NGHIÊN CỨU VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHƯƠNG TRÌNH HÓA ĐỂ DẠY CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC LỚP 12 THEO CẤU TRÚC PHÂN NHÁNH - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-----------------

KHƯU KIẾN TOÀN

Tiểu luận

NGHIÊN CỨU VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG
PHÁP DẠY HỌC CHƯƠNG TRÌNH HÓA ĐỂ
DẠY CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC LỚP 12
THEO CẤU TRÚC PHÂN NHÁNH

CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HÓA HỌC HIỆN ĐẠI
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn hóa học
LỚP: CAO HỌC 23
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LÊ VĂN NĂM

TP HỒ CHÍ MINH - 2016


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nâng cao hiệu quả và chất lượng trong dạy học là một vấn đề được xã hội đặc biệt
quan tâm. Việc lựa chọn một phương pháp dạy học phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu phát
triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang là yêu cầu cấp
bách trong giai đoạn hiện nay. Xu thế toàn cầu hoá đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến mô
hình dạy học của nước ta, đặt ngành giáo dục và đào tạo nước ta đứng trước những thử
thách và những cơ hội mới, từ đó đã khẳng định dần vai trò của cá nhân và cộng đồng
trong hoạt động giáo dục.

trong những phương pháp dạy học theo quan điểm điều khiển học đang được quan tâm
đó là phương pháp dạy học chương trình hoá (programmed teaching method). Phương
pháp dạy học chương trình hoá lấy người học làm trung tâm nhưng vẫn có vai trò trực
tiếp của người dạy. Bài học chương trình hoá giúp cá biệt hoá hoạt động học theo nhu cầu
và khả năng của người học, qua đó phát huy được tính tích cực, tự lực trong học tập của
từng sinh viên. Sự phân hoá về năng lực của từng sinh viên tạo điều kiện cho sinh viên
yếu, trung bình, nắm bắt được nội dung tối thiểu của bài học, còn sinh viên khá, giỏi có
thể nâng cao khả năng tự học hỏi và nghiên cứu sau này.
Phương pháp dạy học chương trình hoá được phát triển từ những năm 50 của thế kỷ
trước và đã được ứng dụng vào giảng dạy ở nhiều nơi trên thế giới như Mỹ, Liên Xô, Ấn
Độ,… với các loại phương tiện khác nhau. Đặc biệt, với sự phổ cập của máy tính cá
nhân, việc tổ chức các bài học chương trình hóa trở nên dễ dàng và ít tốn kém. Do vậy,
nhiều tổ chức đào tạo trên thế giới đã sử dụng nó trong các bài giảng, nhất là các bài học
để tự học.
Phương pháp dạy học chương trình hóa có hai ưu điểm chủ yếu là:
− Thể hiện được quan điểm đặt trọng tâm của quá trình dạy học vào người học
và cá biệt hóa quá trình dạy học theo trình độ và năng lực của từng sinh viên do vậy phát
huy được tính tích cực và chủ động của họ trong học tập.
− Điểm thứ hai dễ nhận thấy hơn là từng cá nhân người học có thể tiếp thu kiến
thức với lượng thời gian khác nhau, theo các diễn tiến khác nhau tùy vào kiến thức có
sẵn, vào khả năng, tốc độ học tập của riêng họ cũng như phương tiện hiện đại mà họ có.
Trước đây ở Việt Nam, phương pháp dạy học chương trình hóa được đề cập khá
nhiều và cũng đã có khá nhiều người cố gắng áp dụng nó nhưng có lẽ do số lượng người
nắm vững nguyên lý của dạy học chương trình hóa, đồng thời biết kỹ thuật để xây dựng
các bài học đạt được các tiêu chí của nó chưa nhiều nên các bài học ở dạng này hầu như
chưa được sử dụng.
Tuy có nhiều ưu điểm về mặt lý thuyết nhưng phương pháp dạy học chương trình
hóa đặt ra một số vấn đề khó khăn khi sử dụng là:
Trang-3


