Luận văn thạc sỹ: Tăng cường huy động tiền gửi tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam Chi nhánh Bắc Hà Nội - Pdf 27

Trờng Đại học KINH Tế QuốC DÂN


Đỗ THị THảO
TĂNG CƯờNG HUY ĐộNG TIềN GửI TạI NGÂN HàNG
THƯƠNG MạI Cổ PHầN CÔNG THƯƠNG VIệT NAM -
CHI NHáNH BắC Hà NộI
Chuyên ngành: Kinh tế tài chính Ngân hàng
Ngời hớng dẫn khoa học:
gs.ts. phạm quang trung
hà nội, năm 2013
MỤC LỤC
hµ néi, n¨m 2013 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU 3
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 3
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG TIỀN GỬI 3
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
CHƯƠNG 2 31
THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI 32
TẠI NHTMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 32
CHI NHÁNH BẮC HÀ NỘI 32
CHƯƠNG 3 64
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI 64
TẠI NHTMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 64
- CHI NHÁNH BẮC HÀ NỘI 64
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
SƠ ĐỒ

KẾT LUẬN 91
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thực hiện đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước, trong
những năm qua ngành ngân hàng nói chung và ngân hàng TMCP Công
thương Việt Nam nói riêng đã không ngừng đổi mới và hoàn thiện cho
phù hợp với tình hình mới, tăng cường công tác huy động mọi nguồn
vốn cho đầu tư phát triển, đẩy mạnh cho vay đối với các thành phần kinh
tế, hiện đại hóa công nghệ ngân hàng.Trong bối cảnh thị trường tiền tệ
trong nước đặc biệt là thị trường vàng hiện nay đang có những diễn biến
phức tạp nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn vốn tiền gửi, khả năng
thanh toán của các NHTM nói chung trong đó có NHTMCP Công
Thương Việt Nam – CN Bắc Hà Nội. Bởi vậy tăng cường huy động tiền
gửi dân cư không chỉ hỗ trợ nhu cầu vốn của các doanh nghiệp SXKD
mà còn đảm bảo tính thanh khoản cho các NHTM.
Xuất phát từ thực tế đó, đề tài: “Tăng cường huy động tiền gửi tại
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam - Chi
nhánh Bắc Hà Nội” được lựa chọn để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tập hợp những lý luận chung về huy động tiền gửi tại
NHTM để phân tích, đánh giá thực trạng huy động tiền gửi dân cư tại
Vietinbank – CN Bắc Hà Nội trong thời gian qua, đề xuất những giải pháp
nhằm tăng cường huy động tiền gửi tại Vietinbank CN Bắc Hà Nội
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên giác độ của ngân hàng thương mại với
hoạt động huy động tiền gửi dân cư và tiền gửi tổ chức kinh tế của ngân
hàng thương mại.

Ngân hàng thương mi là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh
mục và dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và
dịch vụ thanh toán, đồng thời thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất
so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
1.1.2 Các chức năng của NHTM
Có thể nói đặc trưng quan trọng nhất của NHTM là trung gian tài
chính, có vai trò như một cầu nối giữa người muốn tiết kiệm và người
muốn đầu tư. Thông qua NHTM sẽ giúp những người tiết kiệm và
những người đầu tư tiết kiệm được chi phí giao dịch so với tín dụng trực
tiếp do không phù hợp về quy mô, thời gian, không gian….Với vai trò
trung gian của mình, ngân hàng chuyển các khoản tiết kiệm của cá nhân,
3
tổ chức thành các khoản tín dụng cho cá nhân, tổ chức khác để đầu tư
vào nhà cửa, thiết bị và các tài sản khác. Do chuyên môn hoá, trung gian
tài chính đã làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó mà khuyến
khích tiết kiệm, đồng thời giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư (tăng
thu nhập cho người đầu tư) từ đó mà khuyến khích đầu tư. Trung gian tài
chính đã tập hợp các người tiết kiệm và đầu tư, vì vậy mà giải quyết
được mâu thuẫn tín dụng trực tiếp.
Thứ hai, là to phương tiện thanh toán: Ban đầu, ngân hàng thông qua
việc phát hành giấy nhận nợ đã tạo ra phương tiện thanh toán thay cho
tiền kim loại dựa trên số lượng tiền kim loại đang nắm giữ. Với nhiều ưu
thế, dần dần giấy nợ của ngân hàng đã thay thế tiền kim loại làm phương
tiện lưu thông và phương tiện cất trữ, nó trở thành tiền giấy. Ngoài việc
in tiền mang lại lợi nhuận rất lớn, nhu cầu có đồng tiền quốc gia duy
nhất đã dẫn đến việc Nhà nước tập trung quyền lực phát hành (in) tiền
giấy vào một tổ chức hoặc là Bộ Tài chính hoặc là Ngân hàng Trung
ương. Từ đó chấm dứt việc các ngân hàng thương mại tạo ra các giấy
bạc của riêng mình.
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, ngân hàng có

