BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----------
NGUYỄN THỊ THUÝ VÂN
PHÁT TRIỂN DU LỊCH TP. HỒ CHÍ MINH TRONG
HỘI NHẬP QUỐC TẾ GIAI ĐOẠN 2016 - 2025
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----------
NGUYỄN THỊ THUÝ VÂN
PHÁT TRIỂN DU LỊCH TP. HỒ CHÍ MINH TRONG
HỘI NHẬP QUỐC TẾ GIAI ĐOẠN 2016 - 2025
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60310102
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS.NGUYỄN VĂN SÁNG
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2017
trường du lịch: ...........................................................................................................7
1.1.1. Du lịch và sản phẩm du lịch ..............................................................................7
1.1.1.1. Du lịch ............................................................................................................7
1.1.1.2. Sản phẩm du lịch ..........................................................................................10
1.1.2. Thị trường du lịch ...........................................................................................13
1.1.2.1. Khái niệm thị trường du lịch ........................................................................13
1.1.2.2. Đặc điểm cơ bản của thị trường du lịch ......................................................15
1.2. Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về ngành dịch vụ, du lịch ...................15
1.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch .............................18
1.4. Nhân tố tác động đến sự phát triển của du lịch trong hội nhập quốc tế .....20
1.4.1. Sản phẩn du lịch ..............................................................................................20
1.4.2. Nguồn nhân lực cho phát triển du lịch ............................................................22
1.4.3. Cơ sở hạ tầng vật chất, kỹ thuật và thu hút vốn đầu tư cho phát triển du lịch 22
1.4.4. Quản lý nhà nước trong phát triển du lịch ......................................................24
1.4.5. Hoạt động quảng bá, tiếp thị cho phát triển du lịch ........................................27
1.5. Kinh nghiệm phát triển du lịch của một số thành phố và bài học cho phát
triển du lịch TP. HCM ............................................................................................29
1.5.1. Kinh nghiệm phát triển du lịch của một số thành phố ....................................29
1.5.1.1. Kinh nghiệm phát triển du lịch của thành phố Băng Cốc – Thái Lan .........29
1.5.1.2. Kinh nghiệm phát triển du lịch của thành phố Kulalamper - Malaysia: .....30
1.5.1.3. Kinh nghiệm phát triển du lịch của thành phố Hà Nội – Việt Nam .............30
1.5.1.4. Kinh nghiệm phát triển du lịch của Thành phố Đà Nẵng – Việt Nam .........31
1.5.2. Bài học kinh nghiệm cho phát triển du lịch của TP.HCM ..............................32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH DU LỊCH ..........38
2.1. Tổng quan hoạt động của ngành du lịch TP. HCM thời gian qua ..............38
2.1.1. Về lượng khách du lịch đến TP. HCM ...........................................................38
2.1.2. Tổng doanh thu từ hoạt động du lịch trên địa bàn TP. HCM .........................42
2.2. Đánh giá thực trạng hoạt động của ngành du lịch TP. HCM thời gian qua
3.2.3. Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực cho du lịch thành phố ......................78
3.2.4. Giải pháp về phát triển cơ sở vật chất và đầu tư cho phát triển du lịch ..........80
3.2.5. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý ngành du lịch thành phố ......................82
3.2.6. Giải pháp xúc tiến quảng bá, tiếp thị du lịch ..................................................83
3.3. Một số đề xuất và kiến nghị.............................................................................88
3.3.1. Đề xuất và kiến nghị Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan .............................88