3.1 Khách thể nghiên cứu
Học sinh lớp 12 .
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Chương trình hóa học lớp 12 bài Dãy điện hóa kim loại
4. Giả thuyết khoa học

Trang-4


Nếu nghiên cứu, vận dụng phù hợp quan điểm phương pháp dạy học chương trình
hoá theo cấu trúc phân nhánh thì sẽ giúp học sinh lớp 12 nắm rõ kiến thức dãy điện hóa
góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu của đề tài, tôi xác định các nhiệm vụ nghiên cứu
sau:
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về phương pháp dạy học CTH
5.2 Nghiên cứu việc xây dựng bài học sử dụng phương pháp chương trình học áp
dụng vào hóa học lớp 12 bài: Dãy điện hóa kim loại
5.3 Rút ra nhận xét và kết luận trên cơ sở góp ý, đánh giá của Tổ bộ môn và nhà
trường. Từ đó làm căn cứ cho việc phát triển và vận dụng phương pháp giảng dạy trong
tổ bộ môn sau này.
6. Phạm vi nghiên cứu
Thiết kế bài học chương trình hoá cho bài học hóa học lớp 12 bài : Dãy điện hóa
kim loại
7. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản
sau:
− Phương pháp nghiên cứu tài liệu
− Phương pháp điều tra
− Phương pháp thực nghiệm


-

Trong khi đó các tác giả của dự án Việt – Bỉ lại cho rằng: “Phương pháp dạy học
thực ra là sự tổ chức hệ thống hóa về kỹ thuật và phương tiện có mục tiêu là tạo
thuận lợi cho hành động giáo dục”.

-

Cũng như các tác giả nước ngoài, một số nhà giáo dục Việt Nam khi nghiên cứu
về phương pháp dạy học cũng đưa ra những định nghĩa, quan điểm khác nhau

-

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Phương pháp dạy học là cách thức truyền
kiến thức đồng thời là cách lĩnh hội của nó

-

Tác giả Lê Quang Long đã định nghĩa: “ Phương pháp dạy học là cách thức , hoạt
động phối hợp, thống nhất giữa giáo viên và học sinh, do giáo viên tổ chức và chỉ
đạo nhằm đạt tới mục đích dạy học và giáo dục xác định.”

-

Còn tác giả Nguyên Kỷ lại cho rằng: “Phương pháp dạy học là sự tổ chức và hệ
thống hóa các thể thức do học sinh vận dụng dưới sự định hướng và kích thích
của giáo viên nhằm giúp học sinh chiềm lĩnh kiến thức, rèn luyện năng lực, giải
quyết vấn đề, từ đó phát triển trí tuệ và hình thành nhân cách”.
Trang-6

thể sử dụng các phương pháp đó một cách hợp lý và có hiệu quả, chúng ta cần nắm rõ
được các đặc điểm của phương pháp dạy học.
1.1.3. Các phương pháp dạy học
Trang-7


Có nhiều cách phân loại phương pháp dạy học. Đứng trên những góc độ nhìn nhận
khác nhau về phương pháp dạy học, các nhà giáo dục lại đưa ra các cách phân loại
phương pháp dạy học khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta có thể khái quát hệ thống các
phương pháp dạy học hiên nay như sau:
Hệ thống các phương pháp dạy học Tiểu học hiên nay gồm 5 nhóm:
− Nhóm các phương pháp dùng lời và chử bao gồm:
+ Phương pháp thuyết trình
+ Phương pháp vấn đáp
+ Phương pháp nghiên cứu sách giáo khoa
− Nhóm các phương pháp dạy học trực quan bao gồm:
+ Phương pháp làm thí nghiệm
+ Phương pháp luyện tập: lặp đi lặp lại nhiều lần những hành động nhằm mục
đích củng cố những kỹ năng, kỹ xảo.
+ Phương pháp ôn tập : giúp học sinh nắm vững những kiến thức cũ đồng
thời hệ thống hóa các trí thức đó.
Kiểm tra và đánh giá với tư cách là phương pháp dạy học.