đưa vốn vay vào sản xuất kinh doanh. Vì vậy, lợi nhuận chủ yếu của
hoạt động ngân hàng sẽ là chênh lệch giữa chi phí trả lãi huy động với
thu nhập từ lãi cho vay. Ngân hàng phải đưa ra các mức lãi suất hợp lý
cũng như đa dạng các hình thức huy động.
5
Đồng thời ngân hàng cũng đa dạng hoá các hình thức cho vay nhằm
phân tán, giảm thiểu rủi ro. Với vị thế kinh doanh NHTM thực hiện các
dịch vụ trung gian hưởng hoa hồng.
Nền kinh tế ngày càng phát triển cao, hoạt động của các NHTM
càng đi sâu phục vụ mọi hoạt động của đời sống kinh tế của đất nước.
Tùy điều kiện kinh tế và trình độ phát triển của mỗi nước, các nghiệp vụ
kinh doanh của NHTM có thể khác nhau ở phạm vi hoạt động và trình
độ công nghệ, nhưng nhìn chung hoạt động của NHTM bao gồm 3
mảng chính sau đây:
1.1.3.1 Huy động vốn
Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do Ngân hàng tạo lập hoặc
huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh
doanh khác. Thực chất vốn ngân hàng huy động là một bộ phận thu nhập
quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu
dùng. Người chủ sở hữu của nó gửi vào ngân hàng với mục đích thanh
toán, tiết kiệm hay đầu tư. Với các mục đích đó họ đã chuyển nhượng
vốn cho ngân hàng và từ đó ngân hàng cung cấp dịch vụ cũng như trả lại
cho họ một khoản thu nhập nhất định.
Như vậy ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung vốn và phân phối
lại vốn dưới hình thức tiền tệ, góp phần làm tăng nhanh quá trình luân
chuyển vốn kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển. Chính những
hoạt động đó lại quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
a. Huy động vốn chủ sở hữu
Để bắt đầu hoạt động ngân hàng (được pháp luật cho phép), chủ
ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định. Đây là loại vốn ngân hàng