3.3.2. Đề xuất và kiến nghị UBND Tp. HCM ..........................................................90
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GDP: Tổng thu nhập quốc nội
TP. HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
ITE-HCMC: Hội chợ du lịch Quốc tế TP.HCM
Escap: Ủy Ban Kinh tế - Xã hội châu Á – Thái Bình Dương
UBND: Uỷ ban nhân dân
USD: Đô la Mỹ
CNTB: Chủ nghĩa tư bản
BCH: Ban chấp hành
BCT: Bộ Công thương
NQ-CP: Nghị quyết Chính phủ
NQ-TW: Nghị quyết Trung ưng
TB-BCT: Thông báo Bộ Công Thương
QĐ-TTg: Quyết định Thủ tướng
UNWTO: Tổ chức Du lịch Thế giới
IUOTO: Tổ chức du lịch quốc tế
IUCN: Tổ chức bảo tồn thiên nhiên Thế Giới
WTO: Tổ chức Thương mại Thế giới
MEET-BIS: Tổ chức phi chính phủ ở Hà Nội VN
APEC: Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế, văn hoá của cả nước với
hơn 300 năm hình thành và phát triển, TP. HCM là nơi hội tụ nhiều giá trị du lịch
với các công trình kiến trúc, di tích lịch sử, các yếu tố văn hóa dân gian. Đây cũng
là một trong những thành phố dẫn đầu cả nước về thu hút khách du lịch. Những
năm qua, ngành du lịch của thành phố luôn giữ vị trí, vai trò quan trọng trong phát
triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đã đạt được nhiều kết quả khả
quan. Trong những năm gần đây, lượng khách du lịch quốc tế đến TP. HCM gia
tăng đáng kể, góp phần nâng cao vị thế du lịch của thành phố trong khu vực Đông
Nam Á và thế giới. Trong 7 tháng đầ u năm 2015, tổ ng lươ ̣ng khách quố c tế đế n
thành phố ước đa ̣t 2.392.648 lươ ̣t, tăng 9,1 % so với cùng kỳ, và đạt 54,3% kế
hoạch năm 2015 (4.400.000 lượt). Tổng thu du lịch Thành phố (lữ hành, khách sạn,
nhà hàng) ước đạt 51.965 tỷ đồng, tăng 8,5% so với cùng kỳ. Công suất phòng của
các khách sạn lớn dần tăng trở lại tính thời điểm từ tháng 5 đến tháng 7/2015 như:
khách sạn Caravelle từ 46,9% lên 59,8%, khách sạn Sheraton từ 64,3% lên 72,1%,
khách sạn Windsor Plaza từ 45,9% lên 61,2%, khách sạn Rex từ 55% lên 58%.
Riêng trong năm 2015, thành phố đã đón hơn 19,3 triệu lượt khách du lịch trong
nước và 4,6 triệu lượt khách du lịch quốc tế, chiếm khoảng 57% lượt khách quốc tế
đến Việt Nam. Doanh thu từ du lịch của thành phố trong năm 2015 đạt 94.600 tỷ
đồng, tương đương 4,2 tỷ USD, chiếm 9,88% GDP của thành phố và 30,2% doanh
thu du lịch của cả nước (Nguồn: Sở Du lịch Tp. HCM, năm 2015)
Trong những năm qua, ngành du lịch TP. HCM cũng đã nỗ lực và sáng tạo tổ
chức có định kỳ một số sự kiện du lịch mang tầm vóc quốc gia và quốc tế, dần
khẳng định thương hiệu riêng, độc đáo của mình. Để tổ chức, triển khai các sự kiện
du lịch một cách hiệu quả, ngành du lịch thành phố đã đề cao và nâng cao tính
chuyên nghiệp bằng cách tìm hiểu nhu cầu của người tiêu dùng du lịch trong và
ngoài nước, để từ đó xác định được những hoạt động, sự kiện cần được xây dựng và
đầu tư chiều sâu, như những sự kiện du lịch lớn của thành phố: Hội chợ du lịch
các vùng, các nước trên thế giới.
Trong quá trình hội nhập quốc tế, đặc biệt là từ khi là thành viên chính thức
của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), là thành viên của APEC, thực hiện cam
3
kết với các nước ASEAN… đã đặt ngành du lịch thành phố trước những cơ hội và
thách thức to lớn. Ngoài ra, để du lịch TP. HCM phát triển tương xứng với tiềm
năng, thế mạnh, thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, cần phải có một chiến
lược phát triển tổng thể, từ đó đòi hỏi phải có những nghiên cứu chuyên sâu về phát
triển du lịch TP. HCM trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Vì vậy, tác giả lựa chọn đề
tài nghiên cứu: “Phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh trong hội nhập quốc
tế giai đoạn 2016 -2025” qua đó góp phần đề xuất các giải pháp khắc phục những
khó khăn, bất cập và phát huy các lợi thế nhằm nâng cao hiệu quả phát triển ngành
du lịch thành phố trong hội nhập quốc tế.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Một số công trình nghiên cứu về du lịch liên quan đến phát triển du lịch TP.
