong những năm
30 của thế kỷ XX. Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế
quốc Mĩ xâm lược, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân
các dân tộc ở thị xã Trà Vinh đã đoàn kết một lòng, cùng cả nước đấu tranh
cho tới ngày nước nhà hoàn toàn độc lập.
Phát huy truyền thống anh hùng trong kháng chiến, sau ngày miền Nam
giải phóng, Đảng bộ và nhân dân thị xã Trà Vinh đã bắt tay khôi phục kinh tế
- xã hội, đồng thời khắc phục những hậu quả do chiến tranh để lại, cùng nhau
đoàn kết xây dựng quê hương, chung tay bảo vệ, giữ gìn an ninh chính trị và
trật tự an toàn xã hội, từng bước ổn định đời sống nhân dân.
Sau gần 17 năm sáp nhập hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh thành tỉnh
Cửu Long, đến năm 1991, tỉnh Cửu Long được chia tách thành hai tỉnh
là Vĩnh Long và Trà Vinh; năm 1992, Trà Vinh tái lập tỉnh. Sau khi tỉnh Trà
Vinh được tái lập vào năm 1992, đặc biệt là từ khi có đường lối đổi mới của
Đảng, Đảng bộ thị xã Trà Vinh đã vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của
Đảng, lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện, phát huy
truyền thống sáng tạo, tự lực, tự cường, đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc
Kinh - Hoa - Khmer, giữa dân với Đảng, từ đó đạt được những thành tựu quan
trọng, khẳng định vị thế trung tâm của các hoạt động chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội,quốc phòng -an ninh của tỉnh, đưa thị xã Trà Vinh trở thành một
2
3
ương và địa phương quan tâm. Nhưng các công trình nghiên cứu vềtình hình
kinh tế, xã hội của thành phố Trà Vinh thời kỳsau khi tái lập tỉnh (giai đoạn từ
năm 1992 đến năm 2015) còn rất hạn chế và cũng chỉ mới đề cập khái quát
đến những vấn đề chung về tình hình kinh tế, xã hội của tỉnh hoặc về truyền
thống đấu tranh cách mạng của thành phố Trà Vinh.
Năm 1986, Ban Chấp hành Đảng bộ Cửu Long cho xuất bản cuốn Cửu
Long 21 năm kiên cường đánh Mĩ. Nội dung ôn lại truyền thống vẻ vang
những ngày chiến đấu chống Mĩ, cứu nước của nhân dân tỉnh Cửu Long (nay
là tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh), động viên sự nỗ lực và phấn đấu không
ngừng khắc phục mọi khó khăn hiện nay, đưa sự nghiệp cách mạng tỉnh nhà
tiến lên hoàn thành tốt hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng thành công Chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Năm 1995, Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh chủ biên và cho xuất bản
cuốn Lịch sử tỉnh Trà Vinh, Tập 1; Tập 2 xuất bản năm 1999; Tập 3 xuất bản
năm 2005. Nội dung giớithiệu về con người, điều kiện tự nhiên, tiềm năng và
quá trình đấu tranh cách mạng của nhân dân Trà Vinh trong hai cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ.
Năm 2000, Trung tâm Thông tin và chuyển giao tiến bộ sinh học Việt
Nam xuất bản cuốn Đồng bằng sông Cửu Long đón chào thế kỷ XXI, giới
thiệu ngắn gọn những thành tựu, tiềm năng, triển vọng, các chương trình kêu
gọi đầu tư và khẳng định những ưu thế về nhiều lĩnh vực địa lý, kinh tế, văn
hóa, lịch sử… của 12 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long trong đó có Trà Vinh.
Năm 2001, Thị ủy Trà Vinh chủ biên cuốn Lịch sử đấu tranh cách
mạng của Đảng bộ và nhân dân Thị xã Trà Vinh anh hùng 1930-1975. Một
lần nữa,vấn đề đặc điểm tự nhiên và dân cư của thị xã Trà Vinh cũng được
giới thiệu một cách khái quát trong cuốn sách này.