thu bằng tiền của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽ được chi trả sau
một thời gian xác định. Tiền gửi thanh toán tuy rất thuận tiện trong việc
thanh toán song lãi suất lại thấp. Để đáp ứng nhu cầu tăng thu của người
gửi tiền, ngân hàng đã đưa ra hình thức tiền gửi có kỳ hạn. Người gửi
không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với tiền gửi thanh toán
để áp dụng đối với loại tiền gửi này. Nếu cần chi tiêu, người gửi phải
đến ngân hàng để rút tiền ra. Tuy không thuận lợi cho tiêu dùng bằng
hình thức tiền gửi thanh toán, song tiền gửi có kỳ hạn được hưởng lãi
suất cao hơn tuỳ theo độ dài của kỳ hạn.
+ Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: Các tầng lớp dân cư đều có khoản
thu nhập tạm thời chưa sử dụng (các khoản tiền tiết kiệm). Trong điều
kiện có khả năng tiếp cận với ngân hàng, họ đều có thể gửi tiết kiệm
nhằm thực hiện mục tiêu bảo toàn và sinh lời đối với các khoản tiền tiết
kiệm, đặc biệt là nhu cầu bảo toàn. Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền
tiết kiệm, các ngân hàng đều khuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữ
vàng và tiền mặt tại nhà, bằng cách mở rộng mạng lưới huy động, đưa ra
các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn.
+ Tiền gửi của các ngân hàng khác: Nhằm mục đích nhờ thanh
toán hộ và một số mục đích khác, ngân hàng thương mại này có thể gửi
tiền tại ngân hàng khác. Tuy nhiên quy mô nguồn này thường không lớn.
- Tiền vay và nghiệp vụ đi vay của ngân hàng thương mại
Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng nhất của ngân hàng thương mại.
Tuy nhiên, khi cần, ngân hàng thường đi vay thêm. Tại nhiều nước, ngân
8
hàng Trung ương thường quy định tỷ lệ giữa nguồn tiền huy động và
vốn chủ sở hữu. Do vậy nhiều ngân hàng vào những giai đoạn cụ thể
phải vay mượn thêm để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy động
vốn bị hạn chế
+ Vay Ngân hàng Trung ương: Đây là khoản vay nhằm giải quyết
nhu cầu cấp bách trong chi trả của ngân hàng thương mại. Trong trường

triển.
Bên cạnh cho vay ngắn hạn truyền thống, các ngân hàng ngày
càng trở nên năng động trong việc tài trợ trung, dài hạn như tài trợ các
dự án xây dựng nhà máy, phát triển ngành công nghệ cao. Rủi ro trong
tài trợ các dự án này nói chung là cao song có khả năng thu được lãi cao
hơn. Một số ngân hàng còn cho vay để đầu tư vào bất động sản….
1.1.3.3 Các hot động khác
a. Cung cấp dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo
quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng. Thanh toán qua
ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt. Các tiện ích
của thanh toán không dùng tiền mặt (an toàn, nhanh chóng, chính xác,
tiết kiệm chi phí) đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao
thu nhập cho khách hàng. Điều này đã khuyến khích khách hàng gửi tiền
vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thanh toán hộ. Các hình thức thanh
toán qua ngân hàng gồm séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, L/C, các loại thẻ….
10
Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc
thu ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý
ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một
doanh nghiệp, tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các
chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần
tiền mặt để thanh toán.
b. Các hoạt động khác
Ngoài các hoạt động chính, NHTM còn thực hiện một số hoạt
động khác như góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh
doanh ngoại hối, kinh doanh vàng, kinh doanh bất động sản, tài trợ các
hoạt động của Chính phủ, kinh doanh dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ uỷ thác
và đại lý, dịch vụ tư vấn, dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, dịch vụ
bảo quản vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ

như sau:
• Tìm kiếm các nguồn tiền gửi nhằm đáp ứng yêu cầu về quy mô
cho vay và đầu tư;
• Đa dạng hóa các nguồn tiền gửi nhằm tím kiếm cơ cấu nguồn
tiền gửi có chi phí thấp nhất và phù hợp với nhu cầu sử dụng;
• Duy trì tính ổn định của nguồn tiền gửi;
• Tìm kiếm các công cụ nợ mới nhằm phát triển thị trường nợ
của ngân hàng.
12
1.2.3 Các hình thức huy động tiền gửi
1.2.3.1. Huy động bằng hình thức tiền gửi thanh toán cá nhân
Ngân hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho doanh nghiệp
hoặc cá nhân để giữ hộ và thanh toán hộ cho họ.
Nhu cầu chi trả của doanh nghiệp và cá nhân đều được ngân hàng
thực hiện trong phạm vi số dư cho phép.
Khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào và ngân hàng phải thoả mãn
yêu cầu đó của khách hàng, thực chất đó là khoản tiền gửi dùng để đảm
bảo trong thanh toán.
Các khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và cá nhân đều có thể
được nhập vào tiền gửi thanh toán theo yêu cầu.
Nhìn chung, lãi suất của khoản tiền gửi này rất thấp (hoặc bằng
không), thay vào đó chủ tài khoản có thể được hưởng các dịch vụ ngân
hàng với mức phí thấp.
Khách hàng được sử dụng số tiền của mình bằng các phương tiện
thanh toán dùng để chi trả như séc, uỷ nhiệm chi, thư chuyển tiền….Một
số ngân hàng kết hợp tài khoản tiền gửi thanh toán với tài khoản cho vay
(thấu chi- chi trội trên số dư có của tài khoản tiền gửi thanh toán).
Như vậy, các tài khoản này đã đem lại cho khách hàng sự an toàn
trong việc bảo quản vốn và trong quá trình thanh toán trả tiền hàng hoá
dịch vụ, ngoài ra khách hàng còn được hưởng một khoản tiền lãi nhỏ và

