1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư tế bào gan nguyên phát là một bệnh thường gặp. Theo các nhà
nghiên cứu về ung thư trên thế giới, cũng như ở Việt Nam, trong vòng 40 năm
trở lại đây tỷ lệ mắc bệnh có xu hướng ngày một tăng. Tỷ lệ mắc bệnh cao, tiến
triển nhanh đã làm cho người bệnh tử vong vì ung thư gan nguyên phát tăng lên
một cách đáng kể [41] Vì vậy: Việc phòng chống và điều trị ung thư tế bào gan
nguyên phát ở trên thế giới và Việt Nam trở thành một trong những ưu tiên hàng
đầu. Nhiều chương trình mang tính quốc tế và quốc gia trên quy mô diện rộng và
chiều sâu với nội dung phong phú. Bao gồm: cải tạo môi trường sống, thực hiện
tốt an toàn vệ sinh thực phẩm, loại bỏ những hóa chất có liên quan đến ung thư
trong nông nghiệp, trong công nghiệp, trong y học và đời sống hàng ngày. Phòng
và chống các bệnh về vi rút bằng các loại vacxin như: Vacxin viêm gan B, các
chế phẩm sinh học. Tầm soát tốt và chẩn đoán sớm ung thư tế bào gan nguyên
phát với những phương tiện hiện đại. Trong điều trị cố gắng tìm ra những phương
pháp mới ít nguy hiểm nhưng lại hiệu quả hơn. Hiện nay một số nước trên thế
giới đã triển khai điều trị bằng gen [58.]
Hàng năm trên thế giới và trong nước có nhiều công trình nghiên cứu về
ung thư tế bào gan nguyên phát ra đời. Song nó vẫn là một vấn đề thời sự nóng
hổi đối với các nhà y học lâm sàng, cận lâm sàng và các nhà sinh học. Các công
trình này tập trung vào nghiên cứu dịch tễø học, các mối liên quan gây bệnh và
cải tiến phương pháp điều trị và phòng bệnh. Các công trình nghiên cứu về rối
loạn đông máu trong ung thư tế bào gan nguyên phát còn ít đề cập.
Vấn đề bức thiết trong chỉ định phẫu thuật, chăm sóc hậu phẫu và các thủ
thuật điều trị ung thư gan nhằm kéo dài thời gian sống còn gặp nhiều khó khăn,
trong đó có yếu tố rối loạn cầm máu và đông máu.
2
Vì vậy chúng tôi làm đề tài “Đánh giá rối loạn cầm máu và đông máu
Theo Tổ chức Y tế thế giới và Hiệp hội hống ung thư quốc tế ung thư tế
bào gan nguyên phát đứng thứ bảy trong các loại ung thư gây bệnh cho người, là
nguyên nhân gây ra tử vong cho 1.250.000 người hàng năm trên toàn thế giới.
Tỷ lệ mắc bệnh rất khác nhau ở các vùng địa lý [17 ][58.]
Ở Châu Á (chủ yếu Nam Trung Quốc và Đông Nam Á) và Châu Phi
(vùng cận Sahara) tỷ lệ mắc bệnh mới hàng năm: 50/100.000. Trái lại ở Hoa Kỳ
và Bắc Âu tỷ lệ mắc hàng năm là 5/100.000 [41].
Ở Việt Nam ung thư tế bào gan nguyên phát chiếm 5 - 6%, đứng hàng thứ
4 trong các bệnh ung thư [10]. Tỷ lệ ở miền bắc cao hơn miền nam [27].
Về phương diện dịch tễ, tỷ lệ mắc bệnh ung thư gan nguyên phát có liên
quan nhiều đến người nhiễm vi rút viêm gan B hoặc viêm gan C, đồng nhiễm vi
rút viêm gan B và vi rút viêm gan C cùng với các yếu tố liên quan hiệp đồng với
nhau [7] [8] [9].
Tuổi xuất hiện bệnh cũng tuỳ theo từng khu vực, ở Châu Phi và Đông
Nam Áï tuổi mắc bệnh trung bình 40 - 45 tuổi. ở Bắc Mỹ và Châu Âu tuổi mắc
bệnh trung bình là 50 - 60 tuổi [41]. ở Việt Nam tuổi trung bình là 45 tuổi [1].
