BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
TRỊNH QUỐC ĐẠT
NGHIÊN CỨU KIỂU GEN TP53 VÀ MDM2
TRONG UNG THƯ TẾ BÀO GAN NGUYÊN PHÁT
CHUYÊN NGÀNH : HÓA SINH Y HỌC
MÃ SỐ : 62720112
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
HÀ NỘI - 2017
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ung thư tế bào gan nguyên phát (UTTBGNP) là bệnh lý ác tính hay
gặp hàng đầu trên thế giới. Bệnh có tỷ lệ tử vong cao, đứng thứ hai
trong các nguyên nhân tử vong do ung thư ở nam giới, chỉ sau ung thư
phổi. Thông báo của hiệp hội ung thư Hoa Kỳ, năm 2012 thế giới có
khoảng 745.500 người chết vì ung thư gan. Việt Nam là quốc gia nằm
trong vùng dịch tễ có tỷ lệ viêm gan virus cao nên có số người mắc
UTTBGNP tương đối lớn. Ước tính trung bình mỗi năm cả nước có trên
10.000 ca UTTBGNP mới phát hiện, tỷ lệ này thuộc hàng cao nhất thế
giới. Kiểm soát các yếu tố nguy cơ gây bệnh là một trong những biện
pháp hiệu quả làm giảm tỷ lệ mắc. Các yếu tố nguy cơ gây UTTBGNP
gen tại các đa hình nucleotid đơn của TP53 và MDM2. Đánh giá tỷ lệ
phân bố các kiểu gen của nhóm bệnh nhân ung thư gan với nhóm chứng,
qua đó xác định khả năng mắc bệnh của các kiểu gen. Các kiểu gen nguy
cơ sẽ có thể phát triển thành các phương tiện sàng lọc sớm và tư vấn cho
cộng đồng, để phòng tránh, ngăn ngừa sự hình thành và phát triển khối u
gan. Đây được xem như một hướng tiếp cận mới đầy triển vọng, góp
phần làm giảm tỷ lệ mắc ung thư tế bào gan nguyên phát.
4. Cấu trúc luận án
- Luận án được trình bày trong 133 trang (không kể tài liệu tham
khảo và phần phụ lục). Luận án được chia làm 7 phần:
+ Đặt vấn đề: 2 trang
+ Chương 1: Tổng quan tài liệu 48 trang
+ Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 14 trang
+ Chương 3: Kết quả nghiên cứu 35 trang
+ Chương 4: Bàn luận 31 trang
+ Kết luận: 2 trang
+ Kiến nghị: 1 trang
Luận án gồm 27 bảng, 03 biểu đồ và 34 hình. Sử dụng 162 tài liệu
tham khảo gồm tiếng Việt, tiếng Anh và một số trang Web. Phần phụ
lục gồm bệnh án nghiên cứu, danh sách 280 bệnh nhân ung thư tế bào
gan nguyên phát và 267 người đối chứng, các quy trình kỹ thuật.
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN
1. Ung thƣ tế bào gan nguyên phát
1.1. Dich tễ và các yếu tố nguy cơ
Ung thư tế bào gan nguyên phát hay còn có tên là ung thư biểu mô
về sự liên quan giữa tình trạng nhiễm AFB1 và đột biến gen ở các bệnh
nhân UTTBGNP, mà nhiều nhất là đột biến gen TP53. Tình trạng xơ
4
gan không phải là một yếu tố nguy cơ gây bệnh nhưng lại là một yếu tố
thuận lợi, khi có xơ gan thì khả năng mắc ung thư sẽ rất cao. Trong
những năm gần đây một số nghiên cứu trên thế giới đã đề cập đến vai
trò của viêm gan nhiễm mỡ không do rượu (NASH) béo phì và đái tháo
đường type 2. Cơ chế bệnh sinh chưa rõ ràng, nhưng có một tỷ lệ cao
hơn các trường hợp UTTBGNP trong các nhóm bệnh nhân trên.
