luận văn thạc sĩ phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng hợp tác xã việt nam– chi nhánh phú thọ - Pdf 41

1

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Số liệu trong
Luận văn là trung thực. Kết quả nghiên cứu do chính tôi thực hiện dưới sự hướng
dẫn của TS. Nguyễn Thu Thủy
Phú Thọ, ngày tháng 10 năm 2016
Học viên

Phạm Thị Thúy Hà


2

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện Luận văn Thạc sỹ, tôi đã
nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện nhiệt tình và quý báu của nhiều cá nhân và tập
thể.
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cô giáo TS. Nguyễn Thu
Thủy đã tận tâm hướng dẫn trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành
Luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy cô giáo khoa Sau đại học, và các Khoa
khác thuộc Trường Đại học Thương Mại đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, truyền
đạt kiến thức trong suốt quá trình học tập, thực hiện và hoàn thành Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Ngân hàng Hợp tác chi nhánh Phú Thọ đã
tạo mọi điều kiện giúp đỡ trong suốt thời gian học cao học, thực hiện và hoàn thành
Luận văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều
kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập cũng như thực hiện và hoàn thành Luận
văn.
Mặc dù tôi đã rất cố gắng hoàn thiện Luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và

TCTD
TSBĐ
CV

DIỄN GIẢI
Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam
Khách hàng
Ngân hàng Hợp tác xã
Ngân hàng nhà nước
Ngân hàng thương mại
Nhân viên tín dụng
Quỹ tín dụng nhân dân
Tổ chức tín dụng
Tài sản bảo đảm
Cho vay


6
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc, nằm trong khu
vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc (vị trí địa lý
mang ý nghĩa trung tâm của tiểu vůng Tây – Đông - Bắc). Phía Đông giáp Hà Tây,
phía Đông Bắc giáp Vĩnh Phúc, phía Tây giáp Sơn La, phía Tây Bắc giáp Yên Bái,
phía Nam giáp Hoà Bình, phía Bắc giáp Tuyên Quang. Tỉnh Phú Thọ có trên 1,4
triệu người với 21 dân tộc anh em cùng sinh sống. Số người trong độ tuổi lao động
khoảng 800.000 người ( 60% dân số ) trong đó lực lượng lao động trẻ chiếm 65%,
lao động qua đào tạo trên 40% , thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 4.500
USD/người/năm. Những năm qua, nền kinh tế trên địa bàn đã vượt qua nhiều khó
khăn, sớm tạo được thế ổn định và tốc độ phát triển khá; chuyển dịch đúng hướng

- “Phát triển cho vay tiêu dùng tại Vietcombank Quảng Nam” của tác giả
Phạm Doãn Quốc - Đại học Đà Nẵng, tác giả cũng đã hệ thống hóa các vấn đề lý
luận cơ bản về cho vay tiêu dùng và phát triển cho vay tiêu dùng; phân tích thực
trạng, đánh giá kết quả và những hạn chế, đối với hoạt động cho vay tiêu dùng tại
Vietcombank Quảng Nam từ đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển
cho vay tiêu dùng tại đơn vị.
- “Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Việt nam chi nhánh 6” của tác giả Triều Mạnh Đức - Đại
học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh; Trong luận văn của mình tác giả vẫn chưa đi
sâu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của hoạt động tín dụng bán lẻ
mà chỉ đánh giá thực trạng chung của hoạt động tín dụng bán lẻ.
- “ Mở rộng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
chi nhánh Hà Nội “của tác giả Phạm Thúy Oanh – Đại học Kinh Tế Quốc Dân Hà
Nội , tác giả đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản đồng thời phân tích rõ thực
trạng cho vay tiêu dùng và nêu ra các giải pháp ,định hướng để mở rộng cho vay
tiêu dùng tại NH TMCP Ngoại thương Hà Nội.