5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Mục đích của luận văn là dựng lại bức tranh toàn cảnh, có hệ thống về
quá trình phát triển kinh tế, xã hội của thành phố Trà Vinhsau khi tái lập tỉnh
(giai đoạn 1992 - 2015); từ đó tổng kết lại những thành tựu, đặc điểm, bài học
kinh nghiệm trong quá trình xây dựng, phát triển kinh tế, xã hộivà ghi nhận
những đóng góp của nhân dân thành phố Trà Vinh trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc. Qua đó góp phần tích cực vào việc bổ sung nguồn sử liệu
cho việc giảng dạy môn lịch sử địa phương.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ
chủ yếu sau đây:
-Phân tích những nhân tố tác động đến sự phát triển kinh tế, xã hội của
thành phố Trà Vinh từ năm 1992 đến năm 2015.
- Trình bày quá trình phát triển của thành phố Trà Vinh từ năm 1992
đến năm 2015 trên các lĩnh vực kinh tế và xã hội.
- Rút ra một số nhận xét về quá trình phát triển kinh tế, xã hội của
thành phố Trà Vinh từ năm 1992 đến năm 2015: đặc điểm của quá trình phát
triển kinh tế, xã hội của thành phố Trà Vinh từ năm 1992 đến năm 2015;
những hạn chế trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của thành phố Trà
Vinh từ năm 1992 đến năm 2015 và phương hướng giải quyết.
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Về không gian: giới hạn trên địa bàn thành phố Trà Vinh.
Về thời gian: từ năm 1992 đến năm 2015.
5. Nguồn tài liệu:
Để thực hiện được đề tài này, luận văn đã dựa vào các nguồn tài liệu
triểnkinh tế, xã hội của thành phố Trà Vinh sau tái lập tỉnh (giai đoạn 1992 2015); làm rõ những thành tựu, đặc điểm, bài học kinh nghiệm của quá trình
7
xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội thành phố Trà Vinh, có ý nghĩa mở đường
cho giai đoạn phát triển về sau.
- Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo có ý nghĩa đối với việc nghiên
cứu, giảng dạy lịch sử địa phương trong các trường phổ thông tỉnh Trà Vinh,
giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào về những truyền thống tốt đẹp của địa
phương cho nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ.
8. Bố cục luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những nhân tố tác động đến quá trình phát triển kinh
tế, xã hội của thành phố Trà Vinh giai đoạn 1992 - 2015
Chương 2: Quá trình phát triển kinh tế của thành phố Trà Vinh từ
năm 1992 đến năm 2015
Chương 3: Những chuyển biến về xã hội của thành phố Trà Vinh
từ năm 1992 đến năm 2015.
8
NỘI DUNG
Chương 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH PHÁT
TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ TRÀ VINH GIAI
ĐOẠN 1992 - 2015
1.1. Khái quát về địa lý và nhân văn của thành phố Trà Vinh
1.1.1. Vị trí địa lý và các đơn vị hành chính
cách mạng của nhân dân mới chính thức được thiết lập lại trên địa bàn thành
phố Trà Vinh (đến tháng 10-1954, Xứ ủy Nam Bộ và Liên Tỉnh ủy miền Tây
ra quyết định tái lập hai tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long), và vẫn giữ nguyên tên
gọi và cơ cấu hành chính như thời kỳ cuối cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp. Được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng, tuy phải hoạt động bí mật,
gặp muôn vàn khó khăn, thử thách, nhưng chính quyền cách mạng ngày càng
trưởng thành, đủ sức lãnh đạo nhân dân chiến thắng kẻ thù.