1.2. Bệnh học phân tử ung thư tế bào gan nguyên phát
Có ba cơ chế chính gây UTTBGNP được tổng kết lại cho đến thời
điểm hiện tại, đã được sự đồng thuận rộng rãi của các nhà khoa học.
Hình mô tả cơ chế phân tử của ung thƣ tế bào gan nguyên phát
Nguồn: Gastroenterology năm 2007, số 132.
Ba cơ chế chính gây ung thư gan được phân chia thành trong tế
bào và ngoài tế bào. 1) Trong tế bào là sự rút ngắn telomere và ức chế
tăng trưởng của tế bào gan. Cả hai đều dẫn đến sự chọn lọc các tế bào
mất điểm kiểm tra (chu kỳ tế bào, chết theo chương trình..). Ngoài ra
rút ngắn telomere còn gây biến đổi nhiễm sắc thể. 2) Ngoài tế bào
chính là sự thay đổi các điều kiện môi trường bao quanh tế bào gan.
Chúng là các yếu tố dịch thể, các sản phẩm chuyển hoá và thay đổi cấu
trúc nhu mô gan. Những thay đổi các điều kiện này trong bệnh cảnh xơ
gan sẽ kích thích tái sinh tế bào gan mạnh mẽ, trong khi đang mang
những khiếm khuyết nhiễm sắc thể (NST). Điều này làm tăng cơ hội cho
những dòng tế bào ác tính được chọn lọc.
2.2 Gen MDM2
MDM2 là một oncoprotein được phát hiện lần đầu tiên ở dòng
nguyên bào sợi chuột nhắt bị biến đổi tự phát, mà khi bị khuếch đại
hoặc biểu hiện quá mức sẽ làm tăng khả năng phát sinh khối u của tế
bào. Gen MDM2 gồm 12 exon và 11 intron, nằm trên nhánh dài của
NST số 12 (12q14.3-12q15). Được xác định lần đầu tiên năm 1980.
Phân tử protein MDM2 được tổng hợp có 491 acid amin, khối lượng
phân tử 56 kDa, gồm 5 vùng cấu trúc chức năng.
Vai trò quan trọng nhất của MDM2 là điều hòa hoạt động của TP53
trong con đường tín hiệu p53. Trong điều kiện bình thường thì MDM2
6
ức chế sự biểu hiện của TP53 thông qua hệ thống ubiquitinization.
Được xem như là một E3 ubiquitin ligase, MDM2 có vai trò trong
tương tác giữa các ubiquitin và protein TP53. Các mảnh ubiquitin gắn
vào phân tử protein TP53, đưa chúng đến các proteasome và bắt đầu
quá trình giáng hoá. Nồng độ TP53 luôn được duy trì ở mức rất thấp do
MDM2 liên tục khởi động quá trình giáng hoá protein TP53. Ngược lại
khi TP53 hoạt hoá lại gắn vào vùng khởi động phiên mã của MDM2 và
khởi động quá trình phiên mã MDM2. Sự điều hoà ngược âm tính của hai
gen giúp đảm bảo sự ổn định bộ gen của tế bào trong đó có tế bào gan.