8
Các luận văn trên đều đưa người đọc có cái nhìn tổng quan về cho vay tiêu
dùng và phát triển cho vay tiêu dùng, và cũng là một mục tiêu, chiến lược phát triển
quan trọng của tất cả các ngân hàng trong giai đoạn đi theo định hướng ngân hàng
bán lẻ trong giai đoạn hiện nay. Từ đó, mỗi tác giả đều đưa ra các giải pháp khác
nhau nhưng nhìn chung đều nhằm phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng. Tất cả
các nội dung trên phần nào giúp tôi có thêm định hướng cho luận văn của mình.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu: Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển cho vay tiêu
dùng tại Ngân hàng Hợp tác xã – Chi nhánh Phú Thọ.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết cơ bản về phát triển cho vay

sự vật, hiện tượng phải được tiến hành trên cơ sở khái quát hóa và rút ra từ hiện
thực.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng
biểu… đề tài được chia thành ba chương với bố cục cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển cho vay tiêu dùng của ngân hàng hợp
tác xã.
Chương 2: Thực trạng phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng hợp tác xã Chi nhánh Phú Thọ.
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp phát triển cho vay tiêu dùng tại
Ngân hàng Hợp tác xã - Chi nhánh Phú Thọ.


10

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY
TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG HỢP TÁC XÃ
1.1.HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG HTX
1.1.1. Khái niệm cho vay tiêu dùng
Ngân hàng hợp tác xã là ngân hàng của tất cả các quỹ tín dụng nhân dân do
các quỹ tín dụng nhân dân và một số pháp nhân góp vốn thành lập theo quy định
của pháp luật nhằm mục tiêu chủ yếu là liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa
vốn trong hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân. Trong quá trình hoạt động, ngân
hàng HTX được phép thực hiện cho vay đối với khách hàng không phải là quỹ tín
dụng nhân dân thành viên khi đã ưu tiêu đáp ứng nhu cầu điều hòa vốn của quỹ tín
dụng nhân dân thành viên. Như vậy, cũng giống như các NHTM, ngân hàng hợp tác
xã trong quá trình hoạt động cũng cho các tổ chức và cá nhân vay vốn khi họ đáp
ứng được đầy đủ các điều kiện cho vay.
Căn cứ Khoản 16, Điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, “Cho vay
là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng
một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo

1.1.2.2. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng
Với đối tượng khách hàng của ho vay tiêu dùng như nêu trên nên nghiệp vụ cho
vay tiêu dùng có những đặc điểm như sau:
*

Quy mô mỗi khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn

Các khoản cho vay tiêu dùng thường có giá trị nhỏ, khác với các khoản cho
vay sản xuất kinh doanh. Khách hàng khi tìm đến ngân hàng với mục đích vay tiêu
dùng thường có nhu cầu vốn không lớn vì các hàng hoá dịch vụ tiêu dùng thường
không quá đắt đỏ, nếu người tiêu dùng vay để mua nhà, sửa chữa nhà thì quy mô
những món vay này không quá lớn đối với ngân hàng hoặc khách hàng đã có sự tích
luỹ một phần từ trước.


12
* Các khoản vay tiêu dùng có độ rủi ro cao
Cho vay tiêu dùng có độ rủi ro rất cao trong danh mục cho vay của ngân hàng.
Chịu tác động của những yếu tố khách quan như môi trường kinh tế xă hội, môi
trường tự nhiên (thiên tai, hạn hán, lũ lụt…) và các yếu tố khác như:
+ Tính chu kỳ của hoạt động cho vay tiêu dùng. Nhu cầu vay vốn tỷ lệ thuận
với sự tăng trưởng của nền kinh tế. Nó tăng lên khi nền kinh tế phát triển, mở rộng
khiến người dân tin tưởng vào thu nhập của mình trong tương lai và sẵn sàng vay
tiền để được sử dụng trước những hàng hoá cao cấp phục vụ đời sống. Ngược lại,
khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, hạn hán, bệnh dịch, mất mùa…khiến người tiêu
dùng chỉ dám yêu cầu mức sống đảm vảo được những nhu cầu thiết yếu hàng ngày
và hạn chế việc vay từ ngân hàng.
+ Đối tượng cho vay tiêu dùng là cá nhân và hộ gia đình. Các thông tin về
khách hàng như sức khoẻ, công việc có thể có độ chính xác không cao do khách
hàng cố tình giữ kín hoặc che dấu. Khả năng trả nợ của khách hàng sẽ thay đổi