Đến năm 1976, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(khóa VI) quyết định hợp nhất hai tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long thành tỉnh Cửu
Long với tỉnh lỵ là thị xã Vĩnh Long, nên trong giai đoạn 1976-1991 thị xã
Trà Vinh là trung tâm vùng phía đông nam của tỉnh Cửu Long. Sau gần 16
năm sáp nhập hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh thành tỉnh Cửu Long, đến
tháng 5-1992, tỉnh Cửu Long được chia tách thành hai tỉnh: Vĩnh Long và Trà
Vinh. Và cũng từ đây, thị xã Trà Vinh được đầu tư xây dựng, quy hoạch lại
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và trở thành trung tâm chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của tỉnh Trà Vinh. Tháng 32010, theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 4-3-2010 của Chính phủ, thị xã Trà
Vinh được công nhận là thành phố trực thuộc tỉnh trên cơ sở toàn bộ diện tích
tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Trà Vinh. Đây
thực sự là một bước ngoặt đối với thành phố Trà Vinh trên con đường phát
triển. Với sự hỗ trợ mạnh của Trung ương Đảng và Chính phủ, Trà Vinh đang
10
đứng trước một vận hội, một thời cơ mới với hàng loạt các dự án, công trình
lớn của quốc gia đang và sẽ được triển khai trên địa bàn, tạo nên thế và lực
cho thành phố Trà Vinh phát triển đột phá trong thời gian tới, làm đầu tàu lôi
kéo các huyện khác trong tỉnh cùng phát triển.
Hiện nay, thành phố Trà Vinh có diện tích tự nhiên là 68,16 km2 với 10
đơn vị hành chính trực thuộc gồm xã Long Đức và 9 phường: phường 1,
tích của tỉnh. Đất đai của thành phố chủ yếu gồm 3 nhóm đất chính: đất cát
giồng, đất phù sa và đất phèn tiềm năng.
Hiện trạng sử dụng đất thành phố Trà Vinh
Đơn vị ha
Năm
2011
2012
2013
2014
2015
Tồng diện tích
6.816,20
6.816,20
6.816,20
6.816,20
6.816,20
1.714,54
983,63
990,14
993,14
993,14
993,14
5. Đất khu dân cư
431,56
440,34
444,50
452,50
461,30
1.480,08
1.480,08
1.480,08
1.480,08
chịu ảnh hưởng của gió chướng, thủy triều cao nên gây ngập úng và hạn hán
cục bộ ít nhiều ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất, kinh doanh của nhân dân.
Thành phố Trà Vinh nổi tiếng là một “đô thị xanh”, “rừng trong phố”,
thành phố thân thiện, gần gũi môi trường với một đặc điểm khá nổi bật là có
tới hơn 8.700 cây cổ thụ trên hầu hết các tuyến đường trong nội ô thành phố,
trong đó có những cây có tuổi thọ hàng trăm năm, với độ che phủ đạt
153.011m2 [16;15].
Bên cạnh lợi thế là một “đô thị xanh”, trên địa bàn thành phố Trà Vinh
còn có nhiều địa điểm du lịch gắn liền với văn hóa dân tộc như Khu văn hóa
du lịch Ao Bà Om, Đền thờ Bác Hồ, có 39 ngôi chùa và 02 nhà thờ, trong đó
có nhiều di tích đền, chùa cổ, và tiềm năng cho phát triển khu du lịch sinh thái
ở ấp Long Trị, xã Long Đức, là điều kiện thuận lợi để kết hợp các huyện trong
tỉnh và trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long phát triển du lịch trong tương
lai.
Sông ngòi có một vai trò quyết định đến đời sông nhiều mặt trên địa
bàn thị xã. Quan trọng nhất trong hệ thống sông ngòi chằng chịt chính là dòng
Cổ Chiên quanh năm đỏ lựng phù sa, có gần 10km chảy qua địa bàn thị xã;
sông Cổ Chiên đã góp phần quan trọng trong tiến trình kiến tạo địa chất cũng
như trong quá trình hình thành và phát triển các khu dân cư trên các lĩnh vực
kinh tế, giao thông, văn hóa… của dòng sông Cổ Chiên đã tác động mạnh,
góp phần hình thành tập quán sản xuất, sinh hoạt của người dân trong vùng.