3. Đa hình kiểu gen TP53 và MDM2 và ung thư tế bào gan nguyên phát
Hiện tượng đa hình nucleotid đơn (SNP) là sự khác nhau về trình tự
DNA ở trong bộ gen giữa các cá thể của một loài hay giữa các cặp
nhiễm sắc thể của một người. Đây là một hiện tượng phổ biến, được coi
là hậu quả của những đột biến điểm thay thế một cặp nucleotid. Theo
kết quả của các nghiên cứu đã được công bố thì có khoảng hơn 200
SNP được tìm thấy trên vùng mã hóa và không mã hóa của gen TP53 và
cũng hàng chục SNP trên gen MDM2. Các đa hình nucleotid đơn này
nhất về kết quả giữa các nghiên cứu tại các vùng lãnh thổ và dân tộc
khác nhau. Nhưng có một điểm chung là các nghiên cứu đều phát hiện
đa hình R72P gen và 309T>G gen MDM2 là hai SNP liên quan nhiều
nhất với ung thư gan. Các nghiên cứu tại châu Á, như ở Hà Quốc, Nhật
Bản, Đài Loan, Trung Quốc cho các kết quả tương thích hơn so với các
nghiên cứu tại các vùng khác trên thế giới. Những khác biệt giữa các
nghiên cứu còn là vấn đề cỡ mẫu, đây vẫn là một hạn chế của nhiều
nghiên cứu dịch tễ gen. Hơn nữa, sự khác nhau về nền tảng di truyền
cũng như các mô hình yếu tố nguy cơ ở mỗi quốc gia cần phải được
tính đến.
Sự tổ hợp một cách ngẫu nhiên của chọn lọc tự nhiên sẽ tạo ra
nhiều tổ hợp gen khác nhau từ các SNP, dành cho mỗi cá thể. Trung
bình mỗi SNP có 3 kiểu gen, khi tổ hợp giữa n SNP sẽ tạo ra 3n kiểu
gen tổ hợp. Những nghiên cứu SNP của TP53 và MDM2 trên
UTTBGNP gần đây cũng có những ghi nhận theo hướng này. Các
nghiên cứu chỉ chọn hai SNP liên quan nhiều nhất đến UTTBGNP để tổ
hợp. Kết quả là khi tổ hợp lại đã làm tăng một cách rất ý nghĩa nguy cơ
mắc bệnh. Những người mang đồng thời kiểu gen P72P của TP53 và
309G/G của MDM2 có khả năng mắc ung thư gan cao hơn nhiều lần so
với các kiểu gen nguyên thuỷ.
Sự tương tác giữa các kiểu gen và các môi trường sẽ quyết định
kiểu hình. Một thực tế là gan của chúng ta đang hàng ngày chịu vô vàn
những tác động bất lợi từ các yếu tố nguy cơ của môi trường. Rất khó
khăn để một kiểu gen, mình nó đủ để giải thích cho cơ chế phân tử của
UTTBGNP. Những nghiên cứu SNP trong UTTBGNP gần đây đã có
những cách tiếp cận mới, đó là nghiên cứu các SNP trong các nguy cơ
UTTBGNP khác như HCV, HBV, nghiện rượu, NASH, hút thuốc lá...
Cách tiếp cận mới này trả lời cho câu hỏi tại sao, rất nhiều người phơi
nhiễm với yếu tố nguy cơ nhưng không mắc UTTBGNP, hay cùng phơi
nhiễm với một yếu tố nguy cơ nhưng người mắc trước người mắc sau.
tại khoa khám bệnh, Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Thanh Hoá năm 2014.
Những bệnh nhân này được khám, kiểm tra cận lâm sàng và kết luận là
không mắc UTTBGNP hay bất kỳ một loại hình ung thư nào khác.
2.1.4. Các đa hình kiểu gen được phân tích
- Gen TP53
+ Thêm đoạn 16 cặp base pair tại intron 3 (dup 16).
+ SNP D21D, tại codon 21, exon 2, (GAC→GAT), mã hoá Aspartate.
+ SNP P34P, tại codon 34, exon 4 (CCC →CCA), mã hoá Prolin.
+ SNP P36P, tại codon 36, exon 4 (CCG →CCA), mã hoá Prolin.
9
+ SNP P47S, tại codon 47, exon 4, (CCG hoặc TCG), tương ứng
với Prolin hoặc Serin.
+ SNP R72P tại codon 72, exon 4, (CGC hoặc CCC), tương ứng
với Arginin hoặc Prolin.
+ SNP V217M, tại codon 217, exon 6, (GTG hoặc ATG), tương
ứng với Valin hoặc Methionine.
+ SNP G360A tại codon 360, exon 10, (GGG hoặc GCG), tương
ứng với Glycin hoặc Alanin.
