Chơng I:
Tầm quan trọng của công tác xoá đói giảm nghèo
trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của vùng
miền núi phía Bắc.
I.
Mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế và cải thiện đời
sống nhân dân.
1.
Mục tiêu của sự phát triển
"Phát triển " là một phạm trù lịch sử. Mọi quốc gia đều hớng đến mục
tiêu cuối cùng là phát triển. Hầu hết mọi lý thuyết, mô hình kinh tế đều hớng
đến mục tiêu là phát triển. Nhng phát triển là gì ? Cùng với dòng chảy của
lịch sử với những sự kiện nối nhau xảy ra liên tiếp, với sự hiểu biết về thế
giới của con ngời ngày càng trở nên rõ nét hơn, sâu sắc hơn và đầy đủ hơn
thì quan niệm của con ngời về vấn đề phát triển cũng có những thay đổi đáng
kể.
Sau Chiến tranh thế giới II, các nớc Châu Âu và Nhật Bản bị tàn phá
nặng nề, một loạt các nớc trớc đây là thuộc địa của thực dân đã giành đợc
độc lập. Cả thế giới hăng hái bớc vào một giai đoạn mới: Tái thiết nền kinh
tế của các nớc phát triển và bắt đầu phát triển kinh tế của các nớc thuộc Thế
giới thứ ba.
1.1
Tăng trởng kinh tế
Trong những năm 50 và 60 của thế kỷ thứ 20, thời kỳ sau Chiến tranh
thế giới II, t duy kinh tế bao trùm là mô hình 5 giai đoạn phát triển kinh tế
của Rostow, hay ngời ta còn gọi là t duy "những giai đoạn tăng trởng kinh tế
tuần tự ". Nội dung chính của mô hình này, nh tên gọi của nó, là mô tả các
giai đoạn trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia từ giai đoạn đầu
kinh tế của hầu hết các nớc đang phát triển đạt đợc những kết quả vợt quá
mục tiêu tăng trởng của Liên Hợp Quốc. Nhng vào thời điểm đó, nhận thức
về vấn đề phát triển lại có chiều hớng thay đổi. Sở dĩ nh vậy là vì, ngời ta
nhận ra rằng tỷ lệ tăng trởng khá cao của các nớc đang phát triển dờng nh
đem lại rất ít lợi ích cho ngời nghèo ở những nớc đó. Tình trạng đói nghèo
không hề đợc cải thiện, thâm chí còn có xu hớng xấu đi. Tình cảnh của ngời
dân ở Thế giới thứ ba đợc mô tả nh sau: "Hàng trăm triệu ngời đang không
chỉ là nghèo nàn theo giá trị thống kê mà còn phải chịu đựng sự thiếu thốn
hàng ngày làm giảm phẩm giá của con ngời đến những mức số liệu thống kê
không thể mô tả nổi...Hai phần ba số trẻ em (những trẻ em trên 5 tuổi) chậm
phát triển cả về thể chất và tinh thần do bị suy dinh dỡng. Có thêm chừng vài
trăm triệu ngời lớn bị mù chữ so với hơn 20 năm trớc. Giáo dục và việc làm
rất khan hiếm, sự nghèo khổ, bẩn thỉu và đình trệ rất phổ biến..."1
Các nớc phát triển cũng gặp phải những vấn đề nghiêm trọng đang
ngày càng gia tăng nh: ô nhiễm nguồn nớc và không khí; cạn kiệt tài nguyên
thiên nhiên; bất bình đẳng trong phân phối thu nhập gây ra sự bất ổn định về
chính trị; biểu tình, đình công do nạn thất nghiệp gia tăng; tệ nạn xã hội
ngày càng phổ biến...
Đã đến lúc ngời ta phải thay đổi quan niêm về phát triển. Bởi vì, rõ
ràng là tốc độ tăng trởng kinh tế nhanh trong điều kiện tình trạng đói nghèo
ở Thế giới thứ ba không đợc cải thiện hay thu nhập bình quân đầu ngời cao ở
các nớc phát triển kèm theo những vấn đề xã hội và môi trờng ngày càng
nghiêm trọng không phải là những gì ngời ta mong đợi ở một sự phát triển
thực sự!
1.2
Phát triển kinh tế.
Đầu những năm 70, trọng tâm của sự phát triển chuyển từ tăng trởng
kinh tế thuần tuý sang việc nhấn mạnh vào chất lợng cuộc sống. Định nghĩa
2
Nhiều hoạt động sản xuất ở những nớc đang phát triển mang
tính chất tự cấp tự túc, giá trị sản phẩm không đợc tính vào GNP.
Nhiều sản phẩm đợc tính là hàng hoá, dịch vụ cuối cùng ở các
nớc đang phát triển lại đợc tính vào hàng hoá, dịch vụ trung gian của các
nớc đang phát triển.
Tỷ giá hàng hối đoái để quy đổi đồng tiền của một nớc sang
đồng đôla Mĩ không chính xác vì không phải mọi hàng hoá của các nớc
đang phát triển đều trở thành hàng hoá thơng mại quốc tế.
Để khắc phục những hạn chế này ngời ta đa ra phơng pháp sử dụng
sức mua ngang giá (PPP). Tuy nhiên, ngay cả khi điều chỉnh GNP?ngời theo
ngang giá sức mua thì thớc đo này cũng không thể hiện đợc sự biến đổi về
mặt xã hội của con ngời trong các quốc gia. Do vậy, để
có thể so sánh trình độ phát triển kinh tế của các nớc thì ngời ta cần phải
1
3
có thêm các chỉ số tổng hợp để thể hiện mức độ phúc lợi xã hội ( giáo dục, y
tế ... ) mà ngời dân nhận đợc.