HCM được tác giả kế thừa trong luận văn, tiêu biểu như:
- Luận án tiến sĩ “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch
thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020” của tác giả Nguyễn Cao Trí, 2011 đã phân
tích hệ thống đánh giá năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp du lịch tại TP HCM
trong mối liên hệ với ngành du lịch của các địa phương khác, bài nghiên cứu đã vận
dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu và lý thuyết cạnh tranh để xác định và
nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, đề xuất các giải pháp nâng cao
năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp du lịch.
- Đề tài nghiên cứu “Kinh tế du lịch ở các tỉnh Bắc Trung Bộ trong hội nhập
kinh tế quốc tế” (Nguyễn Thị Hồng Lâm, 2013) đã đánh giá một cách đầy đủ và chi
tiết về thực trạng phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ, phân tích những thành tựu
và hạn chế, tìm ra những nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến các kết quả
chức, trong đó, rất nhiều tham luận được trình bày về cơ sở lí luận và những kinh
nghiệm thực tiễn phát triển Du lịch của Việt Nam theo hướng bền vững và gắn với
hội nhập quốc tế.
Các công trình nghiên cứu nêu trên đều có những giá trị về lý luận và thực
tiễn nhất định đối với phát triển ngành du lịch. Tuy nhiên, chưa có công trình nào
nghiên cứu đầy đủ và hoàn thiện về phát triển du lịch TP. HCM trong hội nhập quốc
5
tế, đặc biệt là từ khi Việt Nam trở thành viên chính thức của WTO, tham gia APEC
và hội nhập sâu vào nền kinh tế của khu vực và thế giới.
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng ngành du lịch TP. HCM, tác giả đã đề xuất
những chính sách và giải pháp phát triển ngành du lịch TP HCM đáp ứng yêu cầu
hội nhập quốc tế.
- Kiến nghị đối với Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan và UBND thành phố
những cơ chế, chính sách phù hợp để phát triển du lịch TP. HCM đáp ứng yêu cầu
hội nhập quốc tế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự phát triển của ngành du lịch thành phố
Hồ Chí Minh trong hội nhập quốc tế.
Phạm vi nghiên cứu là thực trạng hoạt động của ngành du lịch trên địa bàn
TP. HCM trong giai đoạn 2005 – 2015, từ đó đề xuất các chính sách và giải pháp
cho phát triển du lịch TP.HCM trong hội nhập quốc tế giai đoạn 2016 - 2025.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu bao gồm: Phương pháp duy vật biện chứng,
phương pháp trừu tượng hoá khoa học, phương pháp phân tích và tổng hợp.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: phân tích so sánh, đối chiếu (các
chỉ số phát triển du lịch TP HCM qua các thời kỳ qua đó kết luận, đánh giá về động
điể m cư trú của mình nhằ m mục đích không phải để làm ăn, tức không phải làm một
nghề hay một viê ̣c kiế m tiề n sinh số ng.
- Hô ̣i nghi ̣Liên Hợp Quốc về du lich
̣ ho ̣p ở Roma-Italia (21/8 - 5/9/1963): “Du
li ̣ch là cả một quy trình gồ m tấ t cả các hoạt động của du khách từ lúc dự trù chuyế n đi
cho đế n lúc di chuyể n và đế n nơi cư trú, ăn ở, mua sắ m, giải trí, giao tiế p, nghỉ ngơi…
đế n lúc trở về nhà và hồ i tưởng”. Định nghĩa này được đánh giá là đầ y đủ vì vừa chỉ rõ
được nhu cầ u, mu ̣c đích của du khách và nô ̣i dung của hoa ̣t đô ̣ng du lich.
̣
- Hô ̣i nghi ̣ quố c tế về thố ng kê du lich
̣ ở Ottawa, Canada, 24-28/6/1991 đã đưa
ra đinh
̣ nghiã về du lich
̣ như sau: “Du li ̣ch là các hoạt động của con người đi tới một
nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình) trong một khoảng
thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du li ̣ch quy đi ̣nh trước, mục đích
của chuyế n đi không phải là để tiế n hành các hoạt động kiế m tiề n trong phạm vi của
vùng tới thăm”.