Nam gặp nhiều hơn nữ, tỷ lệ này dao động từ 5/1 đến 10/1 tùy theo thống
kê của nhiều tác giả ở các khu vực khác nhau [24] [25].
4
1.1.2 các yếu tố thuận lợi và liên quan đến sự phát triển ung thƣ tế bào gan
nguyên phát
1.1.2.1 Liên quan với xơ gan:
Ung thư tế bào gan nguyên phát thường phát triển trên một nền xơ gan [57]
[58] với tỷ lệ 70%. Có nhiều vùng tỷ lệ này còn cao hơn nhất là Đông Nam Aï và
Nam Trung Quốc [40] [41][ 53] [60]. Xơ gan có thể coi là một tình trạng tiền ung
thư. Quá trình hình thành các nốt tân tạo là một quá trình làm tăng sinh sau đó là
loạn sản tế bào gan. Trên vi thể người ta thấy có sự tăng bắt màu và hình thái đa
nhân của tế bào gan [57] [58]. Có rất nhiều loại xơ gan: nhưng xơ gan nốt lớn tỷ
lệ ung thư hóa cao nhất, xơ gan nốt nhỏ hiếm thấy hơn. Ung thư gan nguyên phát
- Hepatitis C virus: ( HCV) Các nghiên cứu về dịch tể học gần đây đã dần
dần làm sáng tỏ về mối liên hệ giữa HCV và ung thư tế bào gan nguyên phát. Mối
liên quan này rất khác nhau giữa các vùng địa lý [8] [9]. Dựa vào các xét nghiệm
huyết thanh học gần đây đã cho phép phân biệt thành ba vùng địa lý có tần suất
Anti HCV khác nhau ở bệnh nhân ung thư tế bào gan nguyên phát.
* Vùng có tần suất cao (60 - 80%: Nhật Bản, Italia, Tây Ban Nha).
* Vùng có tần suất trung gian (20 - 50%: Bắc Âu, Pháp, Hoa Kỳ).
* Vùng có tần suất thấp (< 10%: Sênêgan, Môzămbíc, Đông Nam Áï).
Ở Việt Nam khoảng 9% - 34% tuỳ từng khu vực [8][9] Có một mối liên
quan nghịch giữa nhiễm HBV và nhiễm HCV ở các khu vực trên thế giới. Điều
này có lẽ do các nước tiên tiến sử dụng các biện pháp phòng và chống HBV tốt
và sớm hơn. Tuổi bị ung thư gan do HCV muộn hơn so với tuổi bị nhiễm HBV
khoảng một đến hai thập kỷ. Có lẽ HBV có thời gian gây ung thư sớm hơn
HCV. Tác động của HCV gây ra ung thư tế bào gan nguyên phát cũng qua hai
cơ chế:
* Cơ chế gián tiếp: HCV gây ra viêm gan mãn hoạt động sau đó xơ gan.
Có 90% ung thư tế bào gan nguyên phát liên quan với HCV. Những bệnh nhân
6
có Anti HCV dương tính thường có tổn thương gan nặng hơn so với bệnh nhân
có HBsAg dương tính và gan có nhiều khối u hơn. Trong các type HCV thì type
1b là nguy cơ gây ra ung thư tế bào gan nguyên phát lớn nhất [8][9].
* Cơ chế trực tiếp: HCV là một vi rút Ribonucleic acid (RNA) không thể
tích hợp lên các gen của tế bào gan nên cơ chế chưa được rõ, nhưng bằng chứng
là người ta tìm thấy có sự hiện diện của chuổi HCV - ARN trong các tế bào tổ
chức khối u. Sự bất thường của gen P53 vùng mã hóa 249 được mô tả trong một
số bệnh nhân ung thư tế bào gan nguyên phát có nhiễm HCV làm dễ cho quá
trình ung thư gan nguyên phát hình thành [8][9].
HCV có thể tác dụng hiệp đồng để làm tăng nguy cơ ung thư gan nguyên
phát cùng với các yếu tố như tuổi, giới, nghiện rượu, aflatoxin, sự đồng nhiễm
dài nhất là các kích thích tố nam tỷ lệ ung thư thường cao hơn [41] [45].
