NGUYỄN PHƯƠNG HẰNG
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------
NGUYỄN PHƯƠNG HẰNG
PHÁT TRIỂN CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
LỚP: CH 21H - TCNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH
KHU CÔNG NGHIỆP HẢI DƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH
: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
MÃ SỐ
: 60.34.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TS. NGUYỄN THU THỦY
tháng 10 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Phương Hằng
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và bản luận văn này, bên cạnh những nỗ
lực của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm, động viên, sự góp ý tận tình của
các thầy cô, gia đình và bạn bè trong suốt quá trình học tập, công tác.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:
- Các thầy cô giáo Khoa Sau đại học và các thầy cô giáo khoa Tài chính Ngân hàng Trường Đại học Thương mại.
- Lãnh đạo Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh Khu công
nghiệp Hải Dương đã tạo điều kiện cho tôi tiến hành khảo sát và các đồng nghiệp,
bạn bè đã giúp đỡ và cung cấp tài liệu cho tác giả trong quá trình học tập, công tác
và thực hiện luận văn thạc sĩ.
- Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thu Thủy
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thành luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và
năng lực của bản thân, tuy nhiên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất
mong nhận được ý kiến đóng góp chân thành để bản luận văn được hoàn thiện hơn.
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Phương Hằng
iii
MỤC LỤC
NH
TCTD
Chi nhánh Khu công nghiệp Hải Dương
Ngân hàng nhà nước
Ngân hàng thương mại
Thương mại cổ phần
Khách hàng cá nhân
Khách hàng doanh nghiệp
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Máy rút tiền tự động
Điểm chấp nhận thẻ
Tổ chức thương mại thế giới
Sản phẩm dịch vụ
Khách hàng
Ngân hàng
Tổ chức tín dụng
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cho vay là một hoạt động cơ bản của các NHTM giúp các Ngân hàng hướng
đến mục tiêu chung đó là kinh doanh có hiệu quả, từng bước mở rộng và phát triển
hoạt động một cách bền vững. Tuy nhiên, có một thực tế là nhiều ngân hàng quan
tâm đến cho vay các doanh nghiệp hơn là cho vay đối với khách hàng cá nhân. Bởi
lẽ, chúng ta thường nhìn nhận khách hàng cá nhân là những người có khối lượng
giao dịch nhỏ, số lượng giao dịch ít, lại tốn kém chi phí phục vụ nên tính sinh lời
của một khách hàng tạo ra là thấp. Vì thế mà, trước những năm 90, khi nền kinh tế
nước ta còn kém phát triển, đời sống người dân còn khó khăn và chủ yếu là các
ngưỡng 1.400 đến 1.900 giao dịch một tháng tại Hà Nội và TP. HCM, Trong Quý
3/2015 tại Hà Nội có số lượng giao dịch Bất động sản thành công tăng hơn 70% so
với cùng kỳ năm 2014 (5.300 giao dịch) và tại TP. HCM là 5.100 Giao dịch, tăng 2
lần so với cùng kỳ năm trước; bên cạnh đó 70% dân số ở nông thôn và các tỉnh có
tiềm năng đô thị hóa cao;
(iv) Về dịch vụ thanh toán, Nhu cầu chuyển – nhận tiền của người tiêu dùng
Việt Nam theo thống kê chiếm trên 45% dân số, NHNN có nhiều chính sách khuyến
khích thanh toán thẻ qua POS, đổ lương qua ATM và thời gian qua Doanh số thanh
toán tại POS/ATM tăng bình quân 17%/năm, Doanh số sử dụng thẻ tăng bình quân
21%/năm;
(v) Về thị trường điện thoại thông minh tại Việt Nam năm 2015 có tổng doanh
thu ước tính lên đến 2,5 tỷ USD, tại VN có trên 40 triệu dân kết nối internet và tỷ lệ
phổ cập internet, smartphone cao nhất Đông Nam Á;
(vi) Về Bảo hiểm, Cục quản lý giám sát bảo hiểm dự kiến tổng doanh thu phí
bảo hiểm 2015 tăng 21,9% so với năm 2014 trong đó tốc độ tăng doanh thu phí bảo
hiểm nhân thọ 35%, tốc độ tăng doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ 15% và người
dân có xu hướng ngày càng quan tâm đến sản phẩm bảo hiểm;
(vii) Về Thị trường Tài chính tiêu dùng cá nhân, Quy mô thị trường tăng
trưởng 20%/năm trong đó 7,3% tiêu dùng cuối cùng là đi vay, 16 triệu Khách hàng
tiềm năng thỏa mãn điều kiện về độ tuổi và thu nhập.
Nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của thị trường tín dụng cá nhân trong bối
cảnh hội nhập nền kinh tế hiện nay, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
3
cũng đã có những bước chuyển mình linh hoạt, ngày càng chú trọng tới nghiệp vụ
cho vay khách hàng cá nhân, đầu tư công nghệ hiện đại, cung cấp các sản phẩm
dịch vụ ngân hàng mới, đáp ứng nhu cầu đang lên của xã hội.
Sau hơn 10 năm thành lập và hoạt động, Ngân hàng TMCP Công thương Việt
Nam Chi nhánh KCN Hải Dương luôn khẳng định được vị thế của một NHTM lớn
tích tín dụng định hướng theo rủi ro là cơ sở để xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp
vay vốn và kết quả xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp vay vốn đã giúp các Ngân
hàng thương mại lựa chọn được khách hàng tốt để cho vay, góp phần ngăn ngừa và
giảm thiểu rủi ro tín dụng, giảm dư nợ quá hạn. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất
những giải pháp đối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam: Tập trung hoàn thiện
hệ thống chỉ tiêu phân tích, các tiêu chuẩn dùng để so sánh, phương pháp tổ chức
thực hiện xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp, để xếp hạng tín nhiệm đánh giá đúng
khả năng và thiện chí trả nợ của khách hàng vay vốn, là cơ sở giúp các nhà quản trị
ngân hàng đưa ra các quyết định thích hợp nhằm nâng cao chất lượng cho vay
Khách hàng và hạn chế rủi ro tín dụng.
Luận văn thạc sỹ về đề tài: “Phát triển tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn chi nhánh huyện Bắc Hà My” của Lê Thị Ngọc Xuân, Đại
Học Đà Nẵng, năm 2011. Luận văn đã đóng góp một phần ý kiến nhằm hoàn thiện
và mở rộng hoạt động cho vay, nâng cao chất lượng cho vay tại chi nhánh Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Láng Hạ, góp phần thúc đẩy sự hoạt
động kinh doanh của ngân hàng đạt được nhiều thành tựu tốt hơn.
Các công trình đã góp phần hệ thống hoá về lý luận và đưa ra một cái nhìn
tổng quát về hoạt động cho vay của NHTM nói chung và phát triển cùng chất lượng
cho vay tại ngân hàng nói riêng. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đề cập đến phát
triển hoạt động cho vay Khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần
Công thương Việt Nam Chi nhánh Khu công nghiệp Hải Dương. Do vậy, đề tài này
không trùng lặp với các công trình đã công bố.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển cho vay khách
hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam Chi
nhánh Khu Công nghiệp Hải Dương.
5
Nhiệm vụ nghiên cứu
luận văn được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về phát triển cho vay Khách hàng cá nhân
của Ngân hàng Thương mại
Chương 2: Thực trạng phát triển cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng
TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Khu công nghiệp Hải Dương
Chương 3: Giải pháp phát triển cho vay Khách hàng cá nhân tại Ngân hàng
TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Khu công nghiệp Hải Dương đến năm 2020.
