Quá trình phát triển kinh tế xã hội của thái lan từ những năm 60 của thế kỷ xx đến thập niên đầu của thế kỷ xxi - Pdf 32

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
--------------------

Mai thị hơng mận

Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Thái
lan
(từ những năm 60 của thế kỷ xx đến thập niên đầu thế kỷ xxi)

Chuyên ngành: lịch sử thế giới
Mã số:

60.22.50

Luận văn thạc sỹ khoa học lịch sử

Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS.TSKH Trần khánh

Vinh 2009

1


Lời cảm ơn
Trớc hết tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành của
mình đến các thầy giáo, cô giáo trong tr ờng Đại học
Vinh nói chung và các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử
nói riêng, những ngời đã giảng dạy và giúp đỡ tôi trong
suốt những năm vừa qua.

Danh mục các chữ cái viết tắt

Chữ viết tắt
ASEAN
BOI
BOT
CNTB
FDI
FTA
GDP
GNP
ICOR
IMF
NICs
Nxb
PAD
PPP
SET
TTXVN
USD
VAT
WB
WTO

Nội dung
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á
Uỷ ban đầu t Thái Lan
Ngân hàng Trung ơng Thái Lan
Chủ nghĩa t bản
Đầu t trực tiếp nớc ngoài

3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu .

3

..
4. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên

7

cứu .................................
5. Đóng góp khoa học của luận

7

văn ..........
6. Bố cục của luận

8

văn ...........
Nội dung ..

8

9

......
Chơng 1: Khái quát về tình hình phát triển kinh tế - xã hội

9

..
2.1.1. Khuyến khích hợp tác kinh tế đa thành phần, đa dân tộc và kêu
gọi đầu t nớc

28

ngoài .
2.1.2. Từ chiến lợc công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu đến u tiên
5


32

xuất khẩu
..
.
2.1.3. Lấy xuất khẩu và dịch vụ làm đầu tàu cho tăng trởng kinh

39

tế .
2.1.4. Từ khai hoang phục hoá đến đa dạng hoá cây trồng vật

42

nuôi
2.1.5. Thông qua các kế hoạch tổng thể (kế hoạch 5 năm) để điều tiết vĩ

46


73

1998
80

.
3.1.2. Những giải pháp chống khủng hoảng và kết quả đạt đợc .

86

3.2. Phát triển kinh tế - xã hội Thái Lan những năm sau khắc phục

86

khủng
hoảng
.

6

93


3.3. Khủng hoảng chính trị tại Thái Lan từ 2006 và tác động của nó đến

97

phát triển kinh tế - xã hội
97


107

Phụ lục
Mở Đầu
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong khoảng 10 đến 15 năm sau Chiến tranh thế giới lần thứ II,
hàng loạt các nớc đang phát triển ở châu á, châu Phi và Mỹ Latinh mới giành
đợc độc lập hay vừa thoát khỏi sự kìm chế, phong toả của chủ nghĩa thực dân

