Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Bắc Hà Nội - Pdf 43

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...........................................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài....................................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu.........................................................................................................................3
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu..................................................................................3
4. Phương pháp nghiên cứu..................................................................................................................3
5. Kết cấu của Luận văn..........................................................................................................................5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ
NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI........................................................................6
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1..........................................................................................................................32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU
TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH BẮC HÀ NỘI.....................................................................33
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2..........................................................................................................................63
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẮC HÀ NỘI.........................................................................64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3..........................................................................................................................81
KẾT LUẬN..............................................................................................................................................83
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................................................85

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, các ngân hàng thương mại đang trong quá trình tái cơ cấu và cạnh
tranh mãnh liệt. Do đó, các ngân hàng đã quan tâm, chú trọng đến phát triển dịch vụ
bán lẻ, bởi họ nhận thấy được những hiệu quả mà dịch vụ này mang lại. Đó là
những dịch vụ ngân hàng gắn với công nghệ hiện đại, đa tiện ích, hướng tới đa số cá
nhân và doanh nghiệp. Dịch vụ ngân hàng hiện đại đã trở thành thói quen với hầu

1


hết người tiêu dùng trên thế giới, nhưng còn khá mới mẻ đối với người dân Việt


2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề mang tính lý luận về ngân hàng thương mại, các
dịch vụ ngân hàng bán lẻ.
- Phân tích và đánh giá thực trạng triển khai hoạt động phát triển dịch vụ ngân
hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc
Hà Nội.
- Đề xuất các giải pháp nhằm mở rộng và phát triển hơn nữa hoạt động dịch vụ
ngân hàng bán lẻ tại Chi nhánh Bắc Hà Nội.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Dịch vụ ngân hàng bán lẻ và phát triển dịch vụ ngân
hàng bán lẻ của ngân hàng thương mại.
- Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Đề tài nghiên cứu phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Hà Nội.
Về nội dung: Đề tài nghiên cứu phát triển các dịch vụ ngân hàng sau: Huy
động tiền gửi từ dân cư; Hoạt động tín dụng bán lẻ; Hoạt động kinh doanh thẻ; Hoạt
động dịch vụ ngân hàng điện tử; Hoạt động kinh doanh ngoại tệ.
Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng được thực hiện cho giai đoạn 2012 2016, các đề xuất được thực hiện cho giai đoạn đến năm 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích số liệu:
Vận dụng các phương pháp phân tích thống kê như số tương đối, số tuyệt đối,
số bình quân, lượng tăng (giảm) tuyệt đối liên hoàn, tốc độ phát triển liên hoàn, tốc
độ tăng (giảm) liên hoàn và phương pháp so sánh để phân tích kết quả kinh doanh

3


cũng như tình hình phát triển dịch vụ của ngân hàng qua các năm nhằm đáp ứng
được mục đích nghiên cứu của đề tài đã đặt ra.

Từ đó có cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng về việc phát triển dịch vụ ngân hàng
bán lẻ tại chi nhánh.
5. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo…nội dung của
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về dịch vụ ngân hàng bán lẻ và phát triển dịch vụ
ngân hàng bán lẻ của Ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP
Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội
Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu
tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội

5


CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN
LẺ VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về các hoạt động của ngân hàng thương mại
*) Khái niệm: Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền
kinh tế. Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai
trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng
Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ghi “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh
doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và
sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các NHTM hiện nay đã mở
rộng phạm vi hoạt động sang nhiều lĩnh vực kinh doanh, phần lớn hoạt động theo
mô hình ngân hàng đa năng. Tuy nhiên, các chức năng cơ bản của NHTM vẫn là:
trung gian tài chính, tạo phương tiện thanh toán và trung gian thanh toán. Các chức
năng này có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau và cùng đóng góp cho sự thành