trị và tình hình biến động giá của tài sản được tài trợ là yếu tố mà ngân hàng rất
quan tâm. Bởi vì khoản tín dụng tài trợ cho loại tài sản này có giá trị lớn, nên sự
biến động theo hướng không có lợi của nó sẽ dẫn tới những thiệt hại rất lớn cho
ngân hàng.
* Cho vay tiêu dùng thông thường
Đây là những khoản cho vay phục vụ nhu cầu cải thiện đời sống như mua sắm
phương tiện đi lại, đồ dùng sinh hoạt, học hành,... Những khoản tín dụng thường có
quy mô nhỏ, thời gian cho vay ngắn, do đó mà mức độ rủi ro đối với ngân hàng là
thấp hơn những khoản cho vay tiêu dùng bất động sản. Đối với loại cho vay này,
yếu tố quyết định cho vay hay không là khả năng trả nợ của người vay, sau đó mới
xem xét đến giá trị tài sản đảm bảo.
1.1.3.2.Căn cứ vào hình thức bảo đảm tiền vay
* Cho vay tiêu dùng có tài sản bảo đảm: Là loại cho vay tiêu dùng mà tài sản
đảm bảo thường là bất động sản, động sản hình thành từ nguồn vốn vay hoặc tài sản
thuộc quyền sở hữu của khách hàng trước khi vay vốn ngân hàng. Tài sản đảm bảo
làm tăng tính an toàn cho khoản vay vì ngân hàng có thể tạo áp lực buộc khách


14
hàng phải trả nợ, nếu trong trường hợp khách hàng không thể trả được nợ thì ngân
hàng có thể phát mại tài sản để giảm bớt cho ngân hàng.
* Cho vay tiêu dùng không có tài sản đảm bảo: Cho vay tiêu dùng không
có tài sản đảm bảo là loại cho vay mà người vay không buộc phải sử dụng tới tài
sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa
vào uy tín của bản thân khách hàng.
1.1.3.3 Căn cứ vào thời hạn cho vay
* Cho vay ngắn hạn: Là khoản vay có thời gian dưới 12 tháng, được sử dụng để
bù đắp sự thiếu hụt chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân và hộ gia đình. Rủi ro của khoản
vay này khá nhỏ, vì trong thời gian ngắn ít có biến động xảy ra.
* Cho vay trung hạn: Là khoản vay có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng,

người đi vay...Số tiền trả trước này có một vai trò khá quan trọng giúp ngân hàng
hạn chế rủi ro.Trong trường hợp này cần chú ý số tiền thanh toán định kỳ phải phù
hợp với khả năng về thu nhập của khách hàng.
* Cho vay tiêu dùng trả một lần: theo phương thức này, tiền vay được
khách hàng thanh toán cho ngân hàng chỉ một lần khi đến hạn. Thường thì các
khoản vay trong trường hợp này có giá trị nhỏ, thời hạn ngắn. Mặc dù nó có giá
trị không lớn nhưng đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời như dùng để sửa chữa tài sản
cố định, mua sắm các vật dụng thiết yếu.
* Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: Đây la khoản cho vay tiêu dùng mà ngân
hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành séc được phép
thấu chi. Trong thời hạn tín dụng được thoả thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi
tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ, khách hàng được ngân hàng cho phép thực
hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo hạn mức tín dụng. Lãi
được trả mỗi kỳ có trước khi được hạch toán.
- Lãi được tính dựa trên số dư nợ trước khi được điều chỉnh, nghĩa là số dư
nợ được dùng để tính lãi là số dư nợ mỗi kỳ có trước khi nợ được hạch toán.
- Lãi được tính dựa trên số dư nợ đã được điều chỉnh: theo đó, số dư nợ.
1.1.3.5. Căn cứ vào nguồn gốc trả nợ
* Cho vay tiêu dùng gián tiếp( Indirect Consumer Loan):
Cho vay tiêu dùng gián tiếp là khoản cho vay tiêu dùng được thực hiện thông