- Gen MDM2
Một đa hình tại vị trí nucleotid 309, intron 1 vùng promoter của gen.
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu mô tả cắt ngang có đối chứng.
2.3. Thời gian địa điểm nghiên cứu
Thời gian thực hiện đề tài từ 11/2013 đến 11/2016. Địa điểm
nghiên cứu: Bộ môn Hóa Sinh trường Đại học Y Hà Nội. Trung tâm
nghiên cứu Gen và Protein, trường Đại Học Y Hà Nội.
2.4. Đạo đức trong nghiên cứu
Đề tài đã được thông qua bởi hội đồng đạo đức trường Đại học Y
Phân tích các SNPs
của TP53, MDM2
Kỹ thuật PCR
(thêm 16bp
của TP53)
PCR-RFLP
(P53-R72P và
MDM2-SNP309)
Giải trình tự gen
(SNP:21,34,36,47,
217, 360 của TP53)
Kết quả kiểu gen
Xác định tỷ lệ
phân bố giữa
bệnh và chứng
Đánh giá khả
năng mắc ung thư
của các kiểu gen
Kết luận
Tương quan với
một số yếu tố
nguy cơ khác
80,1
Nữ
41
14,6
53
19,9
Tuổi (năm)
57 ± 11,6
56 ± 15,5
Lạm dụng bia rượu
23
8,2
9
3,3
Nhiễm HBV
143
51,1
0
0
P
0,06
0,2
Nhận xét:
Nhóm nghiên cứu 547 đối tượng có 280 bệnh nhân UTTBGNP và
267 người đối chứng. Độ tuổi độ tuổi trung bình và tỷ lệ giới tính của
nhóm bệnh và nhóm chứng không có sự khác biệt. Kết quả cũng cho
thấy, trong nhóm UTTBGNP, số bệnh nhân nam giới cao hơn nhiều so
với nữ giới. Trong các yếu tố nguy cơ, HBV dương tính khá cao,
171/280 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 61,1%, cao nhất trong số các yếu tố
nguy cơ ung thư tế bào gan nguyên phát được phân tích.
3.2 Kết quả phân tích kiểu gen TP53
3.2.1. Thêm đoạn 16 base pairs tại intron 3 (dup16)
DNA sau khi tách chiết được khuếch đại đoạn gen vùng gen không
mã hoá thứ 3 của TP53 bằng kỹ thuật PCR. Đa hình kiểu gen có thêm
đoạn hay không có, được xác định bằng hình ảnh điện di sản phẩm PCR
trên gel agarose 3%.
12
CI (95%)
OR
n
%
%
17
3,0
5
0,9
3,31
2,4 (0,9-6,7)
Alen A2
543
97,0
529
99,1
1,00
1,00
Alen A1
1
0,3
0
0
A2A2
15
5,0
5
1,9
2,97 2,1 (0,8-6,4)
A2A1
Kiểu gen dị
Kiểu gen đồng
nucleotid của
nguyên thuỷ
hợp
hợp đột biến
các SNP
n
%
n
%
n
%
C/C
C/T
T/T
D21D(C>T)
547
100
0
0
0
0
P34P(C>A)
P36P(G>A)
P47S(C>T)
C/C
547
*
0
T/T (S47S)*
547
100
0
0
0
0
*
*
G/G (V217V)
G/A (V217M) A/A (M217M)*
V217M(G>A)
547
100
0
0
0
0
G/G (G360G)*
G/C (G360A)* C/C (A360A)*
G360A(G>C)
547
100
0
0
396bp
Hình 3.2 Hình ảnh PCR khuếch đại đoạn gen mang SNP R72P
MK: Marker 100-1000bp; (-) nước cất làm chứng âm
Nhận xét:
Hình ảnh điện di cho thấy, đã khuếch đại được đoạn gen đặc hiệu
với kích thước 396bp. Sử dụng kỹ thuật enzym cắt giới hạn (RFLP) để
cắt đoạn gen vừa khuếch đại, tại vị trí nucleotid đặc hiệu (CG↓CG). Sản
phẩm cắt được điện di trên gel agarose 3%.