7
CHƯƠNG I
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY KHÁCH HÀNG
CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.Tổng quan về cho vay khách hàng cá nhân của NHTM
1.1.1.Khái niệm và đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân
1.1.1.1. Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân
Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất
của nền kinh tế. Hoạt động chủ yếu của NHTM là thu hút tiền gửi từ hàng triệu cá
nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế - xã hội, sau đó sử dụng
số tiền đó để cho vay. Trước đây NHTM chỉ dừng lại ở các hoạt động truyền thống
như nhận tiền gửi và cho vay, thì bây giờ NH đã chuyển sang cung cấp nhiều dịch
vụ tài chính đa dạng như thanh toán hộ, chuyển tiền, bảo lãnh… Tuy nhiên, hoạt
động cho vay vẫn được coi là hoạt động kinh doanh cơ bản, mang lại lợi nhuận lớn
nhất cho ngân hàng.
Theo Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12: “Cho vay là một hình thức
cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết cho khách hàng một khoản tiền
để sử dụng vào mục đích xác định, trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận
với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Tùy theo mục đích nghiên cứu và quản lý khác nhau mà người ta phân loại
hoạt động cho vay theo những tiêu thức khác nhau như: theo thời hạn cho vay, theo
các khoản cho vay khách hàng là doanh nghiệp. Bởi vì, chi phí cho vay (về thời
gian, nhân lực đi thẩm định, quản lý các khoản cho vay này) KHCN tính trên mỗi
đơn vị đồng vốn cho vay là lớn, mức độ rủi ro của khoản vay cao và kém nhạy bén
với lãi suất.
Thứ năm, các khoản cho vay KHCN bao giờ cũng tiền ẩn rủi ro tín dụng cao.
Bởi lẽ, khả năng trả nợ của KHCN chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như sự biến
động về tình trạng sức khoẻ, công việc…Mặt khác, việc thẩm định cho vay KHCN
thường gặp khó khăn do vấn đề thông tin không đầy đủ, không rõ ràng. Tuy nhiên,
các khoản cho vay này lại có độ phân tán rủi ro lớn.
9
1.1.2. Phân loại cho vay khách hàng cá nhân
• Căn cứ vào thời hạn cho vay
Cho vay ngắn hạn là khoản vay có thời gian dưới 12 tháng, được sử dụng để bù
đắp sự thiếu hụt chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân và hộ gia đình. Rủi ro của khoản vay
này khá nhỏ, vì trong thời gian ngắn ít có biến động xảy ra.
Cho vay trung hạn là khoản vay có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng,
được sử dụng để phục vụ cho các nhu cầu vốn có thời hạn dài hơn như mua ô tô,
xây dựng nhà cửa, du học….
Cho vay dài hạn là khoản vay có thời hạn trên 60 tháng hay tối đa lên tới 20
năm, phục vụ cho các nhu cầu vay vốn lớn như: mua sắm đất đai, nhà cửa. Nhìn
chung, đối với ngân hàng thương mại, tín dụng dài hạn tiềm ẩn rủi ro lớn.
• Căn cứ theo loại tiền
Cho vay đồng nội tệ là khoản vay được giải ngân cho khách hàng bằng đồng
nội tệ.
Cho vay đồng ngoại tệ là khoản vay được giải ngân theo nhu cầu của khách
hàng bằng đồng ngoại tệ nhưng vẫn đảm bảo được quy định về quản lý ngoại hối
của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
• Căn cứ vào mục đích cho vay
• Căn cứ theo hình thức bảo đảm tiền vay
Cho vay có tài sản bảo đảm
Là hình thức cho vay dựa trên cơ sở khoản vay được bảo đảm bằng tài sản
như: bất động sản, động sản… hợp pháp của chủ sở hữu. Tài sản bảo đảm làm tăng
tính an toàn cho khoản vay do ngân hàng có thể phát mại tài sản đảm bảo khi khách
hàng không trả được nợ, giúp giảm bớt tổn thất cho Ngân hàng. Cho vay có tài sản
đảm bảo gồm hai loại:
Loại 1 cho vay có tài sản bảo đảm đã hình thành thuộc sở hữu hoặc sử dụng
lâu dài của khách hàng cá nhân/bên thứ ba. Có 2 loại hình thức bảo đảm: cầm cố và
thế chấp.
