luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng Tăng cường huy động tiền gửi tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Bắc Hà Nội - Pdf 27

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU 2
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 3
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG TIỀN GỬI 3
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TẠI NHTMCP CÔNG THƯƠNG
VIỆT NAM 26
– CHI NHÁNH BẮC HÀ NỘI 26
CHƯƠNG 3 54
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TẠI NHTMCP CÔNG THƯƠNG
VIỆT NAM 54
- CHI NHÁNH BẮC HÀ NỘI 54
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
MỤC LỤC 1
MỤC LỤC 1
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU 2
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU 2
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 3
CHƯƠNG 1 3
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG TIỀN GỬI 3
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG TIỀN GỬI 3
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TẠI NHTMCP CÔNG THƯƠNG
VIỆT NAM 26

Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Bắc Hà Nội” được
lựa chọn để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tập hợp những lý luận chung về huy động tiền gửi tại NHTM để
phân tích, đánh giá thực trạng huy động tiền gửi dân cư tại Vietinbank – CN Bắc Hà
Nội trong thời gian qua, đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường huy động tiền
gửi tại Vietinbank CN Bắc Hà Nội
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên giác độ của ngân hàng thương mại với hoạt động
huy động tiền gửi dân cư và tiền gửi tổ chức kinh tế của ngân hàng thương mại.
Phạm vi nghiên cứu: Huy động tiền gửi Vietinbank- Chi nhánh Bắc Hà Nội
giai đoạn 2010 đến 2012. Đề xuất giải pháp cho đến năm 2020.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các
phương pháp được sử dụng trong quá trình viết luận văn là phương pháp thống kê,
1
phương pháp tổng hợp số liệu, nghiên cứu tài liệu các loại để so sánh, phân tích,
đánh giá huy động tiền gửi tại Vietinbank -CN Bắc Hà Nội
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về huy động tiền gửi của NHTM
Chương 2: Thực trạng huy động tiền gửi tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt
Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp nhằm tăng cường huy động tiền gửi tại Ngân hàng TMCP
Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội
2
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG TIỀN GỬI
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

tiền quốc gia duy nhất đã dẫn đến việc Nhà nước tập trung quyền lực phát hành (in)
tiền giấy vào một tổ chức hoặc là Bộ Tài chính hoặc là Ngân hàng Trung ương. Từ
đó chấm dứt việc các ngân hàng thương mại tạo ra các giấy bạc của riêng mình.
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, ngân hàng có thể thay
mặt khách hàng thanh toán cho việc mua hàng hoá và dịch vụ nếu họ có đủ số dư
trên tài khoản tiền gửi thanh toán. Theo quan điểm hiện đại, đại lượng tiền tệ gồm
nhiều bộ phận: tiền giấy trong lưu thông (Mo), số dư trên tài khoản tiền gửi giao
dịch của các khách hàng tại ngân hàng và tiền gửi trên các tài khoản tiền gửi tiết
kiệm, tiết gửi có kỳ han…Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi
thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng và dịch
vụ. Do đó, bằng việc cho vay (hay tạo tín dụng) các ngân hàng đã tạo ra phương
tiện thanh toán (tham gia tạo ra M1). Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phương
tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân
hàng khác trên cơ sở cho vay. Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản
tiền vay để chi trả sẽ tạo nên khoản thu của một khách hàng khác tại một ngân hàng
khác từ đó tạo ra các khoản cho vay mới.
Thứ ba, là Trung gian thanh toán: Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán là
điều tất yếu cho sự phát triển của công nghệ và cuộc sống ngày càng hiện đại.
Khách hàng nhờ ngân hàng thanh toán thông qua việc sử dụng séc, uỷ nhiệm chi,
nhờ thu, các loại thẻ…khiến cho việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết
kiệm chi phí. Ngân hàng có mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung
cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ
với nhau thông qua ngân hàng Trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh
toán.
4
1.1.32 Hoạt động cơ bản của NHTM
NHTM là một tổ chức tài chính trung gian, hoạt động kinh doanh trên lĩnh
vực tiền tệ. NHTM tìm kiếm lợi nhuận bằng cách đi vay và cho vay lại. Hàng hoá
của NHTM là một loại hàng hoá đặc biệt, đó là tiền vốn. Giá cả của loại hàng hoá
này biểu hiện ra bên ngoài là các mức lãi suất huy động và lãi suất cho vay, nó chịu