Theo Luật du lịch Việt Nam: Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi
cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ
dưỡng trong một khoản thời gian nhất định
Từ góc độ nghiên cứu chúng tôi đưa ra đinh
̣ nghiã : Du li ̣ch là một ngành kinh
doanh tổ ng hợp bao gồ m các hoạt động tổ chức, hướng dẫn du li ̣ch, sản xuấ t trao đổ i
8
hàng hoá và di ̣ch vụ của những tổ chức, xí nghiê ̣p đặc biê ̣t, nhằ m đáp ứng nhu cầ u về
đi lại, lưu trú, ăn uố ng, vui chơi giải trí và các nhu cầ u khác của khách du li ̣ch.
thu được lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội và lợi ích văn hóa và là điều kiện cơ bản và
tiền đề để phát triển.
Du khách được phân chia làm các loại theo những góc độ tiếp cận khác nhau
như: du khách quốc tế, du khách trong nước, du khách đi công tác, du khách gia
đình và việc riêng, du khách cao tuổi, du khách trung niên, du khách thanh thiếu
niên…Việc phân loại du khách sẽ giúp cho các nhà hoạch định chiến lược phát triển
du lịch, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch xác định rõ chủ thể du lịch là đối
tượng nào để có sự phối hợp nhịp nhàng, khai thác có hiệu quả, phù hợp của khách
thể du lịch, môi giới du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút khách du lịch
và tác động cho hoạt động du lịch có hiệu quả.
Hoạt động du lịch có thể được phân thành các loại khác nhau như:
- Phân loại theo mục đích du lịch: du lịch nghỉ phép, du lịch thương mại, du
lịch điều trị dưỡng bệnh, du lịch du học, du lịch hội nghị, du lịch thăm viếng người
thân, du lịch tôn giáo, du lịch thể dục thể thao và các du lịch khác.
- Phân chia theo phạm vi khu vực: có thể chia du lịch thành du lịch trong
nước và du lịch quốc tế. Du lịch trong nước là chỉ du lịch do cư dân trong nước rời
khỏi nơi cư trú của mình tới một nơi khác trong nước để du lịch. Du lịch quốc tế là
chỉ cư dân của một nước vượt đường biên giới quốc gia tới một hoặc vài nước khác
để tiến hành du lịch.
- Phân chia theo nội dung du lịch gồm có: Du lịch công vụ là khách du lịch
nhận lời mời đến thăm viếng, đàm phán ngoại giao; du lịch thương mại là khách du
lịch đến để tìm hiểu thị trường, đàm phán mậu dịch; du lịch du ngoạn là khách du
lịch đến để thưởng ngoạn phong cảnh thiên nhiên, thông qua lữ hành đạt được sự
hưởng thụ cái đẹp, được vui vẻ, nghỉ ngơi; du lịch thăm viếng là du lịch kết hợp với
thăm viếng người thân; du lịch tìm về cội nguồn là du lịch kết hợp với thăm quan
các di tích lịch sử, truyền thống; du lịch văn hóa là khách du lịch đến một nơi khác
để tìm hiểu văn vật cổ tích, văn hóa nghệ thuật, kiến trúc dân tộc, khoa học kỹ thuật
giáo dục với mục đích khảo sát văn hóa và giao lưu văn hóa; du lịch hội nghị là
khách du lịch đến dự hội nghị gắn với du lịch; du lịch tôn giáo là hoạt động du lịch
đặc trưng hoàn chỉnh. Bất kể đối với cơ quan quản lý du lịch hay doanh nghiệp du
lịch, hiểu được khái niệm du lịch một cách thiết thực và xây dựng ý thức sản phẩm
11
du lịch hoàn chỉnh đều hết sức cần thiết. Xét về nhu cầu, khi du khách tiến hành
quyết định nơi đích tới du lịch thì vấn đề họ quan tâm là sản phẩm du lịch hoàn
chỉnh chứ không phải sản phẩm du lịch đơn lẻ, sự đánh giá của du khách đối với
chất lượng sản phẩm du lịch cũng xuất phát từ điểm này. Vì thế, thực sự hiểu được
khái niệm này sẽ có lợi cho việc phát triển lành mạnh của ngành du lịch, có lợi cho
sự tăng cường ý thức hợp tác của người kinh doanh du lịch, cùng nâng cao chất
lượng sản phẩm du lịch, tạo ra hình tượng du lịch hoàn chỉnh tốt đẹp.
Cơ cấu của sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch là loại sản phẩm đặc biệt do nhiều loại yếu tố hợp thành.