Chỉ số chất lợng vật chất của cuộc sống (PQLI)
Chỉ số này đợc tính căn cứ vào 3 yếu tố: tỷ lệ chết yểu, tỷ lệ biết chữ
và tuổi thọ trung bình. Tỷ lệ trẻ em chết yểu thể hiện chất lợng của công tác
y tế, chăm sóc sức khoẻ của ngời mẹ, sự trong sạch của môi trờng, mức độ
sẵn có của nớc sạch...Tuổi thọ trung bình phản ánh mức độ chăm sóc chung
Cách tiếp cận này đã đa đợc một phần lớn hiệu quả các hoạt động
phúc lợi xã hội và một chỉ số tổng hợp. Tuy nhiên, chỉ số chất lợng vật chất
Chỉ số nghèo khổ là thớc đo tổng hợp đánh giá sự nghèo đói đa chiều
và sự thiệt thòi của con ngời. HPI xem xét vấn đề nghèo đói và thiệt thòi
thông qua các khía cạnh : cuộc sống lâu dài, khoẻ mạnh; sự đảm bảo về kinh
tế và sự hội nhập về xã hội.
Hai cách tiếp cận trình bày ở trên (PQLI và BNA) chỉ có ý nghĩa khi
xem xét nền kinh tế của quốc gia đang phát triển; trong khi đó HPI đa ra hai
hệ thống chỉ tiêu riêng biệt cho các nớc phát triển và đang phát triển.
Đối với các nớc đang phát triển, HPI gồm có:
-Tỷ lệ ngời dự kiến không sống qua 40 tuổi.
-Tỷ lệ ngời mù chữ.
-Tỷ lệ ngời không đợc tiếp cận với các dịch vụ y tế, nớc sạch.
Đối với các nớc phát triển, HPI gồm có:
-Tỷ lệ ngời dự kiến sống không quá 60 tuổi.
-Tỷ lệ ngời cha đạt tiêu chuẩn đọc, viết.
-Tỷ lệ số ngời nghèo về thu nhập.
-Tỷ lệ ngời thiệt thòi trong hoà nhập xã hội.
Chỉ số phát triển con ngời (HDI)
Chỉ số phát triển con ngời dùng để tính trung bình các thành tựu về
phát triển con ngời, đó là các thành tựu về những năng lực cơ bản nhất của
con ngời nh: sức khoẻ, tri thức...
Phát triển con ngời là một quan điểm thể hiện sự nhận thức về con ngời nhấn mạnh vào việc mở rộng khả năng chọn lựa của họ trên cả hai mặt: sự
hình thành các năng lực con ngời và cơ hội sử dụng những năng lực đã tích
luỹ đợc cho mục đích sản xuất, giải trí và các hoạt động khác về văn hoá,
chính trị, xã hội, nghệ thuật...
Xuất phát từ quan điểm phát triển con ngời nhìn nhận con ngời một
cách toàn diện vừa là yếu tố đầu vào của quá trình phát triển kinh tế, vừa là
đối tợng thụ hởng lợi ích từ phát triển-chỉ số HDI là một chỉ số tổng hợp và
toàn diện-không quá thiên về tăng trởng đơn thuần nh GNP/ngời cũng không
đối có thể đợc định nghĩa nh là sự chênh lệch về mức sống giữa bộ phận
dân c này với một bộ phận dân c khác.
Tại các nớc công nghiệp phát triển, sự tơng phản giữa tầng lớp những
nhà tỷ phú sống tại các biệt thự sang trọng và tầng lớp những ngời làm công
theo giờ sống trong các căn hộ cho thuê rẻ tiền hay những ngời da đen sống
chui rúc trong các căn nhà ổ chuột chính là một minh chứng cho sự nghèo
khổ tơng đối. Trong khi đó, ở các nớc đang phát triển, sự nghèo khổ tơng đối
lại biểu hiện ở chỗ khi tốc độ tăng trởng kinh tế cao, thu nhập bình quân đầu
ngời tăng lên nhanh chóng thì cuộc sống của những ngời dân nghèo hầu nh
không đợc cải thiện gì cả.
Nghèo đói tơng đối liên quan đến một khái niệm mà ngời ta thờng gọi
là bất bình đẳng trong phân phối thu nhập. Bất bình đẳng trong phân phối
thu nhập chính là sự khác biệt giữa mức thu nhập mà các cá nhân khác nhau
trong xã hội nhận đợc. Thực ra dùng cụm từ "sự khác biệt trong phân phối
thu nhập " hay hơn là "bất bình đẳng trong phân phối thu nhập" bởi cụm từ
thứ hai này tỏ ra chủ quan và tiêu cực. (Thật vậy, giả sử có hai ngời A và B.
Mỗi ngời đều nhận đợc thù lao là 15.000VND/giờ làm việc. A chăm chỉ hơn,
làm việc 8 giờ/ngày nên nhận đợc 120.000VND/ngày. B chỉ làm 6 giờ/ngày
nên nhận đợc 90.000VND/ngày. Vậy sự phân phối thu nhập nh trên là công
bằng hay bất công ?)
Trong thực tế, sự việc còn phức tạp hơn nhiều. Mọi ngời khác nhau
không chỉ ở ý thức làm việc mà còn ở sức khỏe, khả năng (thông minh, thạo
nghề), cơ hội kiếm việc...Đó mới chỉ nói đến sự khác biệt trong phân phối
thu nhập theo lao động. Ngoài ra còn có sự phân phối theo tài sản (lãi suất
tiết kiệm, đầu t chứng khoán...)