16
qua việc mua lại các khế ước hay chứng từ nợ phát sinh ( do những công ty bán lẻ
bán chịu hàng hóa và dịch vụ cho người tiêu dùng ) và còn trong hạn hạch toán.

Hình 1.1 Sơ đồ cho vay tiêu dùng gián tiếp
(1): Ngân hàng ký hợp đồng mua bán nợ với công ty bán lẻ thỏa thuận các
điều kiện thực hiện.
(2): Công ty bán lẻ ký hợp đồng bán trả chậm với người tiêu dùng. Thông

(3): Ngân hàng thanh toán số tiền còn thiếu cho công ty bán lẻ
(4): Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng
(5): Người tiêu dùng thanh toán nợ vay cho ngân hàng
Hình thức vay này có những ưu điểm sau:
+ Ngân hàng có thể sử dụng triệt để trình độ, kiến thức, kinh nghiệm và kỹ
năng của cán bộ tín dụng. Do đó các khoản vay thường có chất lượng cao hơn so
với cho vay thông qua doanh nghiệp bán lẻ.
+ Cán bộ tín dụng khi cho vay đặc biệt coi trọng đến chất lượng khoản vay,
song doanh nghiệp bán lẻ hàng hóa, dịch vụ thường coi trọng đến việc tăng doanh
số bán hàng hơn là chất lượng khoản vay, hơn nữa các doanh nghiệp thường đưa ra
quyết định cho vay một cách nhanh chóng dẫn đến có những khoản vay không
chính đáng hoặc từ chối những khách hàng tốt.


18
+ Cho vay tiêu dùng trực tiếp linh hoạt hơn cho vay tiêu dùng gián tiếp vì
quan hệ trực tiếp giữa ngân hàng với khách hàng sẽ xử lý tốt các phát sinh, hơn nữa
có khả năng làm thỏa mãn quyền lợi cho cả ngân hàng và khách hàng.
+ Đối tượng khách hàng là cá nhân rộng khắp, ngân hàng có điều kiện giới
thiệu cá sản phẩm dịch vụ, tiện ích mới đến khách hàng.
1.1.4. Vai trò của cho vay tiêu dùng
* Đối với ngân hàng hợp tác xã
Cho vay tiêu dùng giúp Ngân hàng HTX mở rộng quan hệ với khách hàng,
tăng khả năng huy động các loại tiền gửi và các sản phẩm đi kèm khác của ngân
hàng. Khách hàng của hình thức cho vay tiêu dùng là cá nhân, hộ gia đình hứa hẹn
nguồn vốn huy động trong tương lai của ngân hàng. Đây là nguồn vốn rất quan
trọng giúp ngân hàng hoạt động và mở rộng kinh doanh, giúp ngân hàng tăng thêm
lợi nhuận tiềm năng.
Cho vay tiêu dùng tạo điều kiện cho ngân hàng HTX đa dạng hóa hoạt động
kinh doanh, tăng lợi nhuận và phân tán rủi ro cho ngân hàng. Đặc trưng của kinh