Từ phía nơi đích tới du lịch, để thoả mãn các loại nhu cầu tiêu thụ của du khách
trong hoạt động du lịch, sản phẩm đơn lẻ do người kinh doanh du lịch cung cấp cho
thị trường du lịch chủ yếu bao gồm: nhà ở, giao thông du lịch, cung cấp ăn uống, du
ngoạn tham quan, hạng mục vui chơi giải trí, dịch vụ mua sắm, tuyến du lịch, sắp
xếp chương trình và các dịch vụ chuyên môn khác. Nội dung cơ cấu của sản phẩm
du lịch rất phong phú, liên quan tới rất nhiều ngành nghề, nhưng xét về ý nghĩa, các
bộ phận hợp thành đều có thể chia ra: vật hấp dẫn du lịch và dịch vụ du lịch.
Vật hấp dẫn du lịch: là vật có sức thu hút hiện thực mà người kinh doanh du
lịch giới thiệu cho du khách, là nhân tố quyết định để hấp dẫn du khách. Nó bao
gồm tất cả mọi hiện tượng, sự vật, sự kiện tự nhiên và xã hội tạo thành sức hấp dẫn
đối với du khách, có thể mang lại nhiều hiệu quả và lợi ích kinh tế và xã hội cho
người kinh doanh du lịch .
Dịch vụ du lịch là hạt nhân của sản phẩm du lịch, sự thực hiện nhu cầu chi
tiêu du lịch của du khách không tách rời các dịch vụ mà người kinh doanh du lịch
cung cấp. Dịch vụ du lịch là một khái niệm hoàn chỉnh, là do các dịch vụ đơn lẻ kết
hợp do du khách tiêu thụ ở nơi đích tới du lịch. Trước hết do nội dung hạt nhân của
hoạt động du lịch biểu hiện thành hoạt động tham quan du ngoạn của du khách ở
đích du lịch, nên du khách chỉ có thể tiến hành tiêu thụ ở nơi sản xuất sản phẩm du
lịch chứ không thể như sản phẩm vật chất nói chung có thể chuyển khỏi nơi sản
xuất đi tiêu thụ ở nơi khác. Sản phẩm vật chất được chuyển đến người tiêu thụ bằng
phương tiện giao thông còn sản phẩm du lịch lại thông qua phương tiện giao thông
để chở người tiêu thụ tới. Trong quá trình trao đổi sản phẩm du lịch không xảy ra
việc chuyển dịch quyền sở hữu sản phẩm, du khách chỉ có quyền sử dụng tạm thời
13
đối với sản phẩm du lịch trong thời gian và địa điểm nhất định chứ không có quyền
sở hữu sản phẩm.
- Tính đồng thời sản xuất và tiêu thụ: Khác với sản phẩm nói chung, việc
sản xuất sản phẩm du lịch và lấy du khách tới đích du lịch làm tiền đề. Chỉ khi du
khách đến nơi sản xuất thì việc xây dựng sản phẩm du lịch mới xảy ra, cũng chỉ khi
du khách tiếp nhận dịch vụ du lịch thì chi phí du lịch mới bắt đầu, hoạt động dịch
vụ du lịch yêu cầu cả hai bên người sản xuất và người tiêu thụ cùng tham gia để
hoàn thành. Trong ý nghĩa này, việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch là xảy ra
trong cùng một lúc và cùng chỗ.
- Tính dễ dao động: Quá trình cung cấp và tiêu thụ sản phẩm du lịch chịu
ảnh hưởng và hạn chế của nhiều nhân tố, trong đó dù chỉ thiếu một điều kiện cũng
sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ quá trình trao đổi sản phẩm du lịch, ảnh hưởng tới việc
thực hiện giá trị sản phẩm du lịch, từ đó khiến việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du
lịch thể hiện đặc điểm dễ dao động. Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch,
các hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp
các yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động du lịch tại một vùng, một
địa phương nào đó. Do vậy, sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình (hàng
hóa) và những yếu tố vô hình (dịch vụ) để cung cấp cho du khách hay nó bao gồm
Phân chia thị trường du lịch theo nội dung và hình thức của sản phẩm du
lịch
Sự phân chia này hình thành các thị trường du lịch như thị trường du lịch
tham quan phong cảnh, thị trường du lịch nghỉ phép, thị trường du lịch hội nghị, thị
trường du lịch dịch vụ, thị trường du lịch văn hóa, thị trường du lịch tôn giáo, thị
trường du lịch du học, thị trường du lịch thể thao...Các đơn vị du lịch khai thác
nhằm vào việc cung cấp sản phẩm du lịch khác nhau để thỏa mãn nhu cầu của các
thị trường khác nhau.