Nhóm các phương pháp dạy học tích cực :
+ Phương pháp dạy học nêu vấn đề là phương pháp mà trong đó học sinh sẽ
phải tự chủ động giải quyết các tình huống có vấn đề do giáo viên đặt ra từ
đó chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo. Mỗi học sinh tìm ra kiến
thức bằng con đường riêng của mình
+ Phương pháp dạy học đồng đẳng: là phương pháp học tập theo nhóm trong

cho rằng điều này là hết sức cần thiết vì muốn sử dụng một phương pháp dạy học theo
tinh thần đổi mới phương pháp thì trước tiên chúng ta phải hiểu rõ tinh thần đổi mới
phương pháp dạy học đó là gì?
1.2.3. Phương pháp điều tra
Do điều kiện về mặt thời gian nên tôi chỉ dùng phiếu điều tra để tìm hiểu thực
trang vấn đề. Ngoài ra tôi còn sử dụng phương pháp quan sát và đàm thoại với mong
muốn làm cho kết quả điều tra được khách quan và chính xác hơn
Phương pháp quan sát
Chúng tôi tiến hành dự giờ dạy của một số giáo viên, quan sát với tư cách giáo
viên hướng dẫn, tổ chức cho học sinh thực tập để chiếm lĩnh kiến thức từ đó tìm hiểu
xem giáo viên đã sử dụng những phương pháp gì trong giảng dạy và sử dụng như thế nào
Phương pháp đàm thoại
Để có thể trực tiếp thu thông tin phản hồi về vấn đề tìm hiểu tôi đã trao đổi với
một số giáo viên và các nhà quản lý giáo dục để từ đó thấy được quan niệm về đổi mới
Trang-9


phương pháp cũng như những hiểu biết về các phương pháp dạy học và hiểu quả đặc biệt
là phương pháp dạy học chương trình hóa

CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHƯƠNG TRÌNH HÓA
2.1. Dạy học chương trình hóa vơi tư cách là một phương pháp dạy học
2.1.1. Công nghệ giáo dục
Cho tới nay, các nhà giáo dục đưa ra hai nhóm khái niệm về công nghệ giáo dục.
Đó là công nghệ giáo dục theo nghĩa hẹp và công nghệ giáo dục theo nghĩa rộng.
Trang-10


Theo nghĩa hẹp, công nghệ giáo dục là “quá trình áp dụng các phương tiện kỹ

ngay rằng đó là một quá trình nghiên cứu có tính phê phán về sử dụng những thành tựu
Trang-11


khoa học, kỹ thuật và công nghệ vào quá trình dạy học nhằm đạt được hiệu quả kinh tế
cao. Điều này có nghĩa là quá trình dạy học được tổ chức một cách chặt chẽ, khoa học
bằng cách xác định chính xác và sử dụng tối ưu đầu vào trình độ học sinh, đầu ra mong
muốn (mục tiêu dạy học), nội dung dạy học cùng các phương tiện kỹ thuật cần thiết và
các tiêu chuẩn đánh giá. Thực chất đó là sự công nghệ hóa công nghệ dạy học.
Theo quan điểm của công nghệ giáo dục, quá trình dạy học gồm 4 thành tố cơ bản:
− Đầu vào (nguyên liệu): là trình độ ban đầu của học sinh trước khi bước vào quá
trình dạy học (năng lực, phẩm chất…). khi xác định đầu vào cần căn cứ những đặc
điểm sinh lý, khả năng của học sinh so với yêu cầu đầu ra để có thể tổ chức quá
trình dạy học có hiệu quả.
− Đầu ra mong muốn (mục đích, mục tiêu dạy học) sản phẩm sản xuất ra cần phải
đạt được những yêu cầu mà mục đích và mục tiêu dạy học đề ra hay nói cách khác
là đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của xã hội. Đầu ra là một sản phẩm đặc biệt. Nó
cần phải có sự mềm dẻo, linh hoạt để thích ứng với cuộc sống không ngừng vận
động.
− Đánh giá kết quả dạy học
− Đây là vấn đề được các nhà giáo dục quan tâm. Công nghệ giáo dục cho phép ta
đánh giá kết quả học tập của học sinh thông qua các số liệu cụ thể. Tuy nhiên để
đánh giá học sinh được toàn diện chúng ta cần kết hợp đánh giá về mặt định tính
và định lượng. Trong khi tiến hành đánh giá cần sử dụng phối hợp các phương tiện
kỹ thuật hiện đại.
− Nội dung dạy học
Trong thế giới không ngừng biến động của chúng ta, lượng thông tin tăng lên rất
nhanh. Vì thế nội dung dạy học phải được chọn lọc và cập nhật một cách thường xuyên.
Tùy thuộc vào đặc điểm tâm sinh lý và trình độ tri thức của mỗi lứa tuổi mà người ta xây
dựng nội dung dạy học phù hợp theo hướng giúp học sinh phát triển các thao tác tư duy,