Nhóm chứng
(+)
B85
B31
B33
B36
Nhóm bệnh
B35
KG85 KG86 KG75 KG87 KG76
MK
396bp
231bp
quả tương đồng với kết quả phân tích bằng RFLP.
Bảng 3.4 Kết quả phân tích kiểu gen của SNP R72P gen TP53
Kiểu gen
Alen P
Alen R
P72P
P72R
R72R
Nhóm bệnh (n=280)
n
%
278
49,6
282
50,4
74
26,4
130
46,4
76
27,1
Nhóm chứng (n=267)
n
%
230
43,0
304
57,0
1,30
1,00
1,02
1,77
1,00
1,77
1,00
1,19
OR*, CI (95%)
1,00
1,24 (0,78-3,45)
1,00
1,66 (0,99-2,79)
1,77 (1,03-3,14)
1,00
1,76 (1,08-2,86)
1,00
1,24 (0,80-1,92)
OR* được điều chỉnh từ các biến: tuổi, giới, HBV, HCV, nghiện rượu,
theo mô hình hồi quy logistic đa biến.
16
Nhận xét:
Bảng 3.4 và 3.5 cho thấy có sự khác biệt tỷ lệ kiểu gen của SNP
R72P gen TP53 giữa nhóm bệnh và nhóm chứng. Kiểu gen P72P có khả
năng mắc UTTBGNP cao hơn so với kiểu gen R72R và so với kết hợp
kiểu gen R72R + R72P.
Hình 3.5. Hình ảnh điện di sản phẩm cắt enzym của SNP 309T>G
(MK) thang chuẩn 100-1000bp; (+) mẫu biết trước kiểu gen đồng hợp
GG làm chứng dương. Kiểu gen đồng hợp GG có hai vạch xuất hiện ở
mẫu nhóm chứng B89 và mẫu nhóm bệnh KG78, KG81. Kiểu gen dị
hợp GT có ba vạch, xuất hiện ở mẫu nhóm chứng B71, B73 và nhóm
bệnh KG89, KG91. Kiểu gen đồng hợp TT chỉ có một vạch, xuất hiện ở
mẫu nhóm chứng B76, B77 và nhóm bệnh KG92.
Nhận xét:
Hình ảnh điện di sản phẩm cắt enzym đoạn gen có chứa SNP
309T>G của gen MDM2 phù hợp với tính toán lý thuyết. Kết quả thu
được cả ba kiểu gen với ba kiểu băng tương ứng trong cả nhóm bệnh
nhân ung thư gan và nhóm chứng. Kết quả được kiểm tra lại bằng kỹ
thuật giải trình tự. Kết quả giải trình tự tương đồng với kết quả cắt bằng
enzym giới hạn.
17
Bảng 3.6 Tỷ lệ phân bố các kiểu gen của SNP 309T>G gen MDM2
GG
GT
Nhóm bệnh
(n=280)
n
%
300
53,6
260
46,4
p
0,02
0,015
28,5
Bảng 3.7. Kiểu gen MDM2-SNP309 và nguy cơ mắc UTTBGNP
Kiểu gen
Allen
Kiểu gen
Tổ hợp các
kiểu gen
T
G
TT
TG
GG
TT + TG
GG
TT
TG + GG
OR (95%)
OR*
là 6.7 năm (p = 0,02).
18
3.4 Tƣơng quan giữa các kiểu gen TP53, MDM2 và một số yếu tố
nguy cơ
3.4.1. Sự kết hợp các kiểu gen của TP53 với MDM2
Nếu xem các kiểu gen TP53 và MDM2 là một yếu tố nguy cơ
của UTTBGNP thì sự kết hợp hai yếu tố nguy cơ có làm tăng khả
năng mắc bệnh.