7


đã tiến hành ngay những cải cách kinh tế - xã hội, lựa chọn cho mình con đờng phát triển phù hợp với xu thế thời đại và điều kiện cụ thể của đất nớc
mình. Thái Lan, tuy không phải là một nớc thuộc địa, nhng cũng bị các nớc đế
quốc kìm chế, lôi kéo, cũng nằm trong xu thế chung, đa ra chiến lợc tổng thể
và thực hiện công nghiệp hoá đất nớc từ những năm 60 của thế kỷ XX. Suốt
trong nửa thế kỷ, tiến trình này cũng mang lại nhiều đổi thay, đạt đợc nhiều
thành tựu lớn cho Thái Lan, nhng cũng để lại không ít những khó khăn, thách
thức trên con đờng phát triển tiếp theo của họ. Hậu quả của sự tăng trởng kinh
tế bằng mọi giá đã và đang gây ra sự bất ổn chính trị - xã hội, làm chậm ớc
mơ hoá rồng của nớc này. Những cuộc xuống đờng liên tục của phe áo
Vàng và áo Đỏ cũng nh sự sa sút kinh tế của Thái Lan trong những năm
gần đây cũng đặt ra nhiều vấn đề lớn, mang tính vĩ mô hơn, đó là sự bền vững,
tính hiệu quả của mô hình và chính sách phát triển kinh tế - xã hội cũng nh thể
chế chính trị mà nớc này đã và đang theo đuổi. Trên đây là những vấn đề rất
lớn, cần đợc nghiên cứu một cách công phu và có hệ thống. Trong khuôn khổ
của một luận văn cao học, việc tìm hiểu quá trình phát triển kinh tế - xã hội
của Thái Lan trong khoảng nửa thế kỷ qua, nhất là so sánh giai đoạn trớc và
sau khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997 - 1998 không chỉ góp phần làm rõ hơn
con đờng phát triển kinh tế - xã hội của nớc này, mà còn lý giải một phần về

những thách thức mang tính toàn cầu nh vấn đề năng lợng, lơng thực thực
phẩm, tiền tệ v.v đặc biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính nh hiện
nay. Thái Lan lại là một quốc gia có nhiều điểm tơng đồng về điều kiện tự
nhiên, cơ cấu kinh tế - xã hội với Việt Nam, đồng thời đều là thành viên của
ASEAN. Việc nghiên cứu, tìm hiểu về mỗi nớc thành viên nói chung, Thái
Lan nói riêng luôn là điều cần thiết, không chỉ giúp chúng ta hiểu hơn về
những ngời bạn trong khu vực, mà còn cung cấp các số liệu, thông tin cho
hoạch định chính sách phát triển đất nớc.
Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: Quá trình phát triển
kinh tế - xã hội của Thái Lan (từ những năm 60 của thế kỷ XX đến thập

9


niên đầu của thế kỷ XXI) làm luận văn cao học của mình. Việc tìm hiểu,
nghiên cứu quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Thái Lan giai đoạn 1960
đến nay sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về Thái Lan, qua đó tăng cờng khả năng
liên kết và hợp tác giữa hai nớc.
2. Khái quát về tình hình nghiên cứu vấn đề và nguồn tài liệu sử dụng
2.1. Tình hình nghiên cứu vấn đề: Do tầm quan trọng của Thái Lan
trong các mối quan hệ của khu vực và thế giới cũng nh sự tăng trởng kinh tế
nhanh của nớc này trong những năm 70- đầu thập niên 90 đã thu hút sự chú ý
của thế giới, trong đó có các học giả của Việt Nam.
Trớc hết là phải kể đến công trình Thái Lan: Cuộc hành trình tới câu
lạc bộ các nớc công nghiệp mới của hai nhà nghiên cứu Đông Nam á là PGS.
TS. Nguyễn Thu Mỹ và PGS. Đặng Bích Hà. Công trình ra mắt bạn đọc từ
1992, trong đó phân tích các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của nớc
này trên con đờng thực hiện các chiến lợc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nớc.
Tiếp đến là các cuốn sách nh: Các con đờng phát triển của ASEAN

Hoà, Viện kinh tế và chính trị thế giới, Hà Nội, 2005. Trong đó, nội dung ch ơng 2 và chơng 3 của luận án đã trình bày, phân tích các quan điểm chung của
Thái Lan về chính sách công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu, làm nổi bật các
chính sách kinh tế, tiêu biểu nh: chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chính
sách công nghiệp hoá nông nghiệp, chính sách tài chính - tiền tệ, chính sách
phát triển nguồn nhân lực và khoa học công nghệ, chính sách kinh tế đối
ngoại và hội nhập quốc tế của Thái Lan. Đồng thời tác giả cũng làm nổi bật
những kết quả tích cực của chính sách công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu nh:
tốc độ tăng trởng GDP hàng năm, sự thay đổi cơ cấu kinh tế, đa ra những nhận
định về sự tác động của chính sách này, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm đối
với Việt Nam.
Cuốn "Những vấn đề chính trị, kinh tế Đông Nam á thập niên đầu thế
kỷ XXI", Trần Khánh (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006. Trong
11