điều khiển học thì dạy học CTH là một hệ điều khiển mà đối tượng điều khiển chính là
con người. Hay nói cụ thể hơn:
− Giáo dục là quá trình điểu khiển sự phát triển toàn diện của sinh viên theo một
mục đích xác định.
− Dạy học một bộ môn chính là điều khiển học sinh từng bước tiếp thu nội dung
kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo đối với bộ môn đó đã được quy định trong chương trình.
Cũng theo quan điểm điều khiển học thì phương pháp dạy học cổ truyền có nhược
điểm sau: Không điều khiển tốt được quá trình nhận thức của từng cá nhân học sinh riêng
biệt mà phải theo số đông học sinh, nên không có những điều chỉnh kịp thời và cần thiết
Trang-13


nội dung và phương pháp giảng dạy cho phù hợp với từng đối tượng học sinh, đó là một
quá trình điều khiển kém cả về hai mặt:
− Không gian: sự kiểm tra và phản ứng của giáo viên không bao quát được đồng
thời từng đối tượng học sinh và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của từng học sinh.
− Và thời gian: Sự kiểm tra và phản ứng của giáo viên chậm hơn những thay đổi
kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của từng học sinh.
Giáo viên

Mục đích
dạy học

Liên hệ ngược bên ngoài

Nội dung
Sinh viên
trước khi học

Lựa chọn

Những bước công việc được sắp xếp hợp lí nhất, thuận tiện nhất, theo con đường ngắn
nhất để giải quyết từng nhiệm vụ nhằm đạt tới mục đích đề ra.
 Nội dung dạy học được chia thành từng liều học. Sau mỗi liều, sinh viên
phải trả lời các câu hỏi kiểm tra. Sau khi trả lời, học sinh biết được mình trả lời đúng hay
sai, tiếp theo mới chuyển sang liều khác (luôn đảm bảo mối liên hệ ngược bên trong).
 Việc học tập theo các liều học tiến hành nhanh hay chậm là tùy theo năng
lực của người học (khả năng cá biệt hóa người học).
 Liều học tiếp theo phụ thuộc vào kết quả trả lời câu hỏi trước đó (luôn đảm
bảo mối liên hệ ngược bên ngoài).
 Mối liên hệ hai chiều giữa thầy và trò được xác lập và duy trì thường xuyên
đảm bảo cho quá trình dạy học được điều khiển và điều chỉnh sát với mục tiêu của hoạt
động theo chương trình.
 Sử dụng hệ thống thiết bị dạy - học điện tử.
Quá trình dạy học CTH có thể được biểu diễn theo sơ đồ mã hóa như sau:
: Thông báo nguyên tố kiến thức (là phần thông tin hoàn chỉnh về mặt lôgic) cho
sinh viên.
: Câu hỏi kiểm tra kiến thức vừa thông báo hay kỹ năng có liên quan, người học
(học sinh) trả lời cho người dạy (có thể là giáo viên, cũng có thể là tài liệu học tập được
biên soạn chuyên biệt hay máy dạy học - máy tính).
: Người dạy nghiên cứu câu trả lời của người học và quyết định quá trình hướng dẫn
tiếp theo. Người học được thông báo về câu trả lời của mình hoặc được thông báo về sự
đúng sai của câu trả lời này (quá trình kiểm tra và tự kiểm tra).
Cứ mỗi lần người học thực hiện xong ba khâu như vậy người ta gọi là một liều.