13
Một chi lưu của sông Cổ Chiên có tác động thúc đẩy quá trình hình
thành khu dân cư, lỵ sở hành chính của địa bàn thị xã Trà Vinh là sông Long
Bình. Ngày xưa, khi đường bộ chưa phát triển, giao thông dựa trên các tuyến
đường thủy qua sông Long Bình, lòng sông khá rộng, độ sâu tương đối, là
điều kiện khá tốt hình thành các khu dân cư người Việt, vốn quen sông nước
Dân số phân theo đơn vị hành chính và dân tộc năm 2015
Đơn vị: người
Phân theo dân tộc
Đơn vị
Tổng dân số
hành chính
trên địa bàn
Kinh
Khmer
Hoa
Khác
TPTV
107.989
83.332
19.021
5.495
3
Phường 3
3.897
2.546
38
1.312
-
4
Phường 4
8.354
6.803
357
1.193
-
5
17.854
16.017
1.498
329
10
8
Phường 8
9.455
4.197
5.099
68
91
9
Phường 9
11.131
15
Sự biến động và thay đổi số lượng dân cư qua từng thời kỳ
Đơn vị: người
2000
2005
2010
2015
TỔNG SỐ
71.771
90.700
101.174
107.989
Phường 1
7.814
8.221
10.967
8.354
Phường 5
5.301
5.643
7.450
10.753
Phường 6
10.451
11.050
11.898
10.997
Phường 7
14.854
15.641
17.147
Xã Long Đức
Nguồn: Chi cục Thống kê thành phố Trà Vinh
Người dân Trà Vinh hiền hòa, chăm chỉ, cần cù lao động và tốt bụng.
Các dân tộc sinh sống trên địa bàn thành phố dù có nhiều khác biệt về văn
hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, nhưng có truyền thống đoàn kết, cùng nhau xây
dựng thành phố Trà Vinh ngày càng phát triển.
Về hoạt động văn hóa, thành phố có một rạp hát sức chứa 600 người
mang tên rạp Thái Bình; một nhà văn hóa trung tâm cấp tỉnh, một nhà văn hóa
cấp thành phố. Phòng văn hóa thể thao thành phố quản lý một đội thông tin
lưu động. Ngoài ra có hai đội thông tin lưu động, một của dân tộc Kinh, một
của dân tộc Khmer; hai đoàn nghệ thuật: cải lương Ánh Hồng và nghệ thuật
Khmer Ánh Bình Minh do Sở Văn hóa Thông tin quản lý nhưng đóng tại địa
bàn thành phố.
16
Bên cạnh đó, còn có hàng chục đội nhóm văn nghệ của các cơ quan
trường học, lực lượng vũ trang, xã phường thường xuyên hoạt động phục vụ
nhu cầu vui chơi, giải trí của quần chúng. Thành phố còn có nhiều điểm chiến
Vidéo, điểm sinh hoạt karaoke và điểm cho thuê băng hình.
Toàn thành phố có ba sân vận động và ba sân quần vợt đạt tiêu chuẩn
quốc gia quy tụ một số khá đông người tập luyện thi đấu. Ngoài ra, ở mỗi cơ
quan, trường học, xã, phường đều có sân tập thể dục, sân cầu lông, sân bóng
chuyền… Thành phố còn có một hồ bơi do ngành văn hóa thể thao tỉnh quản
lý. Thành phố có phong trào tập luyện thể dục thể thao quần chúng khá đều
khắp, qua đó tuyển chọn đội đại biểu, đội trẻ, đội năng khiếu ở các bộ môn
bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, cầu lông, bơi lội, điền kinh, võ thuật, ghe
tác dụng kích thích các tôn giáo khác phát triển. Chỉ ít năm sau đó, một loạt
các chùa Phật giáo Kinh cũng như Khmer, chùa Ông người Hoa được xây cất
kiên cố với quy mô lớn. Sự ra đời của các cơ sở tôn giáo cổ truyền như một
lời khẳng định sự tồn tại của văn hóa dân tộc trước làn sóng Âu hóa.