Loại 2 cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Khi khách
hàng cá nhân có nhu cầu vay vốn nhưng không có tài sản đã hình thành để đảm bảo
thì khách hàng có thể sử dụng chính tài sản được hình thành từ nguồn tài trợ của
ngân hàng để làm vật đảm bảo.
11
Cho vay không có tài sản bảo đảm
Là hình thức cho vay dựa trên uy tín (tín chấp) hoặc bảo lãnh của bên thứ ba,
không có tài sản bảo đảm. Ngân hàng lựa chọn khách hàng có uy tín và khả năng trả
nợ tốt để cho vay. Ngân hàng cho khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu của khách
hàng trên cơ sở tín chấp lương, được áp dụng đối với khách hàng có thu nhập ổn
định, ngoài việc trang trải các chi tiêu thường xuyên còn có một phần tích luỹ để trả
nợ vay (công chức, viên chức trong biên chế nhà nước, nhân viên có hợp đồng lao
động dài hạn,…), các cán bộ công nhân viên tại các doanh nghiệp có quan hệ với
ngân hàng; ngoài ra thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh cũng có thể được
dùng làm nguồn trả nợ. Hình thức này phù hợp với những khoản vay giá trị không
lớn và thời hạn vay ngắn.
1.1.3.Vai trò của cho vay khách hàng cá nhân
Ngoài những vai trò chung của hoạt động tín dụng, hoạt động cho vay khách
tiêu về tăng trưởng kinh tế lẫn mục tiêu xã hội.
1.2.Phát triển cho vay khách hàng cá nhân của NHTM
1.2.1. Quan điểm về phát triển cho vay khách hàng cá nhân
Theo từ điển Tiếng Việt: Phát triển là khuynh hướng vận động đã xác định
về hướng của sự vật: hướng đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn
thiện hơn.
Như vậy, trong lĩnh vực ngân hàng: Phát triển cho vay KHCN là sự gia
tăng tỷ trọng cho vay KHCN tại ngân hàng, đồng thời tăng chất lượng cho vay
KHCN.
Phát triển cho vay KHCN là việc tăng cường sử dụng nguồn lực của mình vào
việc gia tăng hoạt động cho vay đối tượng khách hàng cá nhân cả về doanh số và
chất lượng cho vay. Theo đó, việc phát triển cho vay KHCN không chỉ nhằm mục
đích tăng lợi nhuận từ hoạt động cho vay đối với KHCN mà còn nhằm nâng cao uy
tín, hình ảnh của NH trong tâm trí đối tượng KHCN.
Ngân hàng là một trung gian tài chính, là một kênh dẫn vốn quan trọng cho
toàn bộ nền kinh tế. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt,việc hoàn thiện
và mở rộng các hoạt động là hướng đi và cũng là phương châm cho các Ngân hàng
tồn tại và phát triển. Trong các hoạt động của Ngân hàng có hoạt động cho vay, tuy
13
nhiên các Ngân hàng trước đây thường chú trọng cho vay khách hàng doanh nghiệp
mà chưa quan tâm đến cho vay khách hàng cá nhân.
Từ thực tế đó cho thấy khi xã hội ngày càng phát triển, không chỉ có các Công
ty, các doanh nghiệp cần vốn để sản xuất kinh doanh mở rộng thị trường mà các cá
nhân cũng có nhu cầu vay vốn và sử dụng vốn hơn bao giờ hết. Cuộc sống ngày
càng hiện đại, mức sống cũng được nâng cao, cuộc sống giờ đây không chỉ bó hẹp
trong việc “Ăn no, mặc ấm”, mà đã dần chuyển sang “Ăn ngon, mặc đẹp”, và còn
rất nhiều nhu cầu khác cần được đáp ứng. Giờ đây tâm lý của các khách hàng cá
nhân coi việc đi vay để thoả mãn sử dụng nhu cầu, hàng hoá trước khi có khả năng
dư nợ cao, hoặc tốc độ tăng trưởng nhanh do mức lãi suất cho vay của NH thấp hơn
so với thị trường dẫn đến tỷ suất lợi nhuận giảm.