chính sách. Thông qua hệ thống NHTM, Nhà nước tác động điều tiết nền kinh tế
thông qua các công cụ như lãi suất cơ bản, mức cung tiền, tốc độ tăng trưởng tín
dụng... Các NHTM trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ của mình, sẽ phải tuân
theo các quy định chặt chẽ của Nhà nước, qua đó góp phần thực hiện các biện pháp
điều tiết của Nhà nước đối với nền kinh tế.
 Hệ thống NHTM là cầu nối trong hội nhập kinh tế quốc tế
Trong hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia, doanh nghiệp, tổ chức và cá
nhân từ mọi nơi trên thế giới tiến hành giao thương với nhau một cách thường
xuyên, liên tục. Các hoạt động xuất - nhập khẩu, thanh toán quốc tế, bảo lãnh, kinh
doanh ngoại hối... đòi hỏi hệ thống NHTM phải hội nhập vào nền tài chính quốc tế,
đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập của mọi thành phần trong nền kinh tế. Có
thể nói, các NHTM đóng vai trò tiên phong trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế,

7


làm cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, qua đó đóng góp
vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
1.1.2 Các hoạt động của Ngân hàng thương mại
NHTM là một đơn vị kinh doanh tiền tệ do đó các hoạt động nghiệp vụ cơ
bản của Ngân hàng đều hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Để đạt được mục
tiêu này Ngân hàng thương mại trong quá trình phát triển đã không ngừng đổi mới,
không chỉ nâng cáo chất lượng sản phẩm dịch vụ sẵn có mà còn thường xuyên
nghiên cứu nhằm cung cấp các sản phẩm dịch vụ mới phục vụ nhu cầu của khách
hàng.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các NHTM hiện nay đã mở
rộng phạm vi hoạt động của mình sang nhiều lĩnh vực kinh doanh, phần lớn hoạt
động theo mô hình ngân hàng đa năng. Tuy nhiên, nghiệp vụ cơ bản của NHTM vẫn
là: huy động vốn, sử dụng vốn và trung gian thanh toán. Các chức năng này có mối
quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau và cùng đóng góp cho sự thành công của một

tham gia góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối,
vàng... Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thì hoạt động đầu tư của
ngân hàng sẽ dần dần mở rộng phạm vi hoạt động trong khuôn khổ quy định của
pháp luật.
 Hoạt động trung gian
Có thể nói, hoạt động trung gian là một chức năng riêng có của NHTM so
với các trung gian tài chính khác. Ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán lớn
nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện
thanh toán giá trị hàng hoá và dịch vụ. Hoạt động trung gian truyền thống của
NHTM bao gồm: cung ứng các phương tiện thanh toán (séc, thẻ thanh toán...), thực
hiện các dịch vụ thanh toán (trong nước, quốc tế, thu hộ, chi hộ, mở tài khoản...).
Ngày nay, hoạt động trung gian của các NHTM phát triển rất phong phú và
đa dạng, bên cạnh những dịch vụ truyền thống, các ngân hàng hiện đại còn mở rộng
và phát triển các hoạt động như: giữ két, các dịch vụ phục vụ thị trường chứng

9


khoán (môi giới, tư vấn...), bảo hiểm, bảo quản hiện vật quý, cầm đồ... Ngoài ra,
công nghệ thanh toán hiện đại qua ngân hàng thường được các nhà quản lý tìm cách
áp dụng rộng rãi. Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hoá góp phần tạo tính
thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà
còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới. Các trung tâm thanh toán quốc tế được
thiết lập đã làm tăng hiệu quả của thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở
thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh
tế toàn cầu.
1.2. Các dịch vụ ngân hàng bán lẻ
1.2.1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường, khái niệm bán lẻ được hiểu
là việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng, khác