mạnh không đồng nghĩa với khả năng tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó của họ.
Nguồn tài chính từ sự tài trợ của ngân hàng là một giải pháp tối ưu. Như vậy, hoạt
động cho vay tiêu dùng của ngân hàng giải quyết được sự ùn tắc trong việc tiêu thụ
hàng hoá, đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hóa, tăng số vòng quay hàng tồn kho,
tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó, nguồn tín dụng này
cũng giúp cho các doanh nghiệp có điều kiện tăng cường sản xuất, mở rộng qui mô,
mở rộng thị trường.
* Đối với kinh tế -xã hội
Nhu cầu về hàng tiêu dùng của khách hàng tăng nhanh kéo theo nền sản xuất
hàng hoá, dịch vụ được đẩy mạnh, lưu thông hàng hoá cũng được tăng cường.
Những nhà sản xuất luôn muốn tiêu thụ nhanh chóng hàng hoá, dịch vụ của mình,
tuy nhiên điều này phụ thuộc phần lớn vào khả năng tài chính của người tiêu dùng.
Như đã nói ở trên, nếu chỉ đơn thuần chỉ dựa vào nguồn tài chính hiện có của khách
hàng thì không thể nào đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của họ, do vậy giải pháp tối
ưu là sử dụng nguồn tài trợ của ngân hàng. Như vậy, nguồn vốn của ngân hàng
thông qua hình thức cho vay tiêu dùng đã góp phần đẩy mạnh lưu thông hàng hoá,
góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế.


20
Có thể nói, cho vay tiêu dùng có vai trò quan trọng không chỉ với người tiêu
dùng, ngân hàng mà còn đối với nền kinh tế. Với vai trò to lớn như vậy, cho vay
tiêu dùng được ngân hàng thực hiện thao quy trình như thế nào? Câu hỏi này sẽ
được giải đáp ở mục tiếp theo.
1.2. Phát triển cho vay tiêu dùng của ngân hàng HTX
1.2.1 Quan niệm phát triển cho vay tiêu dùng
Phát triển dịch vụ cho vay tiêu dùng là sự tăng trưởng quy mô cung ứng dịch
vụ, hợp lý hóa cơ cấu dịch vụ, nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ đảm bảo tốt
hơn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng trên cơ sở kiểm soát rủi ro và gia tăng
hiệu quả kinh doanh phù hợp với mục tiêu và chiến lược kinh doanh của ngân hàng

Dư nợ cho vay tiêu dùng lớn, khả năng thu nợ tốt, khách hàng trả gốc và lãi
đầy đủ, đúng hạn về cả số tương đối và tuyệt đối, đạt được kế hoạch đề ra của ngân
hàng thì chất lượng hoạt động cho vay tiêu dùng được đánh giá là tốt.


21
* Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay tiêu dùng:
Dư nợ năm sau
Tốc độ tăng trưởng dư nợ =
Dư nợ năm trước

X 100%

Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng dư nợ cho biết tốc độ tăng dư nợ của năm sau so
với năm trước liền kề. Nếu chỉ tiêu càng lớn cho biết hoạt động cho vay tại thời
điểm so sánh tăng mạnh hay phát triển cho vay tiêu dùng có hiệu quả.
* Số lượng khách hàng vay vốn và thị phần cho vay tiêu dùng:
Trong nền kinh tế thị trường, số lượng khách hàng là tiêu chí chung để đánh
giá bất kỳ dịch vụ kinh doanh nào. Đối với dịch vụ ngân hàng nói chung và hoạt
động cho vay tiêu dùng nói riêng thì đây là tiêu chí quan trọng để thể hiện sự phát
triển, sự thành công trong hoạt động kinh doanh. Chất lượng hoạt động cho vay tiêu
dùng thể hiện bằng sự gia tăng về số lượng khách hàng vay vốn và tham gia sử
dụng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Để thu hút được khách hàng thì các ngân
hàng phải có các chính sách tín dụng phù hợp với nhu cầu của khách hàng về các
điều kiện cụ thể như: Quy mô cho vay, tiêu chuẩn xét duyệt cho vay, lãi suất, kỳ
hạn, phương thức thanh toán, thời hạn cho vay, thủ tục giao dịch, phí dịch vụ…
Ngoài chỉ tiêu số lượng khách hàng vay vốn thì thị phần cho vay tiêu dùng
cũng là chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng hoạt động cho vay tiêu dùng của các
NH. Khách hàng vay tiêu dùng là đối tượng khách hàng hiện đang được hầu hết các
NH tập trung khai thác và chăm sóc vì đây là đối tượng đem lại nguồn thu và lợi