Giáo viên
Học sinh

Liều học
Trang-15



Trang-16


Phải đảm bảo nguyên tắc của quá trình điều khiển là: không cho phép học sinh
chuyển sang liều sau nếu như chưa nắm vững những yếu tố thông tin của liều trước. Để
đạt được điều này, phải sử dụng chương trình trên máy tính.
Công thức
Kiểm tra,
tự kiểm tra

Thông tin

Thông tin bổ sung
hoặc thông tin mới

Kiểm tra,
tự kiểm tra

− Yêu cầu của việc dạy học chương trình hóa:
 Phải xây dựng lại toàn bộ cấu trúc nội dung tài liệu.
 Phải xây dựng chương trình cho quá trình nghiên cứu tài liệu học tập.
 Phải xây dựng hệ thống kiểm tra sự lĩnh hội kiến thức của học sinh có hiệu

quả nhất.
2.2.4 Các dạng của bài học chương trình hóa:
Việc phân loại các dạng của bài học CTH dựa vào mức độ tối ưu hóa quá trình điều
khiển. Bài học chương trình hóa có thể được tổ chức theo hai cách cơ bản có tính năng
hữu hiệu khác nhau, đồng thời cũng đòi hỏi sự đầu tư về công sức và khả năng kỹ thuật
khác nhau. Đơn giản nhất là dạng tuyến tính, và phức tạp hơn là dạng phân nhánh với các

đầ
đầ
uu

Liều
Liều học
học 11

Kiểm tra

Kết
Kết
thú
thú
cc

….
Kiểm tra

Liều
Liều học
học 22

đạt yêu cầu

đạt yêu cầu

Sơ đồ 1.2.4. Bài học chương trình hóa dạng tuyến tính đơn giản
Với kiểu chương trình này, người ta phải thiết kế nội dung bài học sao cho chắc
chắn rằng nếu trả lời được thì học sinh đã nắm được kiến thức tương ứng qua đó người

6

….

Kiểm tra không đạt yêu cầu, trường
hợp đặc biệt - Nhảy vọt về sau

Kế
Kế
tt
thú
thú
cc
cc

Sơ đồ 1.2.5. Bài học chương trình hóa dạng tuyến tính với các bước nhảy vọt

Đặc điểm của kiểu chương trình đường thẳng: Chương trình đường thẳng là chương
trình đơn giản nhất, được dùng phổ biến nhất.
 Mỗi một liều có lượng thông tin bé.
 Tài liệu được soạn dựa trên căn cứ trình độ của sinh viên ở mức cơ bản
nhất.
 Người học hầu như không bị sai lầm khi trả lời kiểm tra.
 Đây là chương trình thích ứng cho mọi người (chương trình thích ứng tối
thiểu).
Trang-18


 Đòi hỏi học sinh tích cực, tự lực xây dựng câu trả lời. Quá trình tìm câu trả
lời cũng chính là quá trình học.

liều học
5.3
5.3

5.1
5.1

Quay
lại

2

3

4

5

6

….