doanh, theo quan điểm của tác giả thì Dịch vụ bán lẻ của Ngân hàng thương mại là
các dịch vụ tài chính vô hình được ngân hàng chuyển tới tận tay những đối tượng
KH là cá nhân, hộ gia đình, DNNVV thông qua mạng lưới các kênh phân phối đa
dạng và hiệu quả.
1.2.2. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bản lẻ
Giống như các loại hình dịch vụ khác, dịch vụ ngân hàng cũng mang những đặc
trưng cơ bản sau:
- Đối tượng khách hàng: DVBL hướng tới đối tượng khách hàng là các cá
nhân, hộ gia đình, các DNNVV. Đặc thù của nhóm khách hàng này là khác nhau về
độ tuổi, vị thế xã hội, trình độ học thức và hành vi tiêu dùng do đó nhu cầu về các
sản phẩm dịch vụ ngân hàng rất đa dạng và phong phú. Đối với nhóm khách hàng
có trình độ, có am hiểu về lĩnh vực tiền tệ ngân hàng, họ sẽ quan tâm nhiều hơn đến
tiện ích, giá trị gia tăng của sản phẩm, dịch vụ. Ngược lại, nhóm khách hàng ít có
các giao dịch với ngân hàng lại thường chú ý đến giá cả, lãi suất và uy tín của ngân
hàng để quyết định có gửi tiền, vay tiền hay thực hiện các dịch vụ khác tại ngân
hàng hay không.

11


- Số lượng khách hàng lớn: Dân số thế giới đang gia tăng một cách chóng mặt
và không có dấu hiệu ngừng lại, cùng với đó là sự phát triển mạnh mẽ của những
nền kinh tế mới nổi. Hệ quả tất yếu là sự gia tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân
hàng của tầng lớp dân cư thu nhập khá và hệ thống các DNNVV.
- Giá trị các khoản giao dịch thường nhỏ: Điều dễ nhận thấy là giá trị các
khoản giao dịch của DVBL thường nhỏ hơn rất nhiều so với với các khoản giao
dịch của các doanh nghiệp lớn, các định chế tài chính do nhu cầu, tính chất của các
đối tượng tham gia giao dịch.
- DVBL dựa trên nền tảng CNTT: Trong thời đại số hóa hiện nay, ngân hàng
nào có hệ thống CNTT phát triển, biết ứng dụng tốt công nghệ vào hoạt động ngân

- Tính vô hình: Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt sản phẩm dịch vụ ngân
hàng với các sản phẩm của các ngành sản xuất khác. Cũng giống như các dịch vụ
khác, dịch vụ ngân hàng cũng không có hình thái vật chất cụ thể. Khách hàng tiếp
nhận và tiêu dùng dịch vụ ngân hàng thông qua hoạt động giao tiếp, tiếp nhận thông
tin và kết quả là nhu cầu được đáp ứng. Cũng có một điểm đặc biệt là khách hàng
chỉ có thể đánh giá được chất lượng dịch vụ sau khi đã mua và sử dụng chúng. Dịch
vụ ngân hàng cũng có điểm khác hàng hóa vật chất ở chỗ không có sản phẩm dở
dang, không lưu trữ được.
1.2.3. Vai trò của dịch vụ ngân hàng bán lẻ
1.2.3.1. Đối với nền kinh tế
DVBL của các NHTM ngày càng trở nên phong phú, đa dạng, đem lại nhiều
tiện ích cho khách hàng, là kênh thu hút nguồn vốn hiệu quả phục vụ cho đầu tư
phát triển kinh tế đất nước, đặc biệt là đối với các nước có thị trường chứng khoán
chưa thực sự phát triển. Thông qua mạng lưới kênh phân phối truyền thống là các
điểm giao dịch rộng khắp, cùng hệ thống kênh bán hàng điện tử thuận tiện, ngân
hàng tập trung được mọi nguồn vốn nhỏ lẻ tiềm tàng trong khu vực dân cư để từ đó
tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh
cá thể, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển.
Phát triển DVBL giúp biến đổi trực tiếp từ một nền kinh tế tiền mặt sang nền
kinh tế không dùng tiền mặt, hạn chế bớt lượng tiền trong lưu thông. Thông qua hệ
thống kênh phân phối điện tử như máy ATM, phone banking, internet banking…quá

13


trình luân chuyển tiền được diễn ra nhanh chóng, chính xác, an toàn và bảo mật. Chỉ
cần một cuộc điện thoại hay một cú click chuột là lượng tiền cần chuyển sẽ được
đến nơi an toàn. Từ đó giúp giảm bớt các chi phí xã hội như chi phí in ấn, bảo quản
và lưu thông tiền mặt, tiết kiệm thời gian cho cả ngân hàng và khách hàng, đáp ứng
được tính tiện lợi, tính thay đổi nhanh và thường xuyên trong nhu cầu của xã hội.