hình thành loại vốn này rất đa dạng tuỳ theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của
chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường. Vốn chủ sở hữu của một
ngân hàng thương mại đóng vai trò sống còn trong việc duy trì các hoạt động
thường nhật và đảm bảo cho ngân hàng phát triển lâu dài. Vốn chủ sở hữu của
NHTM bao gồm nguồn vốn hình thành ban đầu, nguồn vốn bổ sung trong quá trình
hoạt động, các quỹ và nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần.
b. Huy động vốn nợ Vốn nợ gồm tiền gửi (của các TCKT, của dân cư) và tiền vay
(vay NHNN, vay trên thị trường LNH).
- Tiền gửi và các nghiệp vụ huy động tiền gửi:
Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài
khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó ngân hàng
huy động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức và của dân cư.
Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn
nợ của ngân hàng. Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được
nguồn tiền gửi có chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện
nhiều hình thức huy động khác nhau. Mỗi hình thức huy động tiền gửi mà ngân
hàng đưa ra đều có những đặc điểm riêng nhằm làm cho chúng phù hợp hơn với
nhu cầu của các doanh nghiệp, các tổ chức và hộ gia đình trong việc tiết kiệm và
thực hiện thanh toán.
+ Tiền gửi thanh toán: Đây là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào
ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ. Trong phạm vi số dư cho phép,
các nhu cầu chi trả của doanh nghiệp và cá nhân đều được ngân hàng thực hiện.
+ Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức: Nhiều khoản thu bằng
tiền của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽ được chi trả sau một thời gian xác
6
định. Tiền gửi thanh toán tuy rất thuận tiện trong việc thanh toán song lãi suất lại
thấp. Để đáp ứng nhu cầu tăng thu của người gửi tiền, ngân hàng đã đưa ra hình
thức tiền gửi có kỳ hạn. Người gửi không được sử dụng các hình thức thanh toán
đối với tiền gửi thanh toán để áp dụng đối với loại tiền gửi này. Nếu cần chi tiêu,
người gửi phải đến ngân hàng để rút tiền ra. Tuy không thuận lợi cho tiêu dùng

+ Vay trên thị trường vốn: Giống như các doanh nghiệp khác, các ngân hàng
cũng vay mượn bằng cách phát hành các giấy nợ (kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu)
trên thị trường vốn. Rât nhiều ngân hàng thương mại thiếu nguồn tiền gửi trung và
dài hạn. Do vậy, các khoản vay trung và dài hạn nhằm bổ sung cho các nguồn tiền
gửi, đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu tư trung và dài hạn.
1.1.2.2 Cho vay và đầu tư
Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế
là cho vay đối với những người bán (người bán chuyển các khoản phải thu cho
ngân hàng để lấy tiền trước). Sau đó ngân hàng cho vay trực tiếp đối với các
khách hàng (là người mua), giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản
xuất kinh doanh.
Trong giai đoạn đầu, hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với
cá nhân và hộ gia đình, bởi họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng rủi ro vỡ nợ
tương đối cao. Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong
cho vay đã hướng các ngân hàng tới người tiêu dùng như là một khách hàng tiềm
năng. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một
trong những loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở các nước có nền kinh tế
phát triển.
Bên cạnh cho vay ngắn hạn truyền thống, các ngân hàng ngày càng trở nên
năng động trong việc tài trợ trung, dài hạn như tài trợ các dự án xây dựng nhà máy,
phát triển ngành công nghệ cao. Rủi ro trong tài trợ các dự án này nói chung là cao
song có khả năng thu được lãi cao hơn. Một số ngân hàng còn cho vay để đầu tư
vào bất động sản….
1.1.2.3 Các hoạt động khác
a. Cung cấp dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản mà
8
còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng. Thanh toán qua ngân hàng đã mở
đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt. Các tiện ích của thanh toán không dùng
tiền mặt (an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí) đã góp phần rút ngắn