cuốn này, tác giả đã nêu lên những yếu tố khách quan và chủ quan của thế
giới và khu vực tác động đến tình hình kinh tế, chính trị ở khu vực Đông Nam
á. Đặc biệt, trong công trình này tác giả đã khái quát nền kinh tế vĩ mô Đông
Nam á cũng nh tình hình cụ thể của một số nớc, trong đó có Thái Lan.
Cuốn "T liệu kinh tế các nớc thành viên ASEAN", Nxb Thống kê, Hà
Nội, 2001 đến 2004, cung cấp cho chúng ta những số liệu đáng tin cậy về các
vấn đề nh: tổng sản phẩm quốc gia, cân đối thu chi ngân sách, dự trữ quốc tế,
nợ nớc ngoài
Ngoài các công trình trên, có khá nhiều bài viết về phát triển kinh tế-xã
hội của Thái Lan nh: Kinh tế Thái Lan: Sự lựa chọn chính sách phục hồi và
phát triển (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, Số 6 - 2000) và Thái Lan điều
chỉnh chính sách khuyến khích đầu t (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, Số 2
- 2001) của TS. Trơng Duy Hoà; Phát triển thiếu bền vững- Trờng hợp của
Thái Lan (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, số 4 - 2001) của PGS. TSKH.
Trần Khánh v.v.. Các bài nghiên cứu trên là các nguồn tài liệu tham khảo bổ

tơng đối mới của luận văn này so với các công trình nghiên cứu và xuất bản ở
Việt Nam mà chúng tôi tiếp cận đợc.
2.2 Tài liệu tham khảo: Luận văn sử dụng các nguồn tài liệu nh:
- Các t liệu có tính chất chung về lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội Thái Lan
- Các công trình khoa học, luận văn, luận án nghiên cứu về quá trình
phát triển kinh tế, chính trị, xã hội Thái Lan đã đợc bảo vệ.
- Các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học nh: Tạp chí nghiên cứu
Đông Nam á, Những vấn đề kinh tế thế giới, Tạp chí nghiên cứu quốc tế
- Hệ thống tin, bài về chủ đề nghiên cứu đăng trên các báo chí nh Báo
Đầu t, Báo Thơng mại, Báo Ngoại thơng
- Nguồn tài liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam.
- Nguồn tài liệu từ mạng Internet.
- Một số công trình nghiên cứu của các tác giả nớc ngoài đã dịch hoặc
bằng tiếng Anh.

13


3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục tiêu của đề tài này là làm rõ các giai đoạn phát triển kinh tếxã hội của Thái Lan từ những năm 60 của thế kỷ XX đến thập niên đầu thế kỷ
XXI, trong đó làm nổi bật những chiến lợc cơ bản, những thành tựu, thách
thức và triển vọng của quá trình phát triển đó.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm các vấn đề thuộc kinh tế xã hội nh sự biển đổi cơ cấu kinh tế, thu nhập và việc làm cũng nh phát triển
bền vững của Thái Lan trong khoảng gần nửa thế kỷ qua, kể từ khi nớc này đa
ra kế hoạch tổng thể và tiến hành một cách đồng bộ công nghiệp hoá đất nớc
(1960) cho đến nay. Để làm rõ các chính sách phát triển kinh tế - xã hội cũng
nh hiệu quả của chúng, chúng tôi có xem xét cả về các vấn đề chính trị, dân
chủ và văn hoá của Thái Lan, nhằm mục đích làm rõ thêm thành công và hạn
chế của họ trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
4. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu

văn gồm có 3 chơng:
Chơng 1. Khái quát về tình hình phát triển kinh tế - xã hội Thái Lan trớc
những năm 60 của thế kỷ XX.
Chơng 2. Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Thái Lan từ đầu những năm
60 đến 1997.
Chơng 3. Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Thái Lan từ 1997 đến 2009
và triển vọng.