Hệ thống DVBL sẽ tạo ra tiện ích mới trong quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt
động chung ngân hàng: tạo nền tảng, hạ tầng cơ sở cho phát triển, ứng dụng công
nghệ ngân hàng, quản lý tập trung và xử lý dữ liệu trực tuyến, nâng cao chất lượng
dịch vụ ngân hàng, rút ngắn thời gian giao dịch với ka, tăng cường khả năng bảo
mật thông tin…
Tăng cường bán chéo sản phẩm: Phát triển DVBL giúp NHTM mở rộng khả
năng bán chéo sản phẩm giữa KHCN và khách hàng DNNVV, từ đó đẩy mạnh việc
khai thác sâu ví tiền của tệp KH hiện tại và tạo dựng, phát triển các khách hàng tiềm
năng khác của ngân hàng.
Giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM: Tham gia cung ứng DVBL
đồng nghĩa với việc ngân hàng bước chân vào một thị trường đầy tiềm năng nhưng
cạnh tranh vô cùng gay gắt. Để tồn tại và phát triển, buộc ngân hàng phải không
ngừng đổi mới tư duy, tìm ra các sản phẩm mới, giải pháp mới… từ đó nâng cao
khả năng thích ứng, sức cạnh tranh cũng như vị thế của ngân hàng.
Mở rộng và tăng thị phần: DVBL giúp ngân hàng mở rộng và chiếm lĩnh thị
trường, đa dạng hóa hoạt động ngân hàng, tăng cường quảng bá cho hình ảnh và
thương hiệu của ngân hàng, qua đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, năng
lực hoạt động của ngân hàng.
1.2.3.3. Đối với khách hàng
Hoạt động bán lẻ của các NHTM đem lại sự tiện ích, an toàn, tiết kiệm và
nhanh chóng cho khách hàng trong quá trình tích lũy và sử dụng các khoản thu nhập
của mình. Các điểm giao dịch của NHTM với hệ thống kho két đảm bảo an toàn, có
nhân viên bảo vệ sẽ là nơi lý tưởng để khách hàng có thể cất giữ các khoản tiền tích
lũy, có thể ủy thác để quản lý tài sản của mình một cách an toàn, hiệu quả và kinh tế
nhất. Với các dịch vụ Ngân hàng điện tử hiện đại, khách hàng có thể thực hiện các
giao dịch như thanh toán, chuyển tiền, kiểm tra số dư tài khoản…. một cách dễ
dàng, nhanh chóng, an toàn và chính xác, thực hiện mọi lúc mọi nơi mà không cần
phải đến các điểm giao dịch của ngân hàng. Từ đó góp phần đáng kể vào việc tiết
kiệm chi phí đi lại, thời gian….
Đối với khách hàng là DNNVV, các hộ kinh doanh cá thể, thông qua các

định trên tài khoản thanh toán để đảm bảo các nhu cầu giao dịch phát sinh hàng ngày,
nhằm tăng cường khai thác sử dụng đồng vốn hiệu quả thì DNNVV cũng lựa chọn
hình thức gửi tiền có kỳ hạn tại NHTM. Căn cứ vào kế hoạch tài chính của đơn vị,