hàng, mạng lưới chi nhánh và quầy tiết kiệm, các hình thức huy động, lãi suất, các
dịch vụ đi kèm…Tại các thành phố lớn, nơi tập trung tầng lớp dân cư có thu nhập
cao, hình thành khách hàng gửi tiền lớn.
Trong môi trường cạnh tranh, huy động tiền gửi của NHTM càng trở nên khó
khăn hơn., các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác
nhau. Các hình thức huy động tiền gửi khác nhau đó là: mở tài khoản tiền gửi thanh
toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ
hạn. Loại tiền huy động có thể là nội tệ hoặc ngoại tệ. Đối tượng khách hàng mà
ngân hàng huy động tiền gửi có thể là doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và dân cư.
1.2.2 Mục tiêu huy động tiền gửi
Mục tiêu chung của hoạt động huy động tiền gửi của NHTM không nằm
ngoài mục tiêu chung của hoạt động ngân hàng là an toàn và sinh lợi. Mục tiêu cụ
thể của hoạt động huy động tiền gửi của NHTM như sau:
• Tìm kiếm các nguồn tiền gửi nhằm đáp ứng yêu cầu về quy mô cho vay và
đầu tư;
• Đa dạng hóa các nguồn tiền gửi nhằm tím kiếm cơ cấu nguồn tiền gửi có
chi phí thấp nhất và phù hợp với nhu cầu sử dụng;
• Duy trì tính ổn định của nguồn tiền gửi;
• Tìm kiếm các công cụ nợ mới nhằm phát triển thị trường nợ của ngân
hàng.
1.2.3 Các hình thức huy động tiền gửi
1.2.3.1. Huy động bằng hình thức tiền gửi thanh toán cá nhân
Ngân hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho doanh nghiệp hoặc cá nhân
để giữ hộ và thanh toán hộ cho họ.
Nhu cầu chi trả của doanh nghiệp và cá nhân đều được ngân hàng thực hiện
trong phạm vi số dư cho phép.
Khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào và ngân hàng phải thoả mãn yêu cầu
đó của khách hàng, thực chất đó là khoản tiền gửi dùng để đảm bảo trong thanh toán.
10
Các khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và cá nhân đều có thể được nhập

động thanh toán song lãi suất thấp. Do đó, nhiều doanh nghiệp và tổ chức xã hội có
khoản tiền nhàn rỗi gửi có kỳ hạn vào ngân hàng và sẽ được chi trả sau một thời
gian nhất định cả gốc và lãi.
Tiền gửi có kỳ hạn được hưởng lãi suất cao hơn tiền gửi thanh toán, tuỳ theo
độ dài của kỳ hạn mà có các mức lãi suất tiền gửi có kỳ hạn khác nhau.
Người gửi không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với loại tiền gửi
này. Nếu cần chi tiêu, người gửi phải đến ngân hàng để rút tiền ra. Nhưng nếu rút
trước hạn, khách hàng sẽ không được hưởng lãi suất tiền gửi có kỳ hạn ban đầu, có
thể được hưởng lãi suất phạt thấp hơn lãi suất gửi hoặc được hưởng lãi suất tiền gửi
không kỳ hạn.
Như vậy, loại tiền gửi này không thuận tiện cho tiêu dùng bằng hình thức tiền
gửi thanh toán.
Do tính chất của loại tiền gửi này tương đối ổn định, ngân hàng có thể sử
dụng phần lớn số dư loại tiền vốn này để cho vay trung và dài hạn.
Nếu nguồn vốn này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động sẽ
tạo điều kiện thuận lợi, chủ động của ngân hàng trong quá trình kinh doanh.
Các NHTM thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn nhằm đáp ứng nhu cầu tiền gửi
của khách hàng. Hiện tại các NHTM có nhiều loại tiền gửi có kỳ hạn có mức lãi
suất khác nhau. Thông thường thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao.
Các NHTM thường khuyến khích khách hàng gửi tiền với thời hạn dài, vì loại tiền
này tương đối ổn định, ngân hàng sẽ chủ động trong kinh doanh
.b. Theo loại tiền tệ
- Tiết kiệm nội tệ: là các khoản tiền gửi tiết kiệm bằng đồng bản tệ, loại tiền
gửi tiết kiệm này thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền gửi tiết kiệm của
các NHTM.
- Tiết kiệm ngoại tệ: Là các khoản tiền gửi bằng các đồng ngoại tệ mạnh như
USD, EUR và các loại ngoại tệ khác tùy mục tiêu của từng NHTM.
- Tiết kiệm bằng vàng: Là hình thức tiền gửi tiết kiệm mà tiền gốc khách
12
hàng gửi vào tài khoản tiết kiệm là vàng miếng tiêu chuẩn.