Để đánh giá mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, ngời ta
thờng sử dụng hai công cụ là: Đờng cong Lorenz và hệ số Gini.
a) Đờng cong Lorenz
6
số thu
nhập cao
20% dân số
thu nhập
cao nhất
5%
10%
15%
20%
50%
Từ bảng trên suy ra:
20% dân số thu nhập thấp nhất chiếm
5% tổng thu nhập.
40% .................................................... 5+10= 15% tổng thu nhập.
60%.....................................................15+15= 30% tổng thu nhập.
80%.....................................................30+20= 50% tổng thu nhập.
100%....................................................50+50=100% tổng thu nhập.
Ta có các điểm biểu diễn quan hệ giữa % dân số và % thu nhập nh
sau: C(20%,5%); D(40%,15%); E(60%,30%); F(80%,50%); B(100%,100%).
Đ ờng cong Lorenz
% thu nhập cộng dồn
100
ý nghĩa đờng Lorenz:
- Đờng chéo OB là đờng bình đẳng tuyệt đối. Sở dĩ nh vậy là vì
mọi điểm trên đờng này đều biểu thị 1% dân số bất kỳ tơng ứng với 1% tổng
7
thu nhập, nói cách khác 20% dân số bao giờ cũng chiếm thu nhập là 20%
tổng thu nhập toàn xã hội.
- Đờng gấp khúc OAB là đờng bất bình đẳng tuyệt đối bởi nó chỉ
ra một cá nhân (A) trong xã hội nhận đợc toàn bộ thu nhập của nền kinh tế
còn những ngời khác thì không nhận đợc gì cả.
Trên thực tế thì không tồn tại sự bình đẳng hay bất bình đẳng hoàn
toàn, do đó, đờng Lorenz của một quốc gia luôn nằm đâu đó giữa 2 đờng OB
và OAB.
Đờng cong Lorenz cung cấp một phơng pháp dễ dàng (trong việc xây
dựng) và trực quan (trong việc sử dụng) để đo lờng và đánh giá mức độ bất
bình đẳng trong phân phối thu nhập của một quốc gia. Nhng trong một số trờng hợp sẽ rất khó khăn khi dùng đờng Lorenz để so sánh mức độ bất bình
đẳng trong phân phối thu nhập giữa hai quốc gia khác nhau.
Hệ số Gini
Hệ số Gini đợc đa ra vào năm 1912, mang tên nhà thống kê học ngời
So sánh hai đ ờng cong Lorenz
%thu nhập cộng dồn
100
80
60
40
20
Do đó về mặt lý thuyết thì G = [0,1].
Hệ số Gini càng lớn (khi đờng Lorenz càng xa đờng chéo 450) thì mức
độ bất bình đẳng trong thu nhập càng tăng.
8
Theo nhận xét của Ngân hàng Thế giới thông qua những số liệu thu
thập đợc ở nhiều nớc trong nhiều năm thì các nớc có thu nhập thấp hệ số
Gini trong khoảng từ 0,3 đến 0,5; các nớc có thu nhập trung bình từ 0,4 đến
0,6; các nớc có thu nhập cao thì hệ số này biến động trong khoảng từ 0,2
đến 0,4.
Hệ số Gini đã khắc phục đợc hạn chế của đờng cong Lorenz khi sử
dụng để so sánh mức đọ bất bình đẳng giữa hai hay nhiều quốc gia. Tuy
nhiên, trong một số trờng hợp, hệ số Gini cũng mới chỉ đa ra đợc những
nhận định mang tính chất tổng quát nhất mà cha đa ra đợc một kết luận cụ
thể.
Mêhi cô
Pêru
Hệ số
Gini
0,58
0,57
20% dân số
thu nhập
thấp nhất
2,9%
1,9%
2.2
Nghèo đói tuyệt đối
Trong khi nghèo đói tơng đối là một hiện tợng phổ biến ở mọi châu
lục, mọi quốc gia, mọi xã hội thì nghèo đói tuyệt đối lại chỉ giới hạn phần
lớn tại các nớc đang phát triển. Một cách cụ thể nghèo đói tuyệt đối chính là
thực trạng "đang làm cho hàng tỷ ngời không có đợc ngay cả một mứ sống
tối thiểu chấp nhận đợc."1
Ngỡng của s nghèo đói tuyệt đối đợc định nghĩa là mức thu nhập
không đủ cung cấp những nhu cầu cần thiết nhất về dinh dỡng.
Nhng "những nhu cầu thiết yếu nhất về dinh dỡng " là gì ? Khi đi sâu
vào vấn đề kĩ thuật tính toán thì có rất nhiều cách xác định khác nhau.
Vào năm 1975, Ngân hàng Thế giới đa ra khái niệm về nghèo đói
tuyệt đối: ngời nghèo tuyệt đối là ngời có thu nhập thấp hơn mức dủ cung
cấp 2000 calo/ngời/ngày (tính theo mức giá chung lúc đó là dới 200USD/ngời/năm).
ở Việt Nam có 4 cơ quan , tổ chức đa ra cách tính chuẩn nghèo đói
khác nhau. Đó là: Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức lao động quốc tế
(ILO), Tổng cục thống kê và Bộ Lao động-Thơng binh và Xã hội. Trong đó
có hai cách phổ biến hơn cả là chuẩn của Ngân hàng Thế giới và Bộ Lao
động-Thơng binh Xã hội.