16


khách hàng có thể lựa chọn gửi tiền với nhiều kỳ hạn khác nhau, linh hoạt theo tuần,
tháng hoặc có thể gửi dài hạn hàng năm. Thông thường thời gian gửi càng dài thì lãi
suất càng cao và khách hàng có thể nhận lãi suất trước, định kỳ hàng tháng hoặc khi
đến hạn hợp đồng tiền gửi, tùy thuộc vào nhu cầu của KH và thỏa thuận với ngân
hàng. Đối với khoản tiền gửi có kỳ hạn, KH sẽ không được rút tiền trước hạn, hoặc
được rút trước nhưng sẽ phải chịu một khoản phí/ lãi phạt nhất định.
- Tiền gửi tiết kiệm dân cư: về bản chất thì sản phẩm này cũng giống như
tiền gửi có kỳ hạn của DNNVV, chỉ khác về đối tượng KH hướng tới là các KHCN.
Đây chính là một trong những hoạt động có tình truyền thống nhất, gắn liền với lịch
sử hình thành và phát triển của ngành ngân hàng. Các KHCN khi có nguồn tiền
nhàn rỗi tạm thời, chưa có nhu cầu sử dụng có thể đem gửi tiết kiệm tại ngân hàng,
vừa đảm bảo an toàn lại được hưởng lãi suất. Tiền gửi tiết kiệm dân cư bao gồm hai
loại chính là tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, tuy nhiên trên thực tế các KHCN
thường lựa chọn gửi tiền có kỳ hạn để được hưởng lãi suất cao, bởi lẽ KHCN có thể
chủ động trong kế hoạch chi tiêu của mình. Trong trường hợp phát sinh nhu cầu chi
tiêu đột xuất, KH có thể rút trước hạn và nhận lãi suất thấp, hoặc cầm cố chính
quyển sổ tiết kiệm đó tại ngân hàng để vay vốn ngân hàng, tùy theo phương án nào
có hiệu quả hơn.
- Huy động vốn thông qua phát hành các giấy tờ có giá: Đây là nguồn vốn
của NHTM hình thành thông qua việc phát hành các giấy tờ có giá như kỳ phiếu,
trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi…Nếu huy động tiền gửi là hoạt động
thường xuyên thì việc phát hành giấy tờ có giá chỉ thực hiện vào những thời điểm
nhất định. Thông thường hình thức này được thực hiện khi ngân hàng đã tiếp nhận

xây dựng sử chữa nhà. Cho vay mua xe ô tô trả góp là hình thức ngân hàng cung
cấp tín dụng cho khách hàng để thanh toán một phần tiền mua xe ô tô phục vụ sinh
hoạt hàng ngày hoặc kinh doanh vận tải. Khách hàng có thể dùng chính chiếc xe đó
làm tài sản đảm bảo cho khoản vay của mình tại Ngân hàng. Còn cho vay mua, xây
dựng, sửa chữa nhà là loại cho vay để khách hàng mua nhà, đất, xây dựng nhà mới
hoặc sửa chữa, cải tạo nhà đang ở. Cùng với một phần vốn tự có của mình, khách
hàng có thể vay bổ sung phần vốn thiếu hụt từ ngân hàng để thực hiện dự án và
hoàn trả dần hàng tháng hoặc theo định kỳ

18


- Cho vay sản xuất kinh doanh: là loại cho vay nhằm bổ sung vốn thiếu hụt
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng là các hộ kinh doanh cá thể.
Khách hàng có thể vay vốn ngắn hạn để thanh toán tiền hàng đối tác, hoặc tiền
lương cho nhân viên.
- Cho vay thông qua phát hành thẻ tín dụng: Là một loại tín dụng tuần hoàn
cấp cho chủ thẻ tín dụng. Mỗi chủ thẻ tín dụng được cấp một hạn mức tín dụng nhất
định căn cứ vào mức độ tín nhiệm và năng lực tài chính, khả năng đảm bảo chi trả
của chủ thẻ. Khả năng đảm bảo chi trả được xác định dựa trên việc tổng hợp các
thông tin khác nhau như thu nhập, tình hình chi tiêu, mối quan hệ, địa vị trong xã hội.
+ Cho vay khách hàng doanh nghiệp DNNVV: với nhóm đối tượng khách
hàng này, các sản phẩm tín dụng được phân ra làm hai loại hình cơ bản:
- Cho vay ngắn hạn bổ sung Vốn lưu động: để đáp ứng nhu cầu tài chính
phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các NHTM có thể
xem xét, tài trợ vốn lưu động cho KH thông qua hình thức cấp hạn mức tín dụng
khung, hạn mức tín dụng thường xuyên hoặc theo từng phương án kinh doanh cụ
thể. KH có thể sử dụng vốn vay ngân hàng để thanh toán tiền mua bán hàng hóa,
dịch vụ, thanh toán chi phí điện nước, trả lương cho cán bộ nhân viên…
- Vay trung dài hạn để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh: bên cạnh cho