Phân chia thị trường du lịch theo hình thức tổ chức của hoạt động du lịch
Gồm có thị trường du lịch đoàn thể và thị trường du lịch khách lẻ. Du lịch
bao gói đoàn thể là hình thức tổ chức du lịch truyền thống là kết quả của việc phổ
cập, phát triển hoạt động du khách, loại hình du lịch này sẽ phát triển ổn định ở thời
gian tới, đồng thời do con người ngày càng theo đuổi cuộc sống tự do, cá nhân hóa,
nên những năm gần đây thị trường du lịch khách lẻ phát triển với tốc độ nhanh.
15
Ngoài ra, còn có thể từ các góc độ khác nhau để chia thị trường du lịch như chia
theo nước, theo tuổi, theo mùa vụ du lịch, chia theo khoảng cách du lịch...
1.1.2.2. Đặc điểm cơ bản của thị trường du lịch
- Sản phẩm của thị trường du lịch phần lớn là dịch vụ mang tính phi vật chất
nên việc thực hiện chúng khác với thực hiện hàng hóa mang tính cụ thể.
- Đối tượng mua bán trên thị trường du lịch không có dạng hiện hữu trước
người mua.
- Trên thị trường du lịch người bán không có hàng hóa du lịch tại nơi chào
bán, không có khả năng mang được hàng hóa đến với khách hàng.
- Việc thực hiện hữu hóa vật chất đối tượng mua bán trên thị trường du lịch,
chủ yếu dựa vào xúc tiến quảng bá. Các khâu chào giá, lựa chọn, cân nhắc, trả giá,
quyết định mua, bán sản phẩm thông qua quảng cáo và kinh nghiệm với việc mua
được ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của phân công lao động trong ngành
dịch vụ. Như vậy, kinh tế học Mácxít cho rằng chính sự phát triển của phân công
lao động xã hội dẫn đến sự ra đời và phát triển của ngành du lịch. Sự phát triển của
phân công lao động xã hội hình thành một hệ thống kinh tế khác nhau và nó ngày
càng phức tạp, bao gồm nhiều vùng, nhiều thành phần kinh tế, nhiều ngành kinh tế
khác nhau. Trong đó vai trò và vị trí của mỗi vùng, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực là khác
nhau, thực hiện những chức năng riêng biệt đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo
thành cơ cấu kinh tế của mỗi nước. Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường và
phân công lao động xã hội ngày càng phát triển, dẫn đến sự phát triển của ngành du
lịch với tính chuyên môn hoá ngày càng cao.
Trong học thuyết giá trị, khi phân tích về hàng hoá C. Mác cho rằng: hàng hoá
là những sản phẩm của lao động có thể thoả mãn một hoặc một số nhu cầu nào đó
của con người. Trong CNTB nói riêng và kinh tế thị trường nói chung, hàng hoá là
hình thái biểu hiện phổ biến nhất của của cải. C.Mác viết: “trong những xã hội do
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa chi phối, thì của cải xã hội biểu hiện ra là
“một đống hàng hoá khổng lồ” (C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị
quốc gia, Hà Nội.1993, t23, tr 55). Hàng hoá là sản phẩm của lao động, nó có hai
thuộc tính cơ bản là giá trị và giá trị sử dụng, hàng hoá có thể là những sản phẩm
vật thể hoặc phi vật thể. Giá trị của hàng hoá là do thời gian lao động xã hội cần
thiết để sản xuất ra hàng hoá quyết định. C. Mác viết: “Chỉ có lượng lao động xã hội
17
cần thiết, hay thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một giá trị sử dụng,
mới quyết định đại lượng giá trị của giá trị sử dụng ấy” (C.Mác và Ph.Ăngghen:
Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội.1993, t23, tr 68).
Hàng hóa dịch vụ du lịch trên thị trường cũng có hai thuộc tính cơ bản của
hàng hoá là giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị sử dụng của hàng hóa dịch vụ du lịch là
công dụng của nó, như nói ở trên là thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người. Từ