Sơ đồ 1.2.6. Bài học chương trình hóa dạng phân nhánh đơn giản

Kế
Kế
tt
thú
thú
cc

cc
cc


Ưu điểm của chương trình phân nhánh:
Nhằm khắc phục nhược điểm của dạng chương trình đường thẳng (tốc độ học chậm,
ít phát triển tư duy sáng tạo), người ta đưa ra kiểu chương trình phân nhánh. Theo kiểu
chương trình phân nhánh, ở mỗi lần kiểm tra, học sinh thường phải tự lựa chọn lấy câu
trả lời trong số các câu hỏi cho sẵn. Việc chọn câu trả lời nào (đúng, chưa đúng hoặc sai)
nó quyết định việc học sinh sẽ tiếp tục chuyển qua liều chính hay chuyển qua một trong
các liều phụ tiếp theo. Những học sinh trả lời đúng sẽ được tự đối chiếu kết quả để khẳng
định câu trả lời là đúng và tiếp tục nhận thông báo về kiến thức mới hay bài tập rèn luyện
kỹ năng mới ở liều chính tiếp theo sau đó. Những học sinh trả lời chưa đúng hoặc trả lời
sai tùy theo mức độ sẽ được rẽ nhánh qua một liều phụ, ở đó học sinh sẽ được giải thích
rõ nguyên nhân sai lầm và hướng dẫn cách hiểu nội dung thông tin. Sau đó hoặc có thể
được quay lại liều đầu để chọn câu trả lời khác hoặc cũng có thể phải chuyển qua một
liều phụ khác nữa để được giúp đỡ khắc phục sai lầm.
Như vậy, tùy theo năng lực mà từng học sinh có thể đi theo con đường dài, ngắn
khác nhau trong quá trình học tập. Đặc điểm nổi bật của dạng chương trình phân nhánh
là:
 Mỗi liều chứa một lượng thông tin lớn.
 Câu hỏi sau mỗi liều thông tin có nhiều câu trả lời cho sẵn để chọn.
 Việc xây dựng các câu hỏi và trả lời dựa trên những sai lầm có tính điển
hình thường gặp của học sinh.
 Chương trình này thích ứng với nhiều loại học sinh.
Với những đặc điểm như vậy thì có thể có nhiều loại chương trình phân nhánh từ
đơn giản đến phức tạp. Mức độ phức tạp thể hiện ở số nhánh rẽ trong chương trình, nó
thích ứng với những con đường, những cách thức suy nghĩ khác nhau của mỗi học sinh
khi giải quyết cùng một vấn đề. Người ta có thể kết hợp chương trình đường thẳng và
chương trình phân nhánh khi dạy học.

Điểm thứ nhất được thể hiện ở chổ để cho người học chủ động tiếp thu kiến thức,
giáo viên đóng vai trò hướng dẫn, lúc này giáo viên được giải phóng thời gian trong hoạt
động dạy, vì thế sẽ có thời gian theo dõi và giúp đỡ các học sinh gặp khó khăn trong quá
trình thực hiện bài học, do vậy phát huy được tính tích cực và chủ động của họ.
Điểm thứ hai dễ nhận thấy hơn, từng cá nhân người học có thể tiếp thu kiến thức
với lượng thời gian khác nhau cũng như theo các diễn tiến khác tùy vào kiến thức có sẵn
và khả năng, tốc độ học tập của riêng mình.
Phương pháp dạy học CTH có khả năng cá biệt hóa quá trình dạy học theo trình độ
và năng lực cao độ của từng học sinh. Quá trình học tập luôn lấy học sinh làm trung tâm,
Trang-21