Các tôn giáo khác, ngay khi ra đời hoặc được truyền vào Việt Nam đã
nhanh chóng tìm chỗ đứng ở thành phố. Trong thành phố có miếu thờ Ông
Bổn, 15 đình am miếu khác, hai cơ sở của đạo giáo Tứ Ân…
1.1.3. Truyền thống đấu tranh bất khuất của nhân dân thành phố
Trà Vinh qua các thời kỳ lịch sử
Trải qua hơn 100 năm kể từ thi thành lập (1900), vùng đất Trà Vinh nói
chung, thị xã Trà Vinh nói riêng, có truyền thống cách mạng hào hùng. Hào
khí Trà Vinh đã không ngừng được hun đúc và tỏa sáng trong quá trình khai
phá thiên nhiên cũng như trong quá trình đấu tranh giai cấp và đánh đuổi giặc
ngoại xâm. Cốt lõi đoàn kết sức mạnh và ánh sáng của hào khí ấy là khối đại
đoàn kết vững bền của cộng đồng dân cư đa dân tộc ở Trà Vinh từ khi có
Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua những người cộng sản hoạt động
trên đất Trà Vinh đã nâng hào khí Trà Vinh lên một tầm cao mới mà đỉnh cao
18
là Cách mạng tháng Tám năm 1945. Thắng lợi này đã làm hệ thống chính
quyền thực dân - nửa phong kiến ở Trà Vinh hoàn toàn sụp đổ.
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là mốc son lịch sử đánh
dấu sự mở đầu vĩ đại cho chặng đường mới trong tiến trình phát triển của tỉnh
Trà Vinh. Từ đây, đồng bào các dân tộc trong tỉnh hồ hởi tham gia vào sự
nghiệp xây dựng chế độ xã hội mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam. Nhưng cuộc hành trình lịch sử này vừa bắt đầu thì thực dân Pháp và các
thế lực phản động lại điên cuồng chống phá. Chiến tranh bùng nổ rồi lan dần
trên khắp đất Trà Vinh vào cuối mùa thu năm 1945. Nhưng, kẻ thù đã không
khổ, hy sinh để vượt qua những tình huống hiểm nghèo, để bảo đảm phối hợp
tác chiến, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Trà Vinh cùng cả
nước đến ngày thắng lợi.
Thắng lợi của quân và dân thị xã Trà Vinh trong những năm 1945-1954
không chỉ là chiến thắng quân sự đánh đuổi thực dân Pháp và đè bẹp các thế
lực phản động, mà còn đem lại những thành quả quan trọng: sự trưởng thành
của tổ chức đảng qua tôi luyện; sự vững vàng của chính quyền cách mạng qua
thử thách; sự đổi mới và tiến bộ ở nông thôn qua những cải cách dân chủ;
những biến chuyển của các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế; sự nâng cao về
chất trong sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc làm thất bại mọi âm
mưu chia rẽ thâm độc của kẻ thù..
Tháng 7-1954, cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp của nhân dân ta
kết thúc thắng lợi, nhưng đế quốc Mĩ đã thay thực dân Pháp thống trị miền
Nam Việt Nam bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới, phế truất Bảo Đại đưa Ngô
Đình Diệm lên làm tay sai. Chúng ráo riết triển khai các hoạt động nhằm quản
lý lãnh thổ, kiểm soát và kìm kẹp nhân dân, tìm diệt đảng viên Đảng Cộng
sản, khủng bố những người yêu nước, xóa bỏ những thành quả cách mạng mà
nhân dân thị xã Trà Vinh đã giành được từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945
20