1.1.2.8 Liên quan với các yếu tố khác:
Một số yếu tố khác có thể gây xơ gan và tiến triển thành ung thư gan
nguyên phát song nó không thường gặp.
- Nhiễm sắt trong bệnh thiết huyết tố bẩm sinh có 7,7 - 25% đưa đến xơ
gan và xuất hiện ung thư hóa [57] [58].
- Thiếu
1
Antitrypsin [34] [58].
- Nhiễm đồng trong bệnh Wilson [57] [58].
- Nhiễm Tyrosin và Porphyrin máu cũng được đề cập đến.
- Bệnh dự trữ Glycogen type 1 [8].
- Ung thư tế bào gan nguyên phát cũng có thể hình thành trong ghép thận
do dùng thuốc giảm miễn dịch [58].
- Mối liên quan giữa sán lá gan và ung thư của một số tác giả đưa ra hiện
nay chưa có bằng chứng thuyết phục [57] [58].
- Một số tác giả Châu Phi và Nhật Bản còn đề cập đến ung thư tế bào gan
8
nguyên phát gây ra bởi tắc ba tĩnh mạch trên gan hoặc bệnh màng tĩnh mạch chủ
dưới [57] [58].
- Các chất phóng xạ như Thorium, Rađi, bom nguyên tử, thuốc lá, giang
mai, HIV cũng là những yếu tố đáng lưu ý.
- Xơ gan do bệnh tự miễn và xơ gan mật tiên phát hầu như không gây ra
ung thư gan.
1.1.3 Giải phẫu bệnh lý
1.1.3.1 Đại thể:
Khối u thường là màu trắng ngà có vỏ hoặc không có vỏ hình sùi hoa xúp
lơ, thỉnh thoảng có những đám hoại tử nhuộm màu sắc tối mật hoặc chảy máu.
Xung quanh khối u có những khối u nhỏ trong tĩnh mạch cửa thường có di căn
- Khám gan: Gan to quá bờ sườn phải khi phát triển xuống dưới hoặc đẩy
cơ hoành đè vào lồng ngực vượt quá khoang liên sườn năm phải, sờ thấy khối u
lớn, lổn nhổn không đều ở dưới tay liên tục với bờ sườn. U ở gan trái dễ nhầm
với triệu chứng của dạ dày hoặc bệnh lý tràn dịch màng ngoài tim. Có nhiều
trường hợp khối u quá to khi sờ vào bệnh nhân không chịu được, nghe có tiếng
cọ có lẽ do viêm màng quanh gan, thỉnh thoảng bắt gặp tiếng thổi tâm thu do
khối u tạo ra luồng Shunt động - tĩnh mạch.
- Cổ chướng: thường là cổ chướng tự do, chọc dò ổ bụng có dịch máu
không đông, thuộc loại dịch tiết Protein trên 30 gam/lít. Tế bào khối u bong ra có
thể bắt gặp khi soi trên kính hiển vi sau khi đã li tâm. Láctic Dehydrogenase
(LDH) và kháng thể kháng ung thư dạng bào thai tăng trong dịch màng bụng.
Thỉnh thoảng một vài mạch máu màng bụng bị vỡ do bị phá hủy gây chảy máu
nặng, có khi lên cơn đau giống như viêm phúc mạch ngoại khoa [29].
- Chảy máu: bệnh nhân có thể chảy máu vào ổ bụng do vỡ khối u hoặc
nôn ra máu do Thrombus gây vỡ phình thực quản kết hợp với giảm tổng hợp các
yếu tố đông máu của gan [10].
10
- Các biểu hiện của đau do di căn: Ung thư tế bào gan nguyên phát thường
di căn đến phổi, xương, não, thận, cơ quan sinh dục và các hạch lân cận. Tùy
thuộc theo vị trí di căn mà bệnh nhân có biểu hiện thêm triệu chứng lâm sàng ở
cơ quan đó.
- Triệu chứng cận ung thư: Đây là những triệu chứng không thường xuyên
nhưng không phải là không gặp. Nguyên nhân thường do khối u tiết ra một số
chất dạng hooc mon.
* Cơn tăng Canxi huyết do khối u tiết ra chất Parahoocmon - like.