Ngân hàng Thế giới xây dựng hai ngỡng nghèo: nghèo về lơng thực
(căn cứ vào số tiền cần thiết để mua lơng thực) và nghèo chung ( căn cứ vào
tổng số tiền để mua lơng thực, thực phẩm và chi tiêu cho các sản phẩm phi lơng thực khác).
9
Ngỡng nghèo lơng thực thực phẩm là lợng thức ăn tiêu thụ phải đáp
ứng nhu cầu dinh dỡng với mức 2000-2200 Kcalo (chuẩn năm 1998) tơng đơng với mức thu nhập là 1.286.833 đồng/ngời/năm. Ngỡng nghèo chung năm
1998 là 1.789.833 đồng/ngời/năm. Theo cách tính trên, dựa vào Điều tra
mức sống dân c, tỷ lệ nghèo đói của Việt Nam năm 1998 nh sau:
Tỷ lệ nghèo đói qua các năm theo chuẩn của
Bộ Lao động-Thơng binh và Xã hội.
Năm
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
Tỷ lệ nghèo đói (%)
30,01
26,00
23,14
20,37
19,23
17,70
15,70
13-14
Nguồn: Nguyễn Hải Hữu-Vụ trởng vụ Bảo trợ Xã hội, Báo cáo tại hội thảo
chuẩn nghèo đói tại Việt Nam , 15-16/2/2000.
Đến năm 2000, để phù hợp với điều kiện mức sống của dân c đã đợc
nâng cao, Bộ Lao động Thơng binh và Xã hội và Tổng cục Thống kê đã điều
chỉnh chuẩn nghèo đói và đa ra chuẩn nghèo mới (áp dụng từ năm 2001) 3:
-Nông thôn miền núi, hải đảo: dới 80.000đồng/ngời/tháng.
-Nông thôn đồng bằng: dới 100.000đồng/ngời/tháng.
20/5/1997.
3Theo Quyết định 1143/2000/QĐ-LĐTBXH.
Giữa tăng trởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo cũng có mối quan hệ
mật thiết với nhau. Tăng trởng kinh tế nhanh (biểu hiện ở tốc độ tăng quy
mô GNP và GNP/ngời cao) góp phần làm tăng nhanh tổng sản phẩm xã hội,
do đó, mở rộng khả năng tài chính, tạo điều kiện xoá đói giảm nghèo. Nhung
bản thân sự tăng trởng nhanh lại không tự nhiên dẫn đến sự cải thiện đời
sống của một bộ phận dân c có thu nhập thấp nhất. Sở dĩ nh vậy là vì việc ai
đợc hởng lợi bao nhiêu từ tăng trởng kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào cách
thức phân phối nguồn thu nhập mà đằng sau đó là những thể chế, chính sách
kinh tế của Nhà nớc.
Đổi lại, xoá đói giảm nghèo góp phần nâng cao mức sống của một
phần lớn dân c nên năng suất lao động của họ đợc cải thiện; họ có khả năng
tiêu dùng nhiều hơn và có khả năng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế
(thay vì bị gạt ra ngoài rìa và chỉ đóng vai trò là ngời thụ động trong mọi quá
trình phát triển). Do đó, xoá đói giảm nghèo góp phần thúc đẩy tăng trởng
kinh tế, hơn thế nữa, góp phần quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế.
Tóm lại, mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, tăng trởng kinh tế và xoá
đói giảm nghèo có thể đợc tổng kết lại một cách vắn tắt nh sau: "Phát triển
kinh tế đợc định nghĩa lại trên cơ sở hạn chế và xoá bỏ nạn nghèo đói, bất
bình đẳng và thất nghiệp trong bối cảnh của một nền kinh tế đang tăng trởng."1
1
2
11
3.
Các quan điểm về mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế và cải
thiện đời sống nhân dân.
12
Hệ số Gini
0.6
0.4
0.2
0
GNP/ng ời
S.Kuznet mới chỉ nêu ra một nhận xét mang tính chất tổng quát mà
cha giải đáp hai vấn đề quan trọng. Thứ nhất là tại sao mối quan hệ giữa mức
độ tăng trởng kinh tế và sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập lại diễn
ra theo chiều hớng đó ? Thứ hai là liệu Chính phủ có thể tác động gì vào sự
biến đổi của xu thế đó hay không ?
Cho đến nay, một số cuộc điều tra lấy số liệu chéo (số liệu của nhiều
quốc gia thuộc nhiều mức thu nhập trong cùng một thời điểm) vẫn cho kết
quả theo đúng nh giả thuyết của S.Kuznet. Những ngời ủng hộ S. Kuznet đa
ra một số lập luận nhằm biện hộ cho tính tất yếu khách quan của mô hình
chữ U ngợc. Lập luận thứ nhất nói đến tính chất nhị nguyên của nền kinh tế
một nớc đang phát triển. Theo họ, một nền kinh tế đang phát triển
đợc đặc trng bởi tính nhị nguyên, nghĩa là gồm hai khu vực. Một khu vực
kinh tế hiện đại có năng suất và thu nhập cao, công nghệ tiên tiến. Một khu
vực kinh tế truyền thống, chủ yếu là hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp
năng suất thấp, thu nhập thấp thờng chỉ ở mức đủ sinh tồn. Quá trình phát
3.2
Quan điểm của W.Arthur.Lewis
W.Arthur.Lewis là nhà kinh tế học ngời Tây ấn, gốc Jamaica. Ông là
một đại diện tiêu biểu cho trờng phái "tăng trởng trớc, phân phối sau". Trong
cuốn "Lý thuyết về tăng trởng kinh tế " năm 1955, khi phản bác lại những trờng phái kinh tế nhấn mạnh về xoá đói giảm nghèo, công bằng xã hội trong
quá trình tăng trởng kinh tế, ông đã viết: "Chúng ta đòi xoá bỏ nghèo đói,
mù chữ và bệnh tật, nhng chúng ta lại bám chặt một cách tuyệt vọng vào
những tín ngỡng, thói quen và cơ cấu xã hội mà chúng ta thích, ngay cả khi
điều này chính là nguyên nhân của sự nghèo nàn mà chúng ta lấy làm tiếc."