Mức tăng tuyệt đối được tính bằng hiệu số giữa mức dư nợ cho vay kỳ báo cáo
với dư nợ kỳ gốc.
Mức tăng dư nợ = Dư nợ kỳ báo cáo – Dư nợ kỳ gốc
Việc đo lường, đánh giá dư nợ cho vay KHCN thông qua tỷ lệ tăng trưởng dư
nợ cho vay KHCN. Tăng trưởng dư nợ cho vay đối với KHCN là chỉ tiêu phản ánh
sự tăng trưởng tín dụng về quy mô. Mức tăng trưởng dư nợ cao chứng tỏ NH phục
vụ được nhiều hơn nhu cầu của khách hàng; chất lượng cho vay của NH cao và
ngược lại, mức tăng trưởng dư nợ thấp chứng tỏ chất lượng cho vay của NH chưa
được quan tâm đúng mức.
Tỉ lệ tăng trưởng dư nợ cho
vay KHCN
Dư nợ tín dụng cá nhân năm
=
(t+1)
Dư nợ tín dụng cá nhân năm t
*100%
Đây là một chỉ tiêu cho thấy mức độ để đánh giá hoạt động phát triển cho vay
KHCN. Dư nợ cho vay KHCN tăng chứng tỏ hoạt động cho vay KHCN của NH
đang được mở rộng tạo điều kiện cho sự phát triển hoạt động này. Tuy nhiên, kết
quả phát triển hoạt động cho vay KHCN chỉ thực sự có cơ hội phát triển nếu dư nợ
cho vay KHCN tăng cả về số lượng tuyệt đối, lẫn số lượng tương đối (tỷ trọng dư
nợ cho vay KHCN so với tổng dư nợ).
(2) Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay KHCN
16
1.2.2.2. Nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay khách hàng cá nhân
(1) Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn:
Tỷ lệ nợ quá hạn (%) = Nợ quá hạn/Tổng dư nợ x100%
Chỉ tiêu này cho thấy tình hình nợ quá hạn tại ngân hàng, đồng thời phản ánh
khả năng quản lý tín dụng của ngân hàng trong khâu cho vay, đôn đốc thu hồi nợ
của ngân hàng đối với các khoản vay.
Đây là chỉ tiêu được dùng để đánh giá chất lượng tín dụng cũng như rủi ro tín
dụng tại ngân hàng.
Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng càng
kém, và ngược lại.
(2) Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu
Phát triển hoạt động cho vay KHCN phải đảm bảo đi đôi với tăng chất lượng
cho vay KHCN. Chất lượng cho vay KHCN một phần được thể hiện ở mức độ an
toàn, vốn tín dụng thông qua chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu, đánh giá khả năng thu hồi nợ.
Tỉ lệ nợ xấu
=
Nợ xấu cho vay KHCN
Dư nợ cho vay KHCN
*100%
Tại Việt Nam hiện nay việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý
rủi ro tín dụng được thực hiện theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của
NHNN Việt Nam; Thông tư số 09/2014/TT-NHNN ngày 18/03/2014 về việc sửa đổi,
bổ sung một số điều của Thông tư 02/2013/TT-NHNN; và các văn bản sửa đổi bổ sung
cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần
hai; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần ba trở lên (kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá
hạn); Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1, 3, 4, 5, 6 Điều 126 Luật các
TCTD; Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 127 Luật các
TCTD; Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 5 Điều 128 Luật các TCTD;
Nợ theo yêu cầu của NHNN (căn cứ kết quả thanh tra, giám sát và thông tin tín
dụng có liên quan) phải phân loại nợ vào nhóm 5; Nợ quá thời hạn thu hồi theo kết
luận thanh trả trên 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được; Nợ của khách hàng là TCTD
được NHNN công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh NH nước
ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản.