* Cơn hạ đường huyết: Có thể được tìm thấy ở 30% bệnh nhân. Triệu
chứng này xẩy ra do tế bào ung thư phát triển mạnh tiêu thụ nhiều Glucose các
men Glucose-6-Phosphatase và Phosphorylase trong khi Glycogen tích lũy
nhiều trong tế bào khối u và cận u. Các tế bào u còn tiết ra Insulin-like- Growth
Glucose đều có sự thay đổi [1].
1.1.5.3 Các Marker huyết thanh:
- (1 fetoprotein (AFP) là một Protein khi chạy điện di thì dừng lại ở mức (.
Chất này được các tế bào gan bào thai sản xuất ra. Sau khi sinh ra vài tuần lễ, tế
bào gan sẽ không sản xuất nữa. Trong máu người trưởng thành chỉ lưu hành vài
nanogram. Khi tế bào gan bị ung thư nó quay lại sản xuất chất này. Kết quả bất
thường khi trên 100 ng/ml. Nồng độ từ 100 đến 200 ng/ml có thể gặp trong
trường hợp phụ nữ có thai giai đoạn cuối, viêm gan vi rút mãn tính tiến triển, xơ
gan, u tinh hoàn hoặc buồng trứng. Trong ung thư tế bào gan nguyên phát 75%
trường hợp tăng (1 fetoprotein trên mức 500 ng/ml rất gợi ý và 1000 ng/ml thì hầu
như là chắc chắn là ung thư tế bào gan nguyên phát. Trước đây người ta định
lượng bằng phương pháp điện di thường độ nhạy thấp. Ngày nay người ta định
lượng bằng phương pháp miễn dịch phóng xạ và phương pháp miễn dịch gắn kết
men có độ nhạy rất cao và rất tin cậy [1] [13] [17] [24] [25] [33] [57] [58].
12
- Des-gamma-cacbonxy Prothrombine (DCP) là một Protein bất thường
do gan sản xuất khi thiếu Vitamin K hoặc do dùng các thuốc đối kháng Vitamin
K liều cao hoặc do tế bào ung thư gan tiết ra. Nó có độ nhạy tương đương với (1
fetoprotein và rất đặc hiệu (nếu không thiếu Vitamin K). Bình thường
Prothrombine được Cacboxy hóa trong tế bào gan dưới tác dụng của men
Cacbonxylase phụ thuộc Vitamin K. Trong ung thư tế bào gan nguyên phát do
thiếu men này dẫn đến tế bào ung thư tiết ra trong huyết thanh một
Prothrombine bất thường gọi tắt là DCP. Bình thường hàm lượng DCP trong
huyết thanh dưới 16 mu/ml. Trong trường hợp ung thư gan DCP tăng trên 200
mu/ml ở 75% trường hợp. Phương pháp định lượng bằng kháng thể đơn dòng
gắn kết men trên máy ELISA ngoài chuẩn đoán nó còn dùng để theo dõi sau
điều trị sau phẫu thuật, sau gây tắc động mạch gan riêng để điều trị khối u [25]
[33] [35] [44] [50].
- Carcino-embryomic antigen trong ung thư thường tăng cao nhất là loại
- X quang:
Chụp gan xa để xác định kích thước thật của gan trên Film, có thể kết hợp
với uống thuốc cản quang dạ dày để quan sát bờ cong bé và vi trí dạ dày so sánh
với gan. Ngoài ra có thể phát hiện một số trường hợp có nốt Canxi hóa của khối
u [1] [30] [31].
- Chụp đồng vị phóng xạ:
Phương pháp chụp nhấp nháy gan bằng Tc99 có độ nhạy thấp và chỉ phát
hiện được những khối u trên 2cm. Phương pháp miễn dịch phóng xạ kháng thể
đơn dòng tốt hơn song chưa phổ biến rộng rải [5] [27].