Người gửi không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với
loại tiền gửi này. Nếu cần chi tiêu, người gửi phải đến ngân hàng để rút
tiền ra. Nhưng nếu rút trước hạn, khách hàng sẽ không được hưởng lãi
suất tiền gửi có kỳ hạn ban đầu, có thể được hưởng lãi suất phạt thấp
hơn lãi suất gửi hoặc được hưởng lãi suất tiền gửi không kỳ hạn.
Như vậy, loại tiền gửi này không thuận tiện cho tiêu dùng bằng
hình thức tiền gửi thanh toán.
Do tính chất của loại tiền gửi này tương đối ổn định, ngân hàng có thể
sử dụng phần lớn số dư loại tiền vốn này để cho vay trung và dài hạn.
Nếu nguồn vốn này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy
động sẽ tạo điều kiện thuận lợi, chủ động của ngân hàng trong quá
trình kinh doanh.
Các NHTM thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn nhằm đáp ứng nhu cầu
tiền gửi của khách hàng. Hiện tại các NHTM có nhiều loại tiền gửi có kỳ
hạn có mức lãi suất khác nhau. Thông thường thời hạn càng dài thì lãi
suất càng cao.
Các NHTM thường khuyến khích khách hàng gửi tiền với thời hạn dài,
vì loại tiền này tương đối ổn định, ngân hàng sẽ chủ động trong kinh doanh
b. Theo loại tiền tệ
- Tiết kiệm nội tệ: là các khoản tiền gửi tiết kiệm bằng đồng bản
tệ, loại tiền gửi tiết kiệm này thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
nguồn tiền gửi tiết kiệm của các NHTM.
- Tiết kiệm ngoại tệ: Là các khoản tiền gửi bằng các đồng ngoại tệ
mạnh như USD, EUR và các loại ngoại tệ khác tùy mục tiêu của từng
NHTM.
15
- Tiết kiệm bằng vàng: Là hình thức tiền gửi tiết kiệm mà tiền gốc
khách hàng gửi vào tài khoản tiết kiệm là vàng miếng tiêu chuẩn.
c. Theo phương thức trả lãi
- Tiết kiệm trả lãi sau: Là hình thức tiết kiệm mà lãi được trả một