Ông khẳng định rằng "Vấn đề của chúng ta là tăng trởng chứ không phải là
phân phối."
Quan điểm của W.Arthur.Lewis đợc thể hiện qua mô hình hai khu vực
nhằm giải thích cách thức phân phối thu nhập thông qua quá trình chuyển
dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp. Mô hình
này đợc đa ra dựa trên một số các giả định nh sau:
-Khu vực nông nghiệp truyền thống có năng suất lao động rất
thấp, không có tiến bộ về vốn và công nghệ, mức lơng đợc duy trì ở mức tiền
lơng tối thiểu (theo "quy luật sắt về lơng bổng" của David Ricardo), luôn có
một bộ phận lao động d thừa.
-Khu vực công nghiệp hiện đại có năng suất lao động cao, các
nhà t bản dành toàn bộ lợi nhuận thu đợc nhằm tái đầu t mở rộng sản xuất,
công nhân không tiết kiệm mà luôn tiêu hết tiền mà họ nhận đợc.
Do tính chất của khu vực nông nghiệp là lợi nhuận giảm dần nên để
tăng trởng kinh tế cần phải chuyển một bộ phận lao đôngj sang khu vực công
nghiệp.
Để thu hút nhân công từ khu vực nông nghiệp sang, các nhà t bản cần
trả cho họ một mức lơng đủ lớn để lôi kéo họ chuyển ra khỏi khu vực sản
xuất truyền thống. Lewis cho rằng mức lơng công nghiệp sẽ cao hơn mức lơng trong nông nghiệp khoảng 30%.
Trong thời kỳ đầu, với mức lơng công nghiệp không đổi nh vậy thì
cung lao động từ nông thôn đợc coi là hoàn toàn co dãn.
rộng sản xuất các nhà t bản phải tăng tiền lơng trong khu vực công nghiệp
nhằm giữu vững khoảng cách về chênh lệch thu nhập giữa hai khu vực để
tiếp tục thu hút lao động từ nông nghiệp sang.
-Tiền công trong khu vực công nghiệp chuyển từ wk sang w'k (>wk)
Ta thấy: trong giai đoạn 1, thu nhập của đại bộ phận ngời lao động
không hề đợc cải thiện (do mức lơng đợc duy trì ở mức tiền lơng tối thiểu
hoặc hơn thế một chút), trong khi đó, mọi thành quả đều nằm trong tay các
15
nhà t bản -những ngời ngày càng giàu thêm do tính hiệu quả kinh tế đợc mở
rộng theo quy mô. Trong giai đoạn 2, tình hình phân phối bất bình đẳng mới
dần đợc cải thiện thông qua sự tăng dần trong mức tiền lơng của công nhân.
Tóm lại, theo Lewis, sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập không
chỉ là kết quả mà còn là điều kiện của tăng trởng kinh tế. Bất bình đẳng là
điều kiện tiền đề cần thiết cho bất kỳ một sự tăng trởng nào, bởi thu nhập có
lợi cho những ngời giàu sẽ làm tăng mức tích luỹ, đầu t cho nền kinh tế. Do
vậy, các cố gắng để phân phối lại thu nhập "một cách hấp tấp, vội vã" sẽ dẫn
đến nguy cơ bóp nghẹt tăng trởng kinh tế.
3.3
Quan điểm của Harry Oshima
Harry Oshima là nhà kinh tế học ngời Nhật-tác giả của cuốn sách
"Tăng trởng kinh tế ở châu á gió mùa". Chủ trơng của H.Oshima là tăng trởng đi đôi với công bằng trong phân phối thu nhập. Để thực hiện điều đó,
H.Oshima quan tâm đến việc phát triển nông thôn ở giai đoạn đầu của tăng
trởng, sau đó, chính sự phát triển ở khu vực kinh tế truyền thống sẽ thúc đẩy
sự phát triển của các ngành kinh tế hiện đại nh công nghiệp và dịch vụ.
Chịu ảnh hởng của mô hình hai khu vực và t tởng lợi nhuận trong
nông nghiệp giảm dần của David Ricardo, Oshima cũng định hớng phát triển
phải chú trọng vào thúc đẩy sản xuất công nghiệp. Tuy nhiên, do đặc trng
của lao động ở nông thôn là có tính thời vụ, lúc thừa lúc thiếu nên Oshima
hơn cho giống cây trồng, phân bón, thuốc trừ sâu và công cụ lao động. Thêm
vào đó, Nhà nớc cũng nên hỗ trợ khu vực nông nghiệp trong công tác thuỷ
lợi, cung cấp các mặt hàng phục vụ nông nghiệp, vận chuyển các mặt hàng
nông sản, tìm kiếm đầu ra cho nông sản, cung cấp các dịch vụ xã hội cho
nông thôn nh hệ thống y tế, giáo dục, nớc sạch ... Các tổ chức tín dụng, các
tổ chức dịch vụ trong nông nghiệp ( nh hợp tác xã, trạm khuyến nông, trạm
thú y...) cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp nông dân dễ dàng tiếp
cận với những nguồn vốn, tiếp thu các kỹ thuật mới đem lại hiệu quả cao
trong sản xuất. Nh vậy, nhờ sự giúp đỡ của Nhà nớc, với sự hỗ lực cuả bản
thân ngời nông dân, nông nghiệp sẽ đợc thúc đẩy phát triển nhanh chóng.