NH. Số tiền gửi từng lần có thể là cố định hoặc thay đổi theo khả năng của khách
hàng và quy định của ngân hàng.
e. Theo loại hình tiết kiệm
Tiền gửi tiết kiệm được lập ra để thu hút vốn của những người muốn dành
riêng một khoản tiền cho những mục tiêu hay cho một nhu cầu về tài chính được dự
tính trong tương lai. Lãi suất áp dụng cho loại tiền gửi này cao hơn nhiều so với tiền
gửi giao dịch và tiền gửi tiết kiệm được hưởng bảo hiểm theo quy định về bảo hiểm
tiền gửi. Trong khi chi phí trả lãi cao, chi phí duy trì và quản lý đối với tài khoản
tiện gửi tiết kiệm nói chung là thấp. Tiền gửi tiết kiệm là công cụ huy động vốn đã
được ngân hàng cung cấp trong nhiều thập kỷ. Vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm
thường chiểm tỷ trọng đáng kể trong tiền gửi ngân hàng. Tiền gửi tiết kiệm bao gồm
hai loại là tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
- Tiết kiệm không kỳ hạn: Đây là khoản tiền gửi có lãi suất rất thấp thông
thường là bằng lãi suất tiền gửi thanh toán. Khách hàng có thể rút tiền bất kỳ lúc
nào mà không cần báo trước. Khi có nhu cầu khách hàng có thể rút một phần hoặc
toàn bộ sổ tiết kiệm.
- Tiết kiệm có kỳ hạn: Đây là loại hình tiết kiệm khá quen thuộc ở nước ta.
Các ngân hàng thường huy động tiết kiệm với nhiều kỳ hạn khác nhau (từ 7 ngày,
14 ngày, 1 tháng ….60 tháng). Về nguyên tắc khi khách hàng gửi tiền theo hình
thức này thì sẽ không được rút trước hạn. Tuy nhiên để tăng sức cạnh tranh mà các
ngân hàng vẫn cho khách hàng rút trước hạn đối với khoản tiền gửi này. Nhưng khi
rút trước hạn khách hàng sẽ chỉ được hưởng một phần lãi của sổ có thể là lãi suất
bằng với lãi suất tài khoản thanh toán hoặc không được hưởng lãi. Trong thời hạn
gửi tiền thì khách hàng không được gửi thêm vào sổ tiết kiệm mà phải chờ đến ngày
đáo hạn của sổ. Đến kỳ hạn, nếu khách hàng không ra lĩnh tiền thì ngân hàng sẽ tự
động gia hạn một kỳ hạn mới cho khách hàng với lãi suất tại thời điểm đáo hạn.
Nhằm thu hút được ngày càng nhiều tiền gửi tiết kiệm, các ngân hàng đều cố gắng
khuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà, bằng cách mở
14
rộng mạng lưới huy động, đưa ra nhiều hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh

Nếu ngân hàng huy động được quá nhiều tiền gửi, song lại không cho vay, đầu tư
hết thì ngân hàng đó sẽ rơi vào tình trạng ứ đọng vốn và có nguy cơ bị thua lỗ. Nếu
lượng tiền gửi huy động được không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng vốn thì ngân hàng
sẽ phải bỏ qua nhiều cơ hội để cho vay và đầu tư tức là bỏ mất một phần thu nhập.
Vì vậy, quy mô nguồn tiền gửi không chỉ đảm bảo gia tăng về mặt số lượng mà còn
phải đảm bảo phù hợp với tính hình sử dụng vốn. Quy mô nguồn tiền gửi không chỉ
được thể hiện thông qua sự gia tăng về số lượng tuyệt đối mà còn được thể hiện ở
tốc độ tăng trưởng của nguồn tiền gửi. Ta có các chỉ tiêu sau:
Tốc độ tăng trưởng của nguồn
tiền gửi năm i (%)
=
Nguồn tiền gửi năm i
Nguồn tiền gửi năm i -1
- 1
Tốc độ tăng trưởng có thể tính cho cả nguồn tiền gửi huy động cũng như đối
với từng loại tiền gửi cụ thể. Nó phản ánh sự biến động của từng loại tiền gửi. Việc
sử dụng chỉ tiêu này kết hợp với tỷ trọng từng nguồn tiền gửi sẽ giúp ngân hàng
đánh giá một cách đầy đủ, chính xác về khả năng huy động tiền gửi của NHTM.
Huy động tiền gửi của ngân hàng đạt hiệu quả khi nguồn tiền gửi có sự tăng
trưởng ổn định (nguồn tiền gửi tăng đều qua các năm; nguồn tiền gửi năm sau lớn
hơn nguồn tiền gửi năm trước, tốc độ tăng trưởng qua các năm xấp xỉ nhau); thoả
mãn nhu cầu sử dụng, điển hình là nhu cầu tín dụng và đầu tư.
1.2.4.2 Cơ cấu nguồn tiền gửi huy động
Nguồn tiền gửi có quy mô và tốc độ tăng trưởng lớn và ổn định chưa đủ để
đánh giá hiệu quả huy động tiền gửi mà còn phải xem xét tới cơ cấu nguồn tiền gửi.
Dựa trên tiêu chí phân loại khác nhau thì nguồn tiền gửi cũng được chia thành các
loại khác nhau theo thời gian, theo đối tượng khách hàng và theo loại tiền tệ. Cơ cấu
nguồn tiền gửi thể hiện ở tỷ trọng từng loại tiền gửi trong tổng nguồn tiền gửi. Nó
được tính theo công thức sau:
- Tỷ trọng của nguồn tiền gửi i = (Nguồn tiền gửi i / Tổng nguồn tiền gửi)*100.