Bảng 3.8 Kết hợp kiểu gen của R72P + 309T>G và nguy cơ mắc UTTBGNP
Kiểu gen
Kiểu gen
OR*
TT
TP53 R72P
MDM2 309T>G
95% CI
1
R/R
TT
1,00
2
R/R
GT
1,45 (0,59 - 3,59)
3
R/R
GG
2,26 (0,77 - 6,62)
3.4.2 Kiểu gen R72P gen TP53, 309T>G gen MDM2 và nhiễm HBV
Bảng 3.9 Tương quan kiểu gen TP53, MDM2 và nhiễm HBV
Có HBV
Không HBV
Đa hình kiểu gen
OR*
CI (95%)
OR*
CI (95%)
R72R
1,00
1,00
TP53
R72P
1,43
(0,51 – 4,01)
1,07 (0,95 – 3,31)
R72P
P72P
3,23
(1,12 – 9,45)
1,39 (0,99 – 2,71)
T/T
1,00
1,00
MDM2
T/G
1,63
(0,72 – 3,69)
1,04 (0,50 – 1,64)
Nghiện rượu
3,72
(1,50 – 9,21)
Kiểu gen P72P - TP53
1,77
(1,03 - 3,14)
Kiểu gen G/G - MDM2
2,77
(1,56 - 4,94)
* OR được điều chỉnh từ các biến: tuổi, giới, HBV, HCV, nghiện rượu,
theo mô hình hồi quy logistic đa biến.
Nhận xét: Tình trạng xơ gan và nồng độ AFP không xác định trên nhóm
chứng nên không đánh giá được tỷ xuất OR. Nhiễm HBV là nguy cơ
mắc UTTBGNP cao nhất.
Chƣơng 4
BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm nhóm đối tƣợng nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu bao gồm 280 bệnh nhân UTTBGNP có độ tuổi
trung bình là 57 ± 11,6 năm, với khoảng tuổi từ 23-82 tuổi. Độ tuổi hay
gặp nhất là 60. Chúng tôi ghi nhận sự tăng lên nhanh chóng tỷ lệ mắc
bệnh bắt đầu từ độ tuổi 40. Ghi nhận của chúng tôi cũng khá giống với
một số nghiên cứu trong nước và nước ngoài. Tác giả Lê Minh Huy
năm 2012, công bố độ tuổi trung bình mắc bệnh là 54.8±12.9, khoảng
tuổi mắc bệnh là từ 11-84. Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc ung thư tế bào
gan nguyên phát ở nam giới cao hơn nữ giới với tỷ lệ giới nam/ nữ là
5,8/1. Nhóm chứng gồm 260 đối tượng được lựa chọn một cách ngẫu
nhiên trong các bệnh nhân đi khám bệnh định kỳ, khá phù hợp về độ
tuổi và tỷ lệ giới với nhóm bệnh nhân ung thư gan. Ảnh hưởng từ sự
khác biệt của các yếu tố nguy cơ giữa hai nhóm bệnh và chứng, đã được
hạn chế bởi mô hình hồi quy logistic đa biến mà chúng tôi sử dụng để
Dup16, P21P, P34P, P36P, P47S, V217M, G360A là các đa hình
kiểu gen mà chúng tôi không tìm thấy sự khác biệt giữa nhóm bệnh và
nhóm chứng. Đây cũng là những SNP hiếm gặp trong nhóm nghiên
cứu. Chỉ duy nhất đa hình dup16 là có một chút khác biệt. Tỷ lệ kiểu
gen có thêm đoạn 16 bp ( A2A2 và A1A2) gặp rất ít ở nhóm đối tượng
nghiên cứu. Do tần xuất kiểu gen đột biến thấp nên chúng tôi không
đánh giá sự khác biệt giữa nhóm bệnh và nhóm chứng, mà chỉ đáng giá
được khả năng mắc bệnh của kiểu gen A1A2 so với kiểu gen A1A1.