- Siêu âm: là phương pháp được coi là tốt để chẩn đoán các tổn thương
khu trú trong gan. Trên siêu âm khối ung thư biểu hiện dưới ba dạng cơ bản:
tăng âm, giảm âm hoặc hỗn hợp âm. Thông thường các khối u nhỏ giảm âm, các
14
khối u trung bình có vòng Hallo ở xung quanh. Các khối u lớn hỗn hợp âm
thường có hoại tử, Canxi hóa, chảy máu nhỏ kèm theo. Hình ảnh gián tiếp trên
siêu âm thể hiện bằng dấu xô đẩy mạch máu từ hình ảnh cong vòng đến hình ảnh
gập gốc. Ngoài ra còn quan sát được hình ảnh Thrombus trong tĩnh mạch cửa, các
tĩnh mạch chính của gan, ba tĩnh mạch trên gan, tĩnh mạch chủ dưới và nhỉ phải.
Quan sát được các hình ảnh di căn, tình trạng cổ chướng, lách. siêu âm được coi
là phương tiện lựa chọn đầu tiên trong tầm soát, chẩn đoán, theo dõi ung thư tế
bào gan nguyên phát. Ngày nay y học đã sử dụng thêm phương pháp siêu âm màu
Doppler trong chẩn đoán. Trên hình ảnh Doppler thấy có các dạng phân bố mạch
máu như sau: phân bố mạch máu dạng hình rổ, mẫu mạch máu đi vào khối u kèm
phổ dạng đập, mẫu mạch máu dạng uốn lượn. Trong khi tiến hành siêu âm có thế
đo vận tốc các dòng chảy của mạch máu đến nuôi gan, phát hiện được các Shunt
động tĩnh mạch [6] [23].
- Chụp cắt lớp tỷ trọng:
Có độ nhạy tương đương siêu âm nếu không tiêm chất cản quang mạch
máu. Thường cho hình ảnh giảm đậm độ, khó nhận dạng đích thực bờ và số
Tuy vậy nó cũng có nhược điểm là một kỹ thuật gây tai biến, khó quan sát được
những tổn thương ở vị trí sâu nên dễ bị bỏ sót. Thông qua soi ở bụng người ta
cũng có thể tiến hành chọc dò hoặc làm sinh thiết [1] [17] [27].
1.1.5.8 Minilaparotomy:
Mổ bụng tối thiểu để kiểm tra gan kèm theo sinh thiết. Phương pháp này
hiện nay hầu như không dùng nữa [58].
1.1.5.9 Xét nghiệm tế bào học:
Thông qua đường dẫn của máy siêu âm hoặc máy CT-Scan, thủ thuật
được tiến hành thông qua một kim nhỏ 0,9mm. Lấy tế bào khối u để soi trực tiếp
trên kính hiển vi tìm tế bào ung thư. Độ nhạy của phương pháp này đạt 92%
16
thỉnh thoảng có thể lấy được các mô bệnh thì kết quả chính xác sẽ tăng lên.
Thông qua kim nhỏ này, có thể bơm hóa chất hoặc bơm cồn tuyệt đối để điều trị
khối u. Phương pháp này rất tiện lợi ít có tai biến nó chống chỉ định trong cổ
chướng hoặc tỷ phức hệ Prothrombin < 50% [17] [48] [57] [58].
1.1.5.10 Sinh thiết gan:
Trước đây người ta tiến hành sinh thiết mù, trong mổ thăm dò, trong soi ở
bụng ngày nay thủ thuật này được tiến hành qua đường dẫn của máy siêu âm
hoặc máy CT. Đây là phương pháp chẩn đoán tốt nhất cho phép chẩn đoán chính
xác ung thư tế bào gan nguyên phát, làm cơ sở cho phân loại tế bào mô bệnh
học. Ngoài ra còn cho phép định lượng men Arginase và xét nghiệm sinh học
phân tử khác như PCR, xét nghiệm HBcAg. Chống chỉ định sinh thiết khi có cổ
chướng hoặc tỷ phức hệ Prothrombin < 50%. Trong những tình trạng tỷ phức hệ
Prothrombin < 50% hoặc có cổ chướng người ta có thể tiến hành sinh thiết gan
bằng luồn một Catheter qua tĩnh mạch chủ trên vào ba tĩnh mạch trên gan vào
gan và tiến hành sinh thiết. Quá trình này được tiến hành và theo dõi trên màn
tăng sáng [1] [57] [8].