Tóm lại, cơ cấu nguồn tiền gửi ảnh hưởng tới cơ cấu cho vay và đầu tư của
17
ngân hàng và quyết định chi phí của ngân hàng. Huy động tiền gửi đạt hiệu quả khi
cơ cấu nguồn tiền gửi hợp lý, phù hợp với nhu cầu sử dụng và tiết kiệm được chi
phí cho ngân hàng.
1.2.4.3 Chi phí huy động tiền gửi
Huy động tiền gửi của ngân hàng đạt hiệu quả hay không phải xem xét tới
chi phí huy động tiền gửi của ngân hàng đó.
Chi phí huy động tiền gửi bao gồm chi phí trả lãi và chi phí khác. Trong đó,
chi phí trả lãi là bộ phận chi phí lớn nhất đối với ngân hàng, vì vậy có ảnh hưởng
quyết định đối với thu nhập của ngân hàng. Lãi suất chi trả càng cao càng có thể
huy động được tiền gửi lớn. Tuy nhiên, lãi suất cao làm gia tăng chi phí của ngân
hàng, và nếu doanh thu không tăng kịp chi phí, lợi nhuận của ngân hàng sẽ giảm
tương ứng.
Chi phí huy động tiền gửi được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:
- Lãi suất huy động tiền gửi bình quân= Tỷ trọng nguồn tiền gửi i* Lãi suất
huy động i.
Trong đó: Tỷ trọng nguồn tiền gửi i = (nguồn tiền gửi huy động loại i/ Tổng
nguồn tiền gửi huy động)*100.
Hoặc Lãi suất huy động tiền gửi bình quân= (Chi phí trả lãi tiền
gửi*100)/Tổng tiền gửi.
Lãi suất huy động tiền gửi bình quân đánh giá sự hợp lý trong cơ cấu huy
động hay chất lượng nguồn tiền gửi huy động của ngân hàng. Chỉ tiêu này đánh giá
khả năng cạnh tranh của ngân hàng thông qua so sánh lãi suất huy động tiền gửi
bình quân của ngân hàng với mặt bằng lãi suất chung hoặc với lãi suất của ngân
hàng cạnh tranh.
Ngoài ra, chi phí huy động tiền gửi còn bao gồm cả chi phí khác. Nó bao
gồm chi phí trực tiếp trả cho người gửi tiền (quà tặng, quay số trúng thưởng, bảo
hiểm tiền gửi, chi phí mở phòng giao dịch; trang bị thêm máy đếm tiền; thiết bị soi
tiền; chi phí văn phòng như mực in, giấy in; lương cho cán bộ; chi phí quảng cáo…