Kết quả cho thấy kiểu gen A1A2 có khả năng mắc bệnh cao hơn A1A1.
Tuy nhiên, khi sử dụng mô hình phân tíc hồi quy đa biến thì kết quả
không có ý nghĩa. Năm 2013 C. Sagne đã tiến hành một nghiên cứu
cộng dồn 25 nghiên cứu đã công bố thì kết quả cho thấy kiểu gen A2A2
tăng nguy cơ mắc ung thư so với kiểu gen A1A1 (OR = 1.45, 95% ,CI =
1.22–1.74) . Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra là có sự khác nhau giữa các
chủng tộc. Ông phát hiện, không liên quan đến ung thư ở người Ấn Độ,
vùng Địa trung Hải và bắc u nhưng lại có ý nghĩa ở người Mỹ gốc
Caucasian. Những số liệu cũng cho thấy, đột biến thêm 16 bp không
giống nhau giữa các loại hình ung thư. Kiểu gen A2A2 là yếu tố nguy
21
cơ cho ung thư vú, ung thư đại tràng nhưng không có ý nghĩa trong ung
thư phổi. Kết quả của chúng tôi lại một lần nữa chứng minh yếu tố
chủng tộc và loại hình ung thư phải được tính đến trong nghiên cứu các
đa hình thái đơn của gen ức chế khối u TP53.
R72P là một đa hình nucleotid đơn, được biết đến nhiều nhất của
gen TP53. Đây cũng là SNP của TP53, được nghiên cứu nhiều nhất
trong ung thư. SNP này nằm giữa vùng hoạt hoá N tận và vùng gắn kết
DNA của TP53. Tuy không ảnh hưởng trực tiếp đến sự gắn vào gen
đích nhưng R72P có thể ảnh hưởng đến cấu trúc bậc 3 của phân tử
Sp1, một yếu tố hoạt hoá phiên mã của gen MDM2. Kết quả làm mức
độ biểu hiện của MDM2 RNA và protein tăng cao.
22
Kết quả phân tích kiểu gen của SNP 309T>G cho thấy, có sự khác
biệt có ý nghĩa tỷ lệ kiểu gen giữa nhóm bệnh và nhóm chứng
(p=0,015). Kiểu gen đột biến G/G gặp nhiều hơn ở nhóm bệnh còn kiểu
gen nguyên thuỷ T/T lại cao hơn ở nhóm chứng. Phân tích riêng rẽ các
allen cũng thấy khác biệt có ý nghĩa, giữa hai nhóm đối tượng nghiên
cứu (p = 0,02). Phân tích đa biến bằng mô hình hồi quy đa biến chỉ ra,
kiểu gen G/G làm tăng khả năng mắc UTTBGNP so với kiểu gen
nguyên thuỷ T/T (OR = 2,77 ; 95% ; CI (1,56-4,94). Khi so sánh kiểu
gen G/G với sự kết hợp hai kiểu gen G/T + T/T cũng thấy một sự tăng
có ý nghĩa khả năng mắc bệnh. OR = 2,56 ; 95% ;CI (1,59-4,11). Kết quả
của chúng tôi khá tương đồng với các nghiên cứu đã công bố trước đó, đặc
biệt là tại các nước trong khu vực Đông Á. Nghiên cứu của Y.J. Yoon và
cộng sự ở người Hàn Quốc cho kết quả (OR= 2.67, 95%, Cl= 1.68- 4.22).
Tại Nhật Bản nghiên cứu được biết đến nhiều nhất là của Dharel và cộng
sự đã công bố, OR = 2,27 ; 95% ; CI (1,11 – 4,70). Nhóm nghiên cứu đặt
vấn đề về sự tương đồng giữa các chủng tộc tại vùng Đông Á như Hàn
Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan.