nội dung
Chơng 1
Khái quát về tình hình phát triển kinh tế- xã hội Thái
Lan trớc những năm 60 của thế kỷ XX
1.1. Khái quát về đất nớc, con ngời và lịch sử Thái Lan
1.1.1. Đất nớc, con ngời

15


Thái Lan là một trong những nớc Đông Nam á có môi trờng tự nhiên
khá thuận lợi cho phát triển kinh tế, nhất là nông nghiệp. Nằm trải dài từ 5,27
tới 20,27 vĩ độ Bắc (dài khoảng 1620 km ) và 97,2 tới 105,37 độ kinh Đông
(khoảng 775 km), lại chịu tác động trực tiếp của gió mùa thổi từ ấn Độ Dơng
vào và từ vịnh Thái Lan lên vào những thời điểm khác nhau trong năm nên khí
hậu và động thực vật nớc này rất đa dạng, phong phú. Do đất đai màu mở,
diện tích canh tác lớn (vào đầu những năm 60 diện tích canh tác chiếm tới
41% tổng diện tích canh tác của cả nớc), lại nắng lắm, ma nhiều nên rất thuận
lợi cho phát triển lúa nớc, cây ăn quả và cây công nghiệp nhiệt đới. Thêm vào
đó, mạng lới sông ngòi dày đặc, đan xen khắp nớc, đặc biệt là có dòng sông
Chao Phraya chảy từ miền Bắc, đi qua đồng bằng miền Trung đổ vào Vịnh
Thái Lan, không những là hệ thống tới tiêu cho nông nghiệp, mà còn là huyết

chứa đựng nhiều tiềm năng du lịch. Nơi đây đã có một số khu nghỉ mát đợc
hình thành nh khu Pattaya, Bangxen và là một trong những trung tâm chung
chuyển hàng hoá của khu vực Đông Nam á.
Khu vực miền Tây: Gồm 14 tỉnh, chiếm khoảng 14% diện tích cả nớc.
Miền này đất đai màu mõ, đợc hởng nhiều phù sa do các cơn ma nhiệt đới dữ
dội mang lại. Do lợng ma lớn, khí hậu ẩm thấp, nên động thực vật nhiệt đới rất
phong phú và có nhiều khu rừng nguyên sinh rất hấp dẫn cho du lịch.
Khu vực miền Trung: Gồm 22 tỉnh thành và trung tâm là thủ đô
Băngkok. Đây là vùng đồng bằng, đất đai màu mở do dòng sông Chao Phray
bồi đắp có dân c trù phú, tốc độ đô thị hoá cao và kinh tế hàng hoá phát triển
và là vựa lúa của cả nớc. Nhờ có vùng đồng bằng này mà Thái Lan trở thành
nớc xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới.
Khu vực miền Nam: Có diện tích khoảng 48.000 km2. Đây là vùng đất
rất thích hợp với việc trồng các loại cây công nghiệp nh cao su, cà phê, bông
vải, mía đờng, thuốc lá, dứa, hạt tiêu và các nông sản nhiệt đới khác. Trong
lòng đất chứa nhiều khoáng sản quý nh thiếc, đồng, chì, kẽm. Đảo Phu - két là
nơi có mỏ thiếc đợc khai thác từ thế kỷ XIX có trữ lợng đứng hàng thứ ba
trong thế giới t bản và hàng thứ hai ở Đông Nam á sau Malaysia.
17