X 100%

Tổng dư nợ cho vay đối với tiêu dùng
Việc xác định tỷ lệ nợ quá hạn là yếu tố rất quan trọng trong việc đánh giá
chất lượng cho vay của ngân hàng nói chung và cho vay tiêu dùng nói riêng, nhằm
phản ánh những khoản cho vay có khả năng hoàn trả kém. Nếu tỷ lệ trên thấp chứng
tỏ tình hình cho vay tiêu dùng của ngân hàng là tốt, hầu hết các khoản cho vay tiêu
dùng đều sinh lãi và có khả năng thu hồi. Ngược lại, nếu tỷ lệ này cao thì ngân hàng
cần có những biện pháp kiểm soát nợ quá hạn, hạn chế những rủi ro có thể mất vốn
do những khoản nợ quá hạn gây ra.


23
* Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu
Theo Quyết định số 22/BHN-NHNN ngày 04/6/2014 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng
để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng được phân thành 5 nhóm, cụ thể
như sau:
Nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn): Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là
có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn.
Nhóm 2 (nợ cần chú ý): Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá có khả
năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng
trả nợ.
Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn): Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá
không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn và có khả năng tổn thất một
phần nợ gốc và lãi.
Nhóm 4 (nợ nghi ngờ): Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá có khả
năng tổn thất cao.
Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn): Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh

X 100%
Tổng dư nợ cho vay tiêu dùng

Các đảm bảo của khách hàng nhằm hạn chế bớt các thiệt hại của Ngân hàng
khi khách hàng gặp khó khăn không trả được nợ. Tỷ lệ cho vay có TSĐB lớn cho
thấy mức độ an toàn của hoạt động cho vay là cao và nguy cơ mất vốn của Ngân
hàng trong trường hợp phát sinh nợ quá hạn có TSĐB là thấp.
1.2.2.3. Thu nhập từ hoạt động cho vay tiêu dùng
* Thu nhập từ hoạt động cho vay tiêu dùng:
Đây là chỉ tiêu phản ánh tính sinh lời của hoạt động cho vay tiêu dùng, nó bao
gồm các khoản thu từ lãi cho vay. Thu nhập từ hoạt động cho vay phụ thuộc vào
quy mô cho vay tiêu dùng, lãi suất cho vay và tỷ lệ nợ quá hạn trong hoạt động cho
vay cá nhân tại ngân hàng. Thu nhập cho vay tiêu dùng phản ánh tính sinh lời của
hoạt động cho vay tiêu dùng về số tuyệt đối. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hoạt
động cho vay này mang lại nhiều lợi ích cho Ngân hàng.
* Tỷ lệ thu nhập từ hoạt động cho vay tiêu dùng
Cơ cấu thu nhập từ hoạt động cho vay tiêu dùng là tỷ lệ % giữa thu nhập từ
hoạt động cho vay tiêu dùng và tổng thu từ hoạt động tín dụng hoặc tổng thu nhập
từ các hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Chỉ tiêu này càng lớn thì vai trò của
hoạt động cho vay cá nhân trong hoạt động tín dụng hoặc so với các hoạt động kinh
doanh khác của ngân hàng càng lớn.
Tỷ lệ thu nhập từ hoạt động cho vay tiêu dùng được tính theo công thức sau:
Thu nhập từ hoạt động cho vay tiêu dùng
Tỷ lệ thu nhập từ hoạt động CV tiêu dùng =
X


25
100%
Tổng thu nhập từ hoạt động tín dụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status