(b) Giai đoạn có việc làm đầy đủ
Sự phát triển của nông nghiệp đạt đến một mức độ nhất định sẽ cho
phép đa dạng hoá ngành nghề ở nông thôn. Bên cạnh khu vực sản xuất nông
nghiệp thuần tuý, nông dân còn tiến hành các hoạt động chế biến lơng thựcthực phẩm, đồ uống, đồ gỗ, thủ công mỹ nghệ... Điều này sẽ kéo théọ phát
triển của các ngành cung cấp đầu vào và giải quyết đầu ra cho sản phẩm nh
ngành vận tải, tín dụng, hoá chất, cơ khí, công nghiệp thực phẩm...
Do đó, chính sự phát triển của nông nghiệp đã thúc đẩy sự phát triển
của các ngành công nghiệp và dịch vụ thông qua việc tăng cầu đối với sản
phẩm của các ngành này. Khi quy mô của các ngành công nghiệp và dịch vụ
tăng lên, đòi hỏi về số lợng nhân công hoạt động trong các ngành này cũng
tăng lên. Quá trình di dân từ khu vực nông thôn ra thành thị bắt đầu và diễn
ra trong một khoảng thời gian tơng đố dài cho đến khi tốc độ tăng việc làm
vợt quá tốc độ tăng lao động. Khi đó, thị trờng lao động thu hẹp lại, tiền
công bắt đầu tăng lên, sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giảm
xuống.
(c) Giai đoạn sau khi có việc làm đầy đủ
Công nghiệp phát triển thúc đẩy nông nghiệp phát triển mạnh nhờ vào
việc áp dụng các máy móc hiện đại nhằm thay thế sức ngời ở nông thôn. Bên
cạnh đó, việc áp dụng công nghệ sinh học và các kỹ thuật mới trong thâm
canh cây trồng cũng làm cho sản lợng của khu vực nông nghiệp không
cụ thể là chỉ ra một cách rõ ràng sự bất công trong phân phối thu nhập giữa
ngời công nhân và nhà t bản trong quá trình tồn tại và phát triển của chủ
nghĩa t bản.
Theo K.Marx có bốn yếu tố của tăng trởng kinh tế. Đó là: vốn, công
nghệ tài nguyên và lao động. Sự phân phối trong chế độ t bản chủ nghĩa đợc
thực hiện theo nguyên tắc mọi yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất đều
nhận đợc thu nhập: ngời công nhân nhận tiền công (do lao động), địa chủ
nhận đợc địa tô (do cho thuê đất), nhà t bản đợc hởng lợi nhuận (do vốn bỏ
vào sản xuất ). Tiền công của ngời lao động luôn chỉ đợc duy trì ở mức tiền
lơng tối thiểu (vì luôn có "đội quân thất nghiệp hùng hậu"). Nhà t bản sử
dụng một phần giá trị thặng d cho tiêu dùng còn một phần tiếp tục tái đầu t
mở rộng sản xuất và lại thu đợc phần thặng d lớn hơn.
K.Marx cho rằng trong bốn yếu tố của tăng trởng kinh tế. yếu tố lao
động là quan trọng nhất, là yếu tố "động nhất, cách mạng nhất". Chỉ có lao
động mới phối hợp đợc ba yếu tố còn lại với nhau tạo ra giá trị thặng d - là
mục tiêu của tăng trởng kinh tế. Nói cách khác, nguồn gốc duy nhất của giá
trị thặng d chính là lao động. Thế nhng khi thực hiện việc phân phối thu
nhập theo tài sản (theo các yếu tố tham gia sản xuất) nh trên thì nhà t bản đã
chiếm không phần giá trị thặng d do chính lao động của ngời công nhân tạo
ra. Đó chính là nguyên nhân gây ra sự phân phối bất bình đẳng trong xã hội
t bản mà biểu hiện của nó là đại bộ phận những ngời công nhân chỉ sống ở
mức tối thiểu trong khi các nhà t bản đã giàu có ngày càng trở nên giàu
thêm. K.Marx cũng chỉ ra rằng sự phân phối theo tài sản là không công
bằng, gây ra sự phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng giữa các giai cấp khác
nhau trong xã hội.
18
Nh vậy, học thuyết của K.Marx thể hiện hai t tởng mang tính chất thời
những tính chất và phơng diện mới.
Năm 1986 đánh dấu một bớc ngoặt trong lịch sử phát triển của Việt
Nam. Nền kinh tế nớc ta chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan
liêu bao cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản
lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Tốc độ tăng trởng kinh tế
hàng năm đợc cải thiện rõ rệt. Vị trí của Việt Nam đợc nâng cao ở khu vực
cũng nh trên trờng quốc tế. Tuy nhiên, cho đến năm 2000, thu nhập bình
quân đầu ngời của Việt Nam mới đạt khoảng 400 USD - thuộc vào
1,2
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, NXB CTQG H.1995.
loại thấp nhất thế giới. Tỷ lệ đói nghèo của Việt Nam cũng vào loại rất cao.