Nói tóm lại, điều kiện tự nhiên của nớc này rất thuận lợi cho việc phát
triển một nền nông nghiệp hoàn chỉnh với sự đa dạng hoá và chuyên môn hoá
của nhiều loại cây trồng vật nuôi của mỗi vùng miền trong cả nớc. Điều này
cho phép Thái Lan tận dụng mọi lợi thế của mình để tăng cờng và đa dạng hoá
xuất khẩu nông sản, nguyên liệu. Mặt khác nó cũng tạo ra tiền đề cho việc mở
rộng và phát triển mới nhiều ngành công nghiệp và dịch vụ.
Thái Lan là một quốc gia đa dân tộc. Trong đó ngời Thái là dân tộc chủ
thể, chiếm khoảng 85% dân số cả nớc. Trớc 1939 ngời Thái đợc gọi là ngời
Xiêm. Song ngời Thái thích gọi mình là ngời Thái vì nghĩa gốc của từ này là

khi có những xung đột về văn hoá dân tộc. Có khoảng 95% dân số ngời Thái
Lan theo Phật giáo (Phái Tiểu thừa với áo cà sa mầu vàng). Chỉ có khoảng 4%
dân số theo Hồi giáo (chủ yếu nguồn gốc Malai) và 1% theo Thiên chúa giáo.
Chùa chiền thờ Phật của ngời Thái từ bao đời nay là trung tâm hội tụ của cộng
đồng làng bản cổ truyền. Vòng đời của mỗi con ngời từ khi sinh ra cho đến
lúc trở về cõi vĩnh hằng gắn liền với chùa (tiếng Thái gọi là wat). Trớc đây
đứa trẻ mới sinh ra đợc đem đến chùa để đặt tên, lớn lên đi học ở chùa; đến
tuổi trởng thành nếu là nam vào chùa cắt tóc đi tu để tích đức cho mẹ, làm
tròn bổn phận của đinh nam, và khi chết cũng về bên phật để hoả táng tại
chùa. Ngày nay nhiều chức năng của chùa không đợc duy trì, nhng chùa vẫn
còn là linh hồn văn hoá của ngời Thái.
Do ngời Thái là dân tộc chủ thể, chiếm đại đa số trong cơ cấu dân c dân
tộc nên tiếng Thái trở thành ngôn ngữ quốc gia, phổ thông của tất cả các dân
tộc lớn nhỏ ở đất nớc này. Một vài thập kỷ gần đây tiếng Anh càng đợc sử dụng
nhiều hơn trong thơng mại, giáo dục và các phơng tiện thông tin đại chúng.
Ngoài các ngôn ngữ trên, các ngôn ngữ của các cộng đồng thiểu số vẫn đợc duy
trì trong giao tiếp ở phạm vi gia đình hay cộng đồng hẹp của họ. Tuy vậy, tính

19


phổ thông và phổ cập của tiếng Thái trong mọi cộng đồng dân c - dân tộc ở nớc
này là đặc điểm nổi bật của môi trờng ngôn ngữ Thái Lan.
Nói tóm lại, mặc dù Thái Lan là một nớc đa sắc tộc, nhng hầu nh không
có những xung đột về văn hóa. Dù là ngời Thái, ngời Hoa, ngời Khmer, ngời
Mon hay ngời Karen, song tất cả họ cùng sẻ chia những giá trị chung, coi
tiếng Thái nh một ngôn ngữ chính trong giao tiếp, giáo dục, hành chính và thơng mại. Đây là một môi trờng văn hoá thuần khiết, có lợi cho việc xây dựng
bản sắc dân tộc quốc gia - dân tộc Thái Lan.
1.1.2. Đôi nét về lịch sử
Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIII Thái Lan là một phần lãnh thổ của Vơng