18
Tỷ lệ nợ xấu của một NH càng thấp càng tốt. Thực tế, rủi ro trong kinh doanh
là không tránh khỏi, nên NH thường chấp nhận một tỷ lệ nhất định được coi là giới
hạn an toàn. Mức dưới 3% có thể coi là ngưỡng khá tốt trong hoạt động NH. Tỷ lệ
an toàn cho phép theo thông lệ quốc tế và Việt Nam là 5%.
Tỷ lệ nợ xấu cho biêt trong 100 đồng tổng dư nợ có bao nhiêu đồng là nợ xấu.
Nợ xấu phản ảnh khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của NH lúc này không còn ở
mức độ rủi ro thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn. Với các khoản nợ xấu, tổ
chức tín dụng phải thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng cho
từng nhóm nợ cụ thể. Do vậy làm tăng chi phí và làm giảm lợi nhuận của NH.
(3)Tỷ lệ dư nợ cho vay KHCN có tài sản đảm bảo:
Tỷ lệ dư nợ vay KHCN có TSĐB (%) = Dư nợ cho vay KHCN có TSĐB/Dư
nợ cho vay KHCN x100%
Tỷ lệ dư nợ cho vay KHCN có tài sản đảm bảo cho thấy khả năng đáp ứng các
điều kiện khi cho vay của khách hàng.
1.2.2.3. Thu nhập từ hoạt động cho vay khách hàng cá nhân
(1) Thu nhập từ hoạt động cho vay khách hàng cá nhân
Hiệu quả của hoạt động cho vay KHCN được phản ánh thông qua thu nhập từ
ngân hàng phải sử dụng quỹ dự phòng điều đó ngân hàng đang gặp phải tình trạng
rủi ro mất vốn, do đó, dự phòng rủi ro là một chỉ tiêu phản ánh tình trạng rủi ro mất
vốn. Dự phòng của một ngân hàng bao gồm dự phòng cụ thể, để bảo hiểm các rủi ro
cụ thể cho từng khoản vay, và dự phòng chung, bảo hiểm các rủi ro chung không
xác định vốn có trong danh mục tín dụng.
Các chỉ số thể hiện dự phòng rủi ro tín dụng
Tỉ lệ dự
=
Dự phòng RRTD được trích lập
Tổng dư nợ cho kỳ báo cáo
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển cho vay khách hàng cá nhân
1.2.3.1. Các nhân tố thuộc về ngân hàng
Một là, chính sách cho vay của ngân hàng
Chính sách tín dụng là chính sách do Hội đồng Quản trị ban hành, được thiết
kế nhằm hướng dẫn, kiểm tra và định hướng hoạt động của ngân hàng.
Nội dung của chính sách tín dụng thể hiện các tiêu chuẩn của danh mục cho vay,
quy định về quy trình cho vay, phương thức bảo đảm tiền vay, lãi suất cho vay, các giới
hạn về rủi ro tín dụng có thể chấp nhận được và yêu cầu về lợi nhuận tối thiểu…
Chính sách tín dụng có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả cho vay, nó là công cụ
dẫn đường cho các cán bộ tín dụng thực hiện cho vay đúng với yêu cầu ngân hàng.
Một chính sách tín dụng năng động, linh hoạt, thay đổi phù hợp với điều kiện
của nền kinh tế, kết hợp hài hòa giữa lợi ích của Ngân hàng và lợi ích của khách
hàng sẽ giúp ngân hàng thu hút được nhiều khách hàng, góp phần nâng cao khả
năng sinh lời của ngân hàng, là căn cứ để hoạt động cho vay KHCN phát triển.