Theo chuẩn của bộ Lao động Thơng binh và Xã hội, tỷ lệ nghèo đói của Việt
19
Nam năm 1992-1993 vào khoảng 30% còn theo đánh giá của Ngân hàng
Thế giới thì vào khoảng 58%. Đến năm 1999, tỷ lệ nghèo đói theo chuẩn của
bộ Lao động Thơng binh và Xã hội là 13% còn theo WB là 37% (nghèo
chung) và 15% (nghèo về lơng thực). Bên cạnh đó, do sự tác động của cơ chế
thị trờng, hiện tợng phân hoá giàu nghèo cũng diễn ra ở nhiều vùng, nhiều
địa phơng với mức độ khác nhau. Do vậy, trong thời kỳ đổi mới, việc giảm
nghèo đói ở nớc ta gắn liền với hai nhiệm vụ quan trọng là hạn chế sự phân
hoá giàu nghèo, bất bình đẳng trong xã hội và tấn công trực diện vào đói
nghèo. Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Đảng đã khẳng định "Cùng với
quá trình đổi mới, tăng trởng kinh tế phải tiến hành công tác xoá đói giảm
nghèo, thực hiện công bằng xã hội, tránh sự phân hoá giàu nghèo quá giới
hạn cho phép."
Về việc thực hiện hạn chế phân hoá giàu nghèo, Đảng đã chỉ rõ "tăng
mạng xã hội chủ nghĩa cao quí, là một chính sách xã hội cơ bản của quốc
20
gia, có ý nghĩa to lớn cả về kinh tế - chính trị và an ninh quốc phòng mang
tính nhân văn sâu sắc và phát huy bản chất tốt đẹp của dân tộc. Do đó, xoá
đói giảm nghèo là nhiệm vụ chính trị - xã hội trọng tâm của toàn Đảng, toàn
dân. "
Để cụ thể hoá những chủ trơng về xoá đói giảm nghèo Nhà nớc đã ban
hành nhiều chính sách kinh tế - xã hội, thực hiện các chơng trình, dự án tập
trung vào phát triển nông thôn, nông nghiệp - khu vực tập trung số đông ngời
nghèo khổ cùng với những chính sách hỗ trợ nhiều mặt đối với các vùng khó
khăn nh đồng bằng sông Cửu Long, Bắc Trung Bộ và miền núi phía Bắc.
II.
Công tác xoá đói giảm nghèo trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hội vùng miền núi phía bắc.
1. Phát triển kinh tế-xã hội vùng miền núi phĩa Bắc-Vai trò và ý nghĩa.
Vùng miền núi phía Bắc nằm trong toạ độ địa lý từ 20030' đến 23024'
vĩ độ Bắc, 102 đến 108005' kinh độ Đông; phía Bắc tiếp giáp với Trung
Quốc, phía Tây giáp với Lào, phía đông giáp với Biển Đông và phía nam
giáp với đồng bằng sông Hồng.
Vùng có diện tích tự nhiên là 95.000 km 2 với dân số năm 2000 là 10,3
triệu ngời, chiếm 29% về diện tích và 13% về dân số cả nớc.
Vùng gồm 14 tỉnh, thuộc hai tiểu vùng là Tây Bắc và Đông Bắc. Tây
Bắc có các tỉnh Lai Châu, Sơn La và Hoà Bình. Đông Bắc gồm các tỉnh Hà
Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Quảng Ninh, Yên Bái,
Bắc Cạn, Thái Nguyên, Phú Thọ và Bắc Giang. Hai tiểu vùng này có một số
điểm khác biệt về điều kiện tự nhiên cũng nh đặc điểm xã hội, tuy nhiên lại
sâu rộng đến mức độ nào thì phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của "chiếc
cầu nối".
Phía nam của vùng kinh tế miền núi phía Bắc là các huyện đồng bằng
thuộc các tỉnh Hải Dơng, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Thanh Hoá. Do tiếp giáp với
vùng đồng bằng Bắc Bộ và đặc biệt là tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội Hải Phòng - Quảng Ninh, vai trò của vùng miền núi phía Bắc không chỉ đơn
thuần là trạm trung chuyển hàng hoá vào thị trờng Trung Quốc nói riêng và
châu á nói chung mà miền núi phía Bắc còn là vùng cung cấp nguyên nhiên
vật liệu, cung cấp nhân công và các hàng hoá nông lâm sản cho vùng kinh tế
trọng điểm này. Cùng với sự phát triển, mở rộng của khu vực kinh tế trọng
điểm miền Bắc, nhu cầu của khu vực này về các loại sản phẩm hàng hoá
nông, lâm, khoáng sản cũng nh về nguồn lao động ngày càng tăng - trong
khi đó, vùng miền núi phía Bắc lại có tiềm năng đáp ứng những nhu cầu này.
Điều này vừa thể hiện vai trò của vùng miền núi phía Bắc trong sự phát triển
chung của các vùng lân cận, vừa là cơ hội phát triển cho vùng này.
Về khoáng sản: Vùng miền núi phía Bắc là nơi tập trung nhiều
khoáng sản nhất nớc ta. Khoáng sản có mặt ở hầu hết các tỉnh trong
vùng. Đặc biệt, ở Tây Bắc có nhiều tài nguyên có tầm quan trọng đặc
biệt đối với sự phát triển của đất nớc: vàng (trên 21 tấn), đất hiếm
(trên 2 triệu tấn quặng - chỉ duy nhất có ở Tây Bắc), đồng (trên 1 triệu
tấn quặng), niken và các loại khoáng sản khác (nh pyrit)... Vùng Đông
Bắc có trữ lợng than đá là 3,5 tỷ tấn (chiếm 90% tỷ trọng cả nớc),
apatít 309,5 triệu tấn (100% tỷ trọng cả nớc), graphít 9,9 tỷ tấn (chiếm
76% tỷ trọng cả nớc), ngoài ra còn có than mỡ, sắt, mangan, titan...