đổ chế độ quân chủ chuyên chế, thiết lập chế độ quân chủ lập hiến. Chế độ
chính trị này tồn tại cho đến ngày nay. Mặc dù có những hạn chế, song cuộc
cải cách năm 1932 cũng đã tăng cờng địa vị của giai cấp t sản trong các lĩnh
vực kinh tế và xã hội Thái Lan. Từ đây Chính phủ Xiêm bắt đầu thông qua các
kế hoạch phát triển kinh tế của đất nớc. Mặc dù quyền hạn của tầng lớp địa
chủ, vơng công ngày càng bị hạn chế và đến nay đóng vai trò không lớn trong
đời sống chính trị, nhng nhà vua Thái Lan vẫn là trung tâm quyền lực trong
quá trình xây dựng và phát triển đất nớc. Hiến pháp chính thức đợc phê chuẩn
từ tháng 12 - 1932 và sau đó đợc điều chỉnh và bổ sung đến lần thứ 16 tuyên
bố rằng vua là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, là ngời đứng đầu nhà nớc, là
chỉ huy tối cao của lực lợng vũ trang, là một phật tử, là ngời bảo hộ các tôn
giáo và đợc kế ngôi theo kiểu quân chủ.
Ngày 24 - 6 - 1939 tên nớc đổi thành Thái Lan, nghĩa là vùng đất tự do.
Đồng thời Chính phủ Thái Lan do Pridi đứng đầu cũng cải tiến một số tập tục
giống phơng Tây nh nam nữ đều phải đi giầy, đội mũ kiểu châu Âu. Chơng
trình giáo dục phải thống nhất theo sách giáo khoa và bài thi do Bộ Giáo dục
quy định. Đạo Phật gắn với tinh thần yêu nớc và nuôi dỡng của ngời Thái.
Về đối ngoại, giai đoạn này quan hệ kinh tế với Nhật Bản đợc tăng cờng, hàng hoá Nhật Bản bắt đầu tràn vào thị trờng Thái Lan. Tham vọng về
lãnh thổ của ngời Thái đã nhen nhóm. Thái Lan đòi Pháp trả các lãnh thổ
Campuchia và Lào mà Pháp đã buộc Thái Lan nhợng bộ trong thời gian trớc. Sau
đó Thái Lan còn giành lại đợc nhiều lãnh thổ khác mà trớc đó bị mất.
Bớc vào những năm 60, sau khi bị thất bại trong việc thu hút vốn nớc
ngoài cho chơng trình phát triển công nghiệp của đất nớc, Chính phủ Thái Lan
21


lần lợt thực hiện các chiến lợc: Khuyến khích hợp tác đa thành phần, đa dân
tộc và kêu gọi đầu t nớc ngoài; Từ chiến lợc công nghiệp hoá thay thế nhập
khẩu đến u tiên xuất khẩu; Lấy xuất khẩu và dịch vụ làm đầu tàu cho tăng trởng kinh tế; Từ khai hoang phục hoá đến đa dạng cây trồng và vật nuôi;
Thông qua các kế hoạch tổng thể (kế hoạch 5 năm) để điều tiết vĩ mô. Có thế

thách thức to lớn đó, nhờ những biện pháp, chính sách đúng đắn của Chính
phủ Thaksin nền kinh tế Thái Lan dần dần phục hồi và phát triển, nền chính
trị, xã hội dần ổn định.
Nhng ngay sau đó Thái Lan lại lâm vào cuộc khủng hoảng chính trị mà
bùng phát mạnh từ cuộc đảo chính lật đổ Chính phủ Thaksin vào 19 - 9 2006. Từ đó đến nay khủng hoảng vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp gây những
hậu quả nặng nề tới ngành du lịch - ngành kinh tế quan trọng nhất của Thái
Lan, đồng thời khủng hoảng ảnh hởng nghiêm trọng tới mọi mặt đời sống
kinh tế- xã hội của đất nớc.
1.2. Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội Thái Lan trớc những
năm 60.
Cũng nh nhiều nớc khác trong khu vực Đông Nam á, trớc khi chủ
nghĩa t bản phơng Tây thâm nhập vào Thái Lan, vơng quốc này cũng tồn tại
một nền nông nghiệp mang tính chất tự cung tự cấp. Đại bộ phận c dân sống
bằng nghề làm ruộng. Mỗi gia đình nông dân đợc coi là một đơn vị kinh tế
độc lập. Ngoài việc trồng lúa, rau quả và săn bắt để đáp ứng nhu cầu của bản
thân, gia đình và đóng thuế cho nhà nớc, họ còn tự dệt lấy vải mặc. Nền nông
nghiệp này đã nuôi sống và đáp ứng nhu cầu phát triển của c dân Thái suốt
giai đoạn tiền t bản.
Bên cạnh nông nghiệp là thủ công nghiệp. Lúc này mới là những phờng
hội thủ công nghiệp chủ yếu ở các kinh đô. Sản phẩm thủ công nghiệp lúc này
chủ yếu để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của Hoàng gia, tầng lớp quý tộc thợng
lu và một phần dành cho xuất khẩu. Mô hình kinh tế - xã hội này của Thái
Lan đợc duy trì cho tới giữa thế kỷ XIX.