Độ tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân mang kiểu gen nguyên
thủy T/T là cao nhất 60,6 ± 9,9. Trong khi độ tuổi trung bình ở nhóm
mang kiểu gen đột biến G/G là thấp nhất 53,9 ± 13,7. Sự chênh lệch về
độ tuổi trung bình giữa hai kiểu gen là 6,7 năm (p = 0.02). So sánh với
nghiên cứu của Y.J. Yoon là 55.1 năm so với 50.9 năm. Độ tuổi trung
bình thấp hơn ở kiểu gen đột biến G/G đã minh chứng thêm về liên
quan của SNP 309 T>G đến khả năng mắc UTTBGNP. Ghi nhận này
mở ra một khả năng có thể phát triển đa hình kiểu gen 309T>G thành
R72P và 309T>G trong khả năng mắc ung thư gan. Cần phải có các
thiết kế nghiên cứu khác phù hợp hơn, bài bản hơn để xác định mối
tương quan giữa gen TP53 và MDM2 với các yếu tố nguy cơ trong
UTTBGNP.
Khi phân tích liên quan của các kiểu gen với khả năng mắc ung thư
cho 207 trường hợp nhiễm HBV. Trong đó có 171 trường hợp thuộc
nhóm bệnh nhân UTTBGNP và 36 trường hợp thuộc nhóm chứng.
Chúng tôi thấy kiểu gen P72P của SNP R72P gen TP53 và G/G của
SNP 309T>G gen MDM2 làm tăng khả năng mắc ung thư tế bào gan
lên một cách có ý nghĩa. Tỷ xuất OR lần lượt là: OR = 3,23 ; 95% ; CI
(1,12 – 9,45) và OR = 4,38 ; 95% ; CI (1,26 – 15,30). Chỉ số này cao
hơn so với nhóm không nhiễm HBV và cao hơn so với khi phân tích cả
nhóm 547 đối tượng nghiên cứu ở phần trên. Kết quả này phù hợp với
một số nghiên cứu đã công bố tại Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc.
Điều này cho phép nhóm nghiên cứu đưa ra nhận định về một sự tương
tác giữa các gen TP53, MDM2 và virus viêm gan B. Sự tương tác này
sẽ đi theo chiều hướng mắc bệnh nếu đó là các kiểu gen đột biến.
KẾT LUẬN
1. Phân bố các kiểu gen TP53 ở bệnh nhân UTTBGNP và nhóm chứng
- Không thấy sự khác biệt tỷ lệ kiểu gen của các SNP: D21D,
P34P, P36P, P47S, V217M, G360A giữa nhóm bệnh và nhóm chứng.
Kiểu gen A1A2 của đa hình dup16 gặp nhiều gơn ở nhóm bệnh
(p=0,02).
- Tỷ lệ phân bố kiểu gen của SNP R72P giữa nhóm bệnh và nhóm
chứng có khác biệt có ý nghĩa (p = 0,02). Kiểu gen P72P gặp nhiều hơn
ở nhóm bệnh. 26,4% so với 16,9% ở nhóm chứng, và có khả năng mắc
bệnh cao hơn. P72P so với R72R. OR=1,77 ; 95% ; CI (1,03 - 3,14).
P72P so với kết hợp cả hai kiểu gen R72P và R72R , OR =1,77 95%,
CI (1,08 - 2,86).
nghiên cứu dịch tễ gen cộng đồng) để đánh giá đầy đủ mối liên
quan giữa các kiểu gen MDM2 và TP53 với UTTBGNP cũng như
một số loại hình ung thư khác ở người Việt Nam.
2. Cần phải nghiên cứu kiểu gen TP53 và MDM2 trong sự tương tác
với các yếu tố nguy cơ UTTBGNP bằng mô hình tiến cứu, bằng
việc theo dõi các đối tượng phơi nhiễm theo thời gian sẽ có tỷ lệ
phát bệnh cho mỗ kiểu gen TP53 và MDM2.
3. Cần có sự phân tích đa gen đặc biệt là các nhóm gen có liên quan
với nhau trong UTTBGNP.
1.