+

Thanh toán nước ngoài
- Chuyển tiền đi nước ngoài bằng điện chuyển tiền (TT) hoặc thư chuyển tiền

(MTR): đây là phương thức thanh toán theo đó, nhà nhập khẩu yêu cầu NHTM phục
vụ mình thông qua một ngân hàng đại lý ở nước ngoài chuyển trả một số tiền nhất
định cho nhà xuất khẩu. Đây là một trong những hình thức thanh toán tiềm ẩn rủi ro
cho nhà nhập khẩu, bởi lẽ nhà xuất khẩu nhận được tiền mới giao hàng, do vậy
thường được sử dụng đối với những hợp đồng có giá trị nhỏ, hoặc khi hai bên đã có
quan hệ lâu năm, nhà nhập khẩu có uy tín tốt.
- Trả tiền lấy chứng từ (C.A.D): phương thức thanh toán này được thực hiện
bằng cách nhà nhập khẩu mở một tài khoản tín chấp tại ngân hàng phục vụ mình, và
đưa ra các yêu cầu về bộ chứng từ thanh toán mà nhà xuất khẩu cần xuất trình trước
khi nhận được tiền thanh toán. Sau khi nhà nhập khẩu chuyển tiền vào tài khoản tín
chấp, ngân hàng sẽ thông báo cho nhà xuất khẩu được biết. Nhà xuất khẩu sẽ tiến
hành xuất hàng, gửi bộ chứng từ đến ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu để nhận

20


tiền, ngân hàng tiến hành kiểm tra bộ chứng từ, thực hiện thanh toán và chuyển bộ
chứng từ hợp lệ cho nhà nhập khẩu để nhận hàng.
- Phương thức nhờ thu: nhà xuất khẩu sau khi xuất hàng sẽ ủy thác cho ngân
hàng của mình thu hộ tiền hàng của nhà nhập khẩu trên cơ sở xuất trình bộ chứng từ
đầy đủ, hợp lệ. Có hai loại nhờ thu là nhờ thu chấp nhận chứng từ (D/A) và nhờ thu
đổi chứng từ (D/P).
- Thư tín dụng (L/C): là một văn bản do NHTM phát hành cho nhà nhập
khẩu, cam kết sẽ thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu (người thụ hưởng) khi người
này xuất trình được bộ chứng từ hợp lệ. Trong hoạt động ngoại thương, thư tín dụng

Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ bao gồm:
- Kinh doanh ngoại tệ với khách hàng: Thực hiện nghiệp vụ này, ngân hàng
xác định và niêm yết tỷ giá của các đồng tiền được phép giao dịch tại trụ sở giao
dịch hoặc trên các phương tiện thông tin liên lạc. Thông thường ngân hàng sẽ tiến
hành mua bán nhằm đáp ứng tất cả các nhu cầu hợp pháp của khách hàng theo tỷ
giá niêm yết. Một số giao dịch, tỷ giá mua bán có thể thỏa thuận tùy theo từng đối
tượng khách hàng, giá trị giao dịch và quan hệ cung cầu trên thị trường. Căn cứ theo
nhu cầu của khách hàng, ngân hàng có thể thực hiện giao dịch hối đoái giao ngay
(spot) hoặc có kỳ hạn (forward). Ngoài ra, các NHTM cũng cung cấp các giao dịch
hối đoái hoán đổi (swap) hay giao dịch quyền chọn (option) để khách hàng có thể
phòng ngừa các rủi ro liên quan đến biến động tỷ giá.
- Kinh doanh ngoại tệ hưởng chênh lệch giá: Thực hiện nghiệp vụ này ngân
hàng tiến hành mua bán ngoại tệ trên hai hay nhiều thị trường để thu lợi trên cơ sở
có sự chênh lệch giá cả giữa các thị trường này.
1.2.4.5. Dịch vụ bảo lãnh
Bảo lãnh ngân hàng là việc ngân hàng cam kết sẽ thanh toán cho bên thụ
hưởng bảo lãnh (bên có quyền) một khoản đền bù trong phạm vi của số tiền được
nêu rõ trong giấy bảo lãnh nếu khi đến hạn bên được bảo lãnh (bên có nghĩa vụ)
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng trách nhiệm của mình trong hợp đồng.
Ngân hàng không bảo lãnh việc bên được bảo lãnh có thực hiện nghĩa vụ hợp đồng
của mình cho bên thụ hưởng hay không mà chỉ đảm bảo sự thanh toán trong phạm
vi số tiền trong giấy bảo lãnh. Các hình thức bảo lãnh phổ biến bao gồm: bảo lãnh