1.1.6 Chẩn đoán
Gợi ý lâm sàng trước một bệnh nhân nhiễm HBV hoặc xơ gan, có gan lớn,
- Yếu tố XIII: yếu tố ổn định Fibrinogen và Fibrin
- Prekallikrein
- Kininogen trọng lượng phân tử cao.
Các yếu tố đông máu trên được đánh số theo danh pháp quốc tế năm
1954, yếu tố VI hiện nay không được công nhận nữa. Hai yếu tố mới là
Prekallikrein và Kininogen trọng lượng phân tử cao đã được chấp nhận nhưng
chưa có chữ số Lamã.
Tám yếu tố: II, VII, IX, X, XI, XII, XIII, Prekallikrein là những Zymogen
nghĩa là những Protein có hoạt tính men.
Ba yếu tố V, VIII và Kininogen trọng lượng phân tử cao là những đồng
yếu tố có tác dụng làm tăng tốc độ phản ứng, yếu tố I (Fibrinogen) là cơ chất [3]
[4] [12] [16] [18] [19].
18
1.2.2.2 Cơ chế đông máu:
Dòng thác đông máu bao gồm một chuổi những phản ứng hóa học, sản
phẩm của những phản ứng trước xúc tác cho phản ứng sau với nhiều quá trình
và yếu tố tham gia. Quá trình này sẽ chuyển đổi máu từ thể lỏng qua thể đặc.
Sản phẩm cuối cùng của đông máu là Fibrin được tạo thành từ Fibrinogen dưới
ảnh hưởng của Thrombin. Quá trình này diễn ra theo sơ đồ sau:
Kininogen phân tử cao Thromboplastin
Kallikren Tổ chức
XII XIIa
Kininogen phân tử cao
XI XIa VIIa XII
IX IXa
phản ứng miễn dịch. Tất nhiên nó còn phụ thuộc vào khả năng bù trừ của tủy
xương nữa. Khi tách những tiểu cầu ở những bệnh nhân mắc các bệnh lý gan khác
nhau. Người ta thấy có sự tăng số lượng các Globulin miễn dịch gắn trên tiểu cầu
mặc dù không thấy phức hợp miễn dịch tuần hoàn (những Globulin miễn dịch gắn
với tiểu cầu gây nên tăng phá hủy tiêu cầu) [14] [15] [16].
- Giảm chất lượng tiểu cầu: khi tiến hành xét nghiệm chức năng tiểu cầu
cho những bệnh nhân bị bệnh gan thường thấy có những thay đổi bất thường,
giảm độ tập trung tiểu cầu có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau như nồng độ
Cholesterol của màng tiểu cầu bị biến đổi, giảm sản xuất Thromboxan A2, rối
loạn cấu trúc của Fibrinogen, tăng các sản phẩm thoái giáng hóa của Fibrin,
Fibrinogen trong máu [14] [54].
1.3.2 Thay đổi các yếu tố đông máu:
Gan là một tạng lớn nằm ở trong ổ bụng có rất nhiều chức năng sinh lý,
sinh hóa, miễn dịch, tạo máu, tạo mật, giải độc v.v [2] [22] [58].
20
Hầu hết các yếu tố đông máu được tổng hợp tại gan, cho nên một khi tế
bào gan bị tổn thương, quá trình tổng hợp các yếu tố đông máu bị giảm sút, dẫn
đến giảm nồng độ các yếu tố đông máu trong huyết tương. Mức độ giảm sút phụ
thuộc vào mức độ tổn thương tế bào gan và đó cũng là một căn cứ để nhận định
và tiên lượng.
Các yếu tố II, VII, X là những yếu tố đông máu được tổng hợp tại gan phụ
thuộc vào Vitamin K trong quá trình tổng hợp để tạo nên các yếu tố có hoạt tính
đông máu. Các yếu tố này thường giảm do hai nguyên nhân phối hợp gây nên đó là:
- Giảm khả năng tổng hợp do tế bào gan bị hủy hoại.
- Tổng hợp được ít các yếu tố đông máu có hoạt lực do thiếu Vitamin K.
Yếu tố V thường giảm ở những bệnh nhân có viêm gan nặng, hoại tử tế
bào gan nhiều và ồ ạt. Các yếu tố đông máu này còn giảm do chúng bị tiêu thụ
vào DIC [2] [3] [4] [46].