23


Vào những năm 50 của thế kỷ XIX trớc sức ép của chủ nghĩa t bản phơng Tây, đặc biệt là t bản Anh, mặc dù vẫn giữ đợc chủ quyền đất nớc, song
nhiều hiệp ớc bất bình đẳng đã đợc ký kết giữa Xiêm và Anh, và sau đó là một
loạt hiệp ớc với các nớc phơng Tây khác. Chính những hiệp ớc này đã làm

khẩu) và tạo ra hệ thống pháp lý để khuyến khích kinh doanh phát triển. Chính
phủ Thái Lan trong những thập niên 30 - 50 cho rằng cần phải xây dựng một
hệ thống xí nghiệp nhà nớc, dùng nó nh một công cụ điều tiết vĩ mô và hạn
chế sự bành trớng của chủ nghĩa t bản phơng Tây và Hoa Kiều.
T tởng xây dựng một nền công thơng nghiệp dân tộc và một hệ thống xí
nghiệp nhà nớc đã có từ cuối thế kỷ XIX, từ thời vua Chulalongkorn (RamaV)
lên cầm quyền. Ngay từ hồi đó một số xí nghiệp nhà nớc đã đợc hình thành
nhằm phục vụ cho mục đích công cộng và sinh họat của Hoàng gia.
Từ sau cách mạng 1932, giới quân sự trẻ có đầu óc dân tộc đã tiến hành
chính sách Thái hoá nền kinh tế nhằm hai mục đích:
Thứ nhất: Giành lại cho ngời Thái bản địa những quyền lợi kinh tế đang
nằm trong tay t bản nớc ngoài, đặc biệt là t bản ngời Hoa.
Thứ hai: Xây dựng một nền kinh tế công nghiệp dân tộc do ngời Thái
điều hành.
Để đạt đợc mục tiêu thứ nhất, Chính phủ Thái Lan vào cuối những năm
30 đầu những năm 40 đã lợi dụng sức mạnh chính trị, quân sự đang lên của
Nhật ở châu á để gạt bỏ những hiệp ớc bất bình đẳng mà phơng Tây bắt Thái
ký vào giữa thế kỷ XIX và hạn chế ảnh hởng của t nhân nớc ngoài. Những
biện pháp đợc áp dụng bao gồm:
(1) Thiết lập độc quyền của nhà nớc về ngoại thơng; thi hành những
chính sách bảo hộ tự do mậu dịch bằng việc đánh thuế rất cao vào các hàng
ngoại nhập.
(2) Nhà nớc độc quyền kinh doanh các ngành công nghiệp có lợi nhuận
cao, ví dụ nh thuốc lá...
(3) Kiểm tra chặt chẽ việc xuất nhập khẩu của các xí nghiệp mới đợc
khai trơng.
(4) Tăng cờng thiết lập các xí nghiệp nhà nớc.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status