22


dự thầu, bảo lãnh tạm ứng, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng và bảo
lãnh bảo hành. Dịch vụ bảo lãnh chủ yếu được cung cấp cho khách hàng là các
DNNVV.
1.2.4.6. Các loại hình dịch vụ khác

riêng mình (hình thức này thường được áp dụng khi ngân hàng có chiến lược phát
triển trở thành tập đoàn tài chính - ngân hàng cung cấp nhiều sản phẩm tài chính).
- Dịch vụ tư vấn tài chính cá nhân: ngân hàng dựa trên khối lượng thông tin
sẵn có và đội ngũ cán bộ được đào tạo bài bản, có trình độ chuyên môn và kinh
nghiệm sẽ tư vấn, đưa ra các giải pháp tài chính tối ưu giúp khách hàng của mình
gìn giữ nguồn tài chính đang có và phát triển nó ngày một lớn hơn, đáp ứng các nhu
cầu sử dụng trong tương lai. Căn cứ theo năng lực tài chính, dòng tiền hiện tại và
các kế hoạch tài chính trong tương lại, cũng như mức độ chấp nhận rủi ro của khách
hàng và dự báo về tình hình thị trường, ngân hàng có thể tư vấn cho khách hàng sử
dụng nguồn tiền của mình một cách hợp lý, hiệu quả thông qua các kênh đầu tư
như: đầu tư chứng khoán, bất động sản, mua vàng tích trữ hay đơn giản là sử dụng
các sản phẩm tiết kiệm của ngân hàng.
- Dịch vụ cho thuê két sắt: dịch vụ bảo quản và ký gửi tài sản, cho thuê két
sắt là dịch vụ khá phổ biến ở các NHTM tại các nước phát triển trên thế giới, và
mới bắt đầu phát triển tại Việt Nam trong những năm gần đây. Với hệ thống két sắt
an toàn, đội ngũ nhân viên bảo vệ chuyên nghiệp và có kinh nghiệm, cùng cam kết
về bảo mật thông tin, các khách hàng có thể yên tâm để gửi các tài sản có giá của
mình như đồ quý giá, cổ phiếu, giấy tờ nhà đất, chứng thư tài sản, di chúc… Tài sản
của khách hàng có thể được bảo quản theo dạng hợp đồng mở, trong đó sẽ liệt kê
chi tiết những tài sản sẽ được gửi tại ngân hàng, hoặc được bảo quản theo dạng hợp
đồng kín, được lưu giữ trong những hộp khóa và ký xác nhận giữa khách hàng và
ngân hàng.
Ngoài các sản phẩm kể trên, các NHTM ngày nay còn mở rộng hoạt động
bán lẻ thông qua việc cung cấp các dịch vụ như ủy thác đầu tư, kinh doanh vàng bạc
đá quý, kinh doanh chứng khoán… Cùng với sự phát triển của kinh tế đất nước, nhu
cầu của khách hàng đối với các sản phẩm DVBL ngày càng cao, đây chính là tiền đề

24





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status