Trong ung thư tế bào gan nguyên phát còn sản xuất ra chất DCP do tế bào gan
2
antiplasmin giảm rõ rệt trong xơ gan, ung thư gan nguyên phát, ung
thư gan thứ phát, hoại tử viêm gan cấp, do việc tổng hợp
2
antiplasmin ở bệnh
nhân này dưới mức bình thường. Việc giảm
2
antiplasmin biểu thị chức năng
tổng hợp của tế bào gan giảm, sự tiêu thụ trong DIC tiềm ẩn [6][54].
1.3.4 Đông máu rải rác nội mạch (DIC: Disseminated intravascular
coagulation)
Là một trong những biến chứng nặng của bệnh gan mật, gặp trong nhiễm
trùng đường mật, xơ gan nặng, viêm gan cấp ác tính. Trong ung thư gan chưa có
tài liệu nào đề cập đến. Có chăng nữa thì nó kết hợp ở thể ung thư và xơ gan
hoặc giai đoạn cuối cùng của bệnh.
1.3.5 Tăng hoạt tính tiêu sợi huyết:
Nguyên nhân của việc tan nhanh Fibrin trong bệnh lý gan mật có thể do:
- Các chất hoạt hóa Plasminogen được thanh thải với tốc độ chậm vì chức
năng gan bị rối loạn.
- Tổng hợp
2
antiplasmin của gan giảm [16] [18] [19].
22
1.4 NGHIÊN CỨU CẦM MÁU VÀ ĐÔNG MÁU TRONG UNG THƢ GAN
NGUYÊN PHÁT THỜI GIAN GẦN ĐÂY
1.4.1 Nghiên cứu ở nƣớc ngoài:
- Năm 1976 Barr R.D và cộng sự đã mô tả 28 bệnh nhân trưởng thành
người Phi với triệu chứng là rối loạn đông máu trên bệnh nhân ung thư gan 24
CHƢƠNG 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU:
2.1.1. Nhóm bệnh
Gồm 32 bệnh nhân đã nhập viện Trung ương Huế tuổi từ 34 tuổi đến 73
tuổi, bao gồm 28 nam và 4 nữ. Thời gian từ tháng 5 năm 2001 đến tháng 5 năm
2002. Đã được chẩn đoán là ung thư tế bào gan nguyên phát và đồng ý tham gia
nghiên cứu.
2.1.2. Nhóm chứng:
Chúng tôi đã chọn 15 người tự nguyện nghiên cứu gồm nam lẫn nữ có
cùng độ tuổi cùng địa bàn, hoàn toàn khỏe mạnh không mắc các bệnh liên quan
cầm máu và đông máu. Tiến hành làm xét nghiệm chức năng đông máu toàn bộ
trên cùng một thuốc thử và máy xét nghiệm tại trung tâm huyết học và truyền
máu Bệnh viện Trung ương Huế.
2.1.3. Tiêu chuẩn chẩn đoán ung thƣ tế bào gan nguyên phát
- Lâm sàng:
* Yếu mệt toàn thân, suy sụp nhanh, giảm cân, cảm giác tức hạ sườn phải
lan lên vai xuyên ra sau lưng
* Gan to, cứng, không đều.
- Cận lâm sàng:
* Siêu âm có khối choán chỗ trong gan, cấu trúc siêu âm giảm hoặc hỗn
hợp âm, có vòng Hallo, hiệu ứng mạch máu dương tính, có Thrombus tĩnh mạch
cửa, cổ chướng.
* Xét nghiệm
2.1.6. Tiêu chuẩn chẩn đoán tiêu sợi huyết:
Ngoài số lượng tiểu cầu giảm và rối loạn đông máu, nếu có Vonkaulla
dương tính thì chẩn đoán là tiêu sợi huyết.
- Thời gian: 0 - 15 phút là tiêu sợi huyết tối cấp.
- Thời gian từ 15 - 30 phút là tiêu sợi huyết cấp.
- Thời gian từ 45 - 60 phút là tiêu sợi huyết tiềm tàng.
- Thời gian trên 60 phút là bình thường [14] [15] [18] [19] [20].