giáo viên chỉ là người chỉ đạo, hướng dẫn. Kết quả học tập luôn bảo đảm cho toàn thể
lớp, đồng thời phương pháp dạy học CTH đã phát huy được sức mạnh của các phương
tiện hiện đại trong việc nâng cao hiệu quả giáo dục trong thời đại ngày nay và hoàn toàn
không hạn chế hay hạ thấp vai trò người thầy, trái lại nó đã đặt ra trước họ những đòi hỏi
mới và yêu cầu cao hơn.
Bên cạnh đó, bài học CTH còn có ưu điểm rất lớn. Trước hết, nó là một dạng để tổ
chức bài học theo kiểu tự học, một dạng bài học ngày càng trở nên cần thiết trong một xã
hội tri thức, với yêu cầu học tập suốt đời. Thứ hai, nó giúp người học nhanh chóng biết
được mức độ tiếp thu kiến thức của mình, từ đó làm chủ quá trình học. Điều này giúp
tránh những trường hợp người học do chủ quan, chỉ học một cách nông cạn bài học,
không đạt được độ chuyên sâu cần thiết. Một điểm nữa là bài học được tổ chức theo kiểu
này làm cho quá trình học trở nên thú vị hơn, yêu cầu người học luôn phải suy nghĩ tích
cực và vì thế phát huy tốt hơn trí tuệ của họ.
* Nhược điểm.
Kiểu dạy học này chỉ áp dụng được cho các môn học có nội dung cấu trúc chặt
chẽ, chưa tạo được điều kiện để giáo viên theo dõi những câu trả lời đầy đủ của sinh viên.
Tài liệu học tập dài, cồng kềnh, trang thiết bị phục vụ học tập thì tốn kém.
Tuy nhiên, chúng ta cần vận dụng quan điểm dạy học CTH vào việc soạn bài, viết


Đối tượng: Dành cho học sinh lớp 12 phần hóa vô cơ

-

Phân chia bài học thành từng phần (mỗi phần được gọi là một liều)
Liều 1: Khái niệm cơ bản : chất khử, chất oxi hóa
Liều 2: Cặp oxi hóa – khử kim loại
Trang-23


Liều 3: Dãy điện hóa, quy tắc α
Liều 4: Vận dụng dãy điện hóa vào bài tập lý thuyết
Liều 5: Vận dụng dãy điện hóa vào bài tập định lượng
3.2. Tổ chức thực hiện giảng dạy
Với nội dung bài học được phân chia như trên, việc tổ chức giảng dạy của giáo
viên chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn, giúp học sinh tiếp nhận và xử lý từng liều kiến
thức một. Đối với học sinh, học sinh phải là người chủ động tiếp thu kiến thức trên cơ sở
đã chuẩn bị rất kỹ nội dung bài học ở nhà trước khi đến lớp (đây là khâu rất quan
trọng). Việc chuẩn bị bài trước khi đến lớp ở nhà của học sinh được giáo viên chỉ ra rất
rõ yêu cầu, nhiệm vụ đối với từng mục trong bài học (tương đương với từng liều kiến
thức trong bài giảng của giáo viên).
Bắt đầu vào tiết học, giáo viên chỉ rõ nội dung kiến thức cần tìm hiểu trong tiết
học bằng việc đưa ra tất cả các liều cũng như một khoảng thời gian nhất định để hoàn
thành từng liều. Các liều được sắp xếp theo một trình tự logíc, theo diễn tiến của nội
dung bài học từ dễ đến khó, nội dung kiến thức phần trước làm cơ sở nhận thức cho nội
dung kiến thức phần sau.
Cụ thể trong tiết học này:
Liều 1: Khái niệm chất khử, chất oxi hóa được xác định như thế nào?
Vì đây là kiến thức cơ bản đã được học rất kỹ ở chương trình lớp 10 bài “Phản ứng

D. Ag

Với 4 đáp án như trên, ta xây dựng 4 hoạt động cho học sinh.
Hoạt động số 1: HS chọn đáp án là A (Mg)
1. Kim loại Cu có tác dụng với nước ở nhiệ độ thường hay không?
1.1 Nếu học sinh trả lời là có, yêu cầu học sinh xem lại phần điều kiện giữa kim
loại với nước.
1.2 Nếu học sinh trả lời là không, đặt tiếp câu hỏi 2.
2. Dựa vào dãy điện hóa, sắp xếp cặp oxi hóa khử của Fe3+/ Fe2+ và Mg2+/Mg
2.1 Nếu học sinh sắp xếp đúng, đặt tiếp câu hỏi 3.
Mg 2+
Fe3+


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status