Thực tế nhu cầu cho vay trung và dài hạn của các NHTM thường lớn hơn
nguồn tiền gửi trung và dài hạn, trong khi đó, nguồn tiền gửi ngắn hạn thường
19
chiếm tỷ trọng lớn hơn nguồn tiền gửi trung và dài hạn. Vì không muốn bỏ lỡ cơ
hội kinh doanh trên thị trường nên các ngân hàng thường xuyên chuyển hoán kỳ
hạn của nguồn tức là dùng nguồn tiền gửi ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn
khiến cho ngân hàng phải đối mặt với rủi ro lãi suất (khi lãi suất trên thị trường
tăng) và rủi ro thanh khoản. Do đó, việc tính toán hợp lý tỷ lệ nguồn tiền gửi ngắn
hạn để cho vay trung và dài hạn giúp ngân hàng vừa đảm bảo an toàn trong hoạt
động vừa gia tăng nguồn thu cho ngân hàng.
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HUY ĐỘNG TIỀN GỬI CỦA
NHTM
1.3.1 Nhóm nhân tố chủ quan
1.3.1.1 Chiến lược kinh doanh của ngân hàng
Nghiệp vụ huy động vốn chịu tác động trực tiếp từ hoạt động sử dụng vốn
của ngân hàng. Mỗi ngân hàng đều có một chiến lược kinh doanh riêng theo từng
thời kỳ, tuỳ thuộc vào đặc điểm hoạt động của bản thân ngân hàng và điều kiện môi
trường kinh doanh. Từ đó ngân hàng có thể đưa ra chiến lược huy động vốn là thu
hẹp hay mở rộng phù hợp với chính sách thu hẹp hay mở rộng tín dụng của ngân
hàng thời kỳ đó.
Cơ cấu nguồn vốn có thể thay đổi về tỷ lệ các khoản mục cấu thành, chi phí
huy động có thể tăng hay giảm.
Ngân hàng có chiến lược kinh doanh được xây dựng đúng đắn phù hợp với
điều kiện bản thân ngân hàng, các nguồn vốn được khai thác tối đa và hợp lý thì
công tác huy động vốn phát huy hiệu quả.
1.3.1.2 Cơ chế, chính sách huy động vốn của ngân hàng
Đối với người gửi tiền, lãi suất là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn
nhất đến quyết định gửi tiền. Do đó, với mục đích hưởng lãi khi gửi tiền, các doanh
nghiệp và dân cư thường có xu hướng gửi vào ngân hàng có lãi suất huy động cao.
Các ngân hàng mới thành lập, còn non trẻ, nguồn vốn còn thiếu hay như

lực, trình độ và phong cách giao tiếp, phục vụ khách hàng.
21
- Năng lực và trình độ của cán bộ được thể hiện cả về phương diện quản lý
lẫn nghiệp vụ:
+ Năng lực quản lý: Nếu một NH quản lý tốt về mặt nhân sự, về tài sản và
nguồn vốn thì trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, NH dự đoán được
những khả năng xảy ra rủi ro, dự đoán được hiệu quả môi trường đầu tư, nắm bắt
nhanh chóng những thay đổi của thị trường để tư vấn cho khách hàng đầu tư có hiệu
quả cao nhất, từ đó thu hút được nhiều khách hàng đến với ngân hàng. Do quản lý
tốt nên trong quá trình hoạt động NH luôn đảm bảo phát triển và an toàn vốn, củng
cố uy tín trên thị trường từ đó cũng có cơ hội mở rộng, thu hút tiền gửi dân cư. Mặt
khác, một cán bộ quản lý giỏi mới có thể biết dùng người đúng năng lực, sở trường
từ đó phát huy được khả năng của từng người trong sự phát triển chung.
+ Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Trong hoạt động kinh doanh, cán bộ NH
có giỏi nghiệp vụ thì mới xử lý công việc nhanh chóng, chính xác và có hiệu quả từ
đó NH mới có điều kiện thu hút khách hàng gửi tiền, vay tiền, giảm thấp chi phí
quản lý và mở rộng hoạt động kinh doanh.
- Phong cách giao tiếp, thái độ phục vụ khách hàng: Đây là một yếu tố rất
quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới công tác huy động tiền gửi dân cư. Một NH
hoạt động tốt, có danh tiếng lâu đời với đội ngũ cán bộ, nhân viên có tư cách phẩm
chất đạo đức tốt, luôn chu đáo, nhiệt tình và tạo thuận lợi cho khách hàng trong mọi
nhu cầu thì sẽ để lại ấn tượng đẹp, xây dựng được uy tín tốt đối với khách hàng, thu
hút được ngày càng nhiều khách hàng đến giao dịch, gửi tiền. Để làm vui lòng
khách đến, vừa lòng khách đi, mỗi cán bộ ngân hàng phải có phong cách giao dịch
lịch sự, nhã nhặn để tạo được cảm tình tốt của khách hàng, tạo uy tín cho ngân hàng
về phong cách phục vụ chuyên nghiệp.
Muốn thu hút và duy trì đội ngũ cán bộ, nhân viên giỏi nghiệp vụ, có phong
cách phục vụ chuyên nghiệp, phẩm chất đạo đức tốt, mỗi NHTM cần phải có chính
sách đãi ngộ thỏa đáng và chính sách đào tạo phù hợp để không bị “chảy máu chất
xám”. Tổ chức nhân sự hợp lý tạo nên chi phí hợp lý đối với nguồn nhân lực sẽ làm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status