đều có trữ lợng lớn, chất lợng tơng đối cao.
Về nhiên liệu: Vùng Tây Bắc là vùng đất rộng lớn và cao dốc
nhất Việt Nam , là đầu nguồn của của 4 l vực sông lớn là sông Đà,
sông mã, sông Nậm Rốm và sông Bôi. Do bắt nguồn từ vùng núi cao
dốc ( độ cao trung bình là 2000m so với mực nớc biến) nên sông suối
vùng này có tiềm năng lớn về thuỷ điện, chiếm trên 30% tổng điện
năng của cả nớc.
tộc Kinh, ở đây còn có trên 5 triệu ngời dân tộc thiểu số nh Thái, Tày, Nùng,
Dao, H'mông, Mờng, Lôlô, Phù lá,...Đây cũng là nơi sống tập trung của
nhiều dân tộc ít ngời - so với cả nớc, vùng miền núi phía Bắc chiếm 93%
ngời Tày, 98% ngời Sán Cháy, 95% ngời Sán Dìu... Các tỉnh vùng miền núi
phía Bắc là căn cứ địa cách mạng trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.
Ngày nay, dới sự lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ xây dựng và phát triển đất
nớc, sự đoàn kết và gắn bó giữa cộng đồng các dân tộc càng cần trở nên cần
thiết hơn bao giờ hết. Do vậy việc phát triển vùng miền núi phía Bắc không
chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn mang ý nghĩa về mặt xã hội.
Về mặt môi trờng sinh thái:
Rừng vùng miền núi phía Bắc là "mái nhà xanh" của khu vực, đặc biệt
là đối với vùng đồng bằng Bắc Bộ. Với diện tích tự nhiên 9,3 triệu ha, bằng
28,3% diện tích cả nớc, đất lâm nghiệp chiếm 31,29%, vùng miền núi phía
Bắc có diện tích rừng và đất rừng cao hơn so với mức trung bình toàn quốc.
So với cả nớc, diện tích đất lâm nghiệp vùng này chiếm 24,78%.
Theo tính toán của Tổng cục Thống kê, rừng hiện có 291.200ha,
chiếm 25% diện tích rừng cả nớc. Trữ lợng gỗ trong vùng khoảng 250m 3,
nếu tính bình quân cho mỗi ha rừng thì lợng gỗ có thể khai thác là 33,51 m 3.
23
Trong đó, vùng Tây Bắc cho lợng gỗ là 31,1 m3/ha; vùng Đông Bắc cho lợng
gỗ là 24,56 m3/ha và rừng trung tâm là 43,68 m3/ha.
Rừng miền núi phía Bắc có vai trò rất quan trọng trong công tác phòng
hộ đầu nguồn, chống xói mòn , rửa trôi đất, điều tiết nguồn nớc lâu bền cho
các công trình thuỷ điện, đồng thời có ý nghĩa lớn trong vấn đề môi sinh,
môi trờng. Sự biến đổi môi trờng sinh thái của vùng không chỉ ảnh hởng trực
tiếp đến đời sống vật chất, tinh thần của ngời dân trong vùng mà còn ảnh hởng đến cả vùng đồng bằng sông Hồng và các vùng lân cận trong và ngoài
nớc.
bằng 54,4% mức bình quân cả nớc. Nhiều tỉnh đặc biệt khó khăn nh Bắc
24
Cạn, Hà Giang, Sơn La...có mức GDP bình quân đầu ngời vào mức thấp nhất
toàn quốc.
Biểu 1.1: GDP các tỉnh miền núi phía Bắc năm 1999.
Tỉnh
1.Quảng Ninh
2. Lạng Sơn
3. Phú Thọ
4. Thái Nguyên
5.Tuyên Quang
6. Cao Bằng
7. Yên Bái
8. Bắc Giang
9. Lào Cai
10. Lai Châu
11. Hoà Bình
12. Sơn La
13. Hà Giang
14. Bắc Cạn
Tổng cộng
Cả nớc
% so với cả nớc
GDP (tỷ đồng,
giá hiện hành)
5.271,0
2.032,2
1.475,1
1.184,4
2.849,9
5.239,8
54,4
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu t
Các ngành kinh tế cha phát huy đợc hết những tiềm năng vốn có của
vùng. Do vậy, mặc dù vùng có rất nhiều thế mạnh về nông lâm sản lẫn các
sản phẩm công nghiệp và lợi thế về du lịch nhng quy mô của những ngành
này so với các vùng khác và mức chung của toàn quốc còn rất khiêm tốn.
Do kinh tế lạc hậu, chậm phát triển, khả năng tích luỹ kém nên đóng
góp vào Ngân sách Nhà nớc cũng vào loại thấp.
Biểu 1.2: Thu Ngân sách Trung ơng của các vùng
trong cả nớc (96-98)
Vùng
1.Cả nớc
2.ĐB sông Hồng
3.Miền núi phía Bắc
4.Bắc Trung Bộ
5.DH miền Trung
6.Đông Nam Bộ
7.ĐB sông Cửu Long
8.Tây Nguyên
1996
Tỷ đồng
65.674,049
13.705,202
%
100
20,9
8,6
5,3
5,2
48,9
9,5
1,6
1998
Tỷ đồng
82.530,552
17.277,068
7.435,777
5.032,456
4.396,099
39.612,478
7.514,476
1.262,198
%
100
20,93
9,01
6,10
5,33
47,99
9,11
1,53