- Tiết kiệm gửi nhiều lần hay tiết kiệm gửi góp: Là hình thức tiết
kiệm mà khách hàng nộp tiền vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm theo định
kỳ đã đăng ký với NH. Số tiền gửi từng lần có thể là cố định hoặc thay
đổi theo khả năng của khách hàng và quy định của ngân hàng.
e. Theo loại hình tiết kiệm
Tiền gửi tiết kiệm được lập ra để thu hút vốn của những người
muốn dành riêng một khoản tiền cho những mục tiêu hay cho một nhu
cầu về tài chính được dự tính trong tương lai. Lãi suất áp dụng cho loại
tiền gửi này cao hơn nhiều so với tiền gửi giao dịch và tiền gửi tiết kiệm
được hưởng bảo hiểm theo quy định về bảo hiểm tiền gửi. Trong khi chi
phí trả lãi cao, chi phí duy trì và quản lý đối với tài khoản tiện gửi tiết
kiệm nói chung là thấp. Tiền gửi tiết kiệm là công cụ huy động vốn đã
được ngân hàng cung cấp trong nhiều thập kỷ. Vốn huy động từ tiền gửi
tiết kiệm thường chiểm tỷ trọng đáng kể trong tiền gửi ngân hàng. Tiền
gửi tiết kiệm bao gồm hai loại là tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và tiền gửi
tiết kiệm không kỳ hạn.
17
- Tiết kiệm không kỳ hn: Đây là khoản tiền gửi có lãi suất rất thấp
thông thường là bằng lãi suất tiền gửi thanh toán. Khách hàng có thể rút
tiền bất kỳ lúc nào mà không cần báo trước. Khi có nhu cầu khách hàng
có thể rút một phần hoặc toàn bộ sổ tiết kiệm.
- Tiết kiệm có kỳ hn: Đây là loại hình tiết kiệm khá quen thuộc ở
nước ta. Các ngân hàng thường huy động tiết kiệm với nhiều kỳ hạn
khác nhau (từ 7 ngày, 14 ngày, 1 tháng ….60 tháng). Về nguyên tắc khi
khách hàng gửi tiền theo hình thức này thì sẽ không được rút trước hạn.
Tuy nhiên để tăng sức cạnh tranh mà các ngân hàng vẫn cho khách hàng
rút trước hạn đối với khoản tiền gửi này. Nhưng khi rút trước hạn khách
hàng sẽ chỉ được hưởng một phần lãi của sổ có thể là lãi suất bằng với
lãi suất tài khoản thanh toán hoặc không được hưởng lãi. Trong thời hạn
gửi tiền thì khách hàng không được gửi thêm vào sổ tiết kiệm mà phải

môi giới đầu tư chứng khoán, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ
đại lý chi trả tiền
1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả huy động vốn tiền gửi của NHTM
Có nhiều chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động tiền gửi của NHTM.
Song, để đánh giá hiệu quả huy động tiền gửi của NHTM không thể
đánh giá qua một chỉ tiêu mà phải kết hợp tất cả các chỉ tiêu. Bài viết
này chỉ xin đánh giá hiệu quả huy động tiền gửi của NHTM dưới góc độ
một ngân hàng.
19
1.2.4.1 Quy mô, tốc độ tăng trưởng nguồn tiền gửi của NHTM
Quy mô nguồn tiền gửi huy động phải đáp ứng được nhu cầu sử
dụng vốn. Nếu ngân hàng huy động được quá nhiều tiền gửi, song lại
không cho vay, đầu tư hết thì ngân hàng đó sẽ rơi vào tình trạng ứ đọng
vốn và có nguy cơ bị thua lỗ. Nếu lượng tiền gửi huy động được không
đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng vốn thì ngân hàng sẽ phải bỏ qua nhiều cơ
hội để cho vay và đầu tư tức là bỏ mất một phần thu nhập. Vì vậy, quy
mô nguồn tiền gửi không chỉ đảm bảo gia tăng về mặt số lượng mà còn
phải đảm bảo phù hợp với tính hình sử dụng vốn. Quy mô nguồn tiền
gửi không chỉ được thể hiện thông qua sự gia tăng về số lượng tuyệt đối
mà còn được thể hiện ở tốc độ tăng trưởng của nguồn tiền gửi. Ta có các
chỉ tiêu sau:
Tốc độ tăng trưởng của nguồn
tiền gửi năm i (%)
=
Nguồn tiền gửi năm i
Nguồn tiền gửi năm i -1
- 1
Tốc độ tăng trưởng có thể tính cho cả nguồn tiền gửi huy động
cũng như đối với từng loại tiền gửi cụ thể. Nó phản ánh sự biến động của
từng loại tiền gửi. Việc sử dụng chỉ tiêu này kết hợp với tỷ trọng từng

• Cơ cấu nguồn tiền gửi theo đối tượng khách hàng:
+ Tiền gửi của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội.
+ Tiền gửi tiết kiệm của dân cư.
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status