Thực hành dân chủ theo tư tưởng hồ chí minh nhằm phát huy vai trò của trí thức trong giai đoạn hiện nay - Pdf 43

I HC QUC GIA H NI
TRNG I HC KHOA HC X HI V NHN VN

HONG TH THUN

THựC HàNH DÂN CHủ THEO TƯ TƯởNG Hồ CHí MINH
NHằM PHáT HUY VAI TRò CủA TRí THứC
TRONG GIAI ĐOạN HIệN NAY
Chuyờn ngnh:

H Chớ Minh hc

Mó s:

62.31.02.04

LUN N TIN S CHNH TR HC

Ngi hng dn khoa hc: 1. PGS.TS Phm Xuõn Hng
2. PGS.TS Li Quc Khỏnh

H NI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Luận án
được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học tận tình của PGS. TS. Phạm Xuân
Hằng và PGS.TS. Lại Quốc Khánh. Các tài liệu khoa học được sử dụng trong luận án
là chính xác, trung thực, bảo đảm tính khách quan, khoa học và có nguồn gốc xuất xứ
rõ ràng. Những kết luận khoa học của luận án chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nghiên cứu nào.

MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI .......................................................................................................... 7
1.1. Tình hình nghiên cứu về dân chủ, thực hành dân chủ với phát huy
vai trò của trí thức .............................................................................................7
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài .........................................................7
1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước ...........................................................10
1.2. Tình hình trình nghiên cứu tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về dân chủ, thực
hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức và vận dụng trong giai
đoạn hiện nay ......................................................................................................21
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài .......................................................21
1.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước ...........................................................23
1.3. Đánh giá khái quát tình hình nghiên cứu của các công trình liên quan
đến luận án và những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu ......................28
1.3.1. Những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố liên
quan đến luận án ...............................................................................................28
1.3.2. Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu ......................................29
Chƣơng 2: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƢ
TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THỰC HÀNH DÂN CHỦ NHẰM PHÁT HUY
VAI TRÒ CỦA TRÍ THỨC ...................................................................................31
2.1. Cơ sở hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ nhằm phát
huy vai trò của trí thức ...........................................................................................31
2.1.1. Cơ sở lý luận...........................................................................................31
2.1.2. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................42


2.2. Nội dung tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ nhằm phát huy
vai trò của trí thức ..............................................................................................50
2.2.1. Quan niệm về trí thức, phát huy vai trò của trí thức, thực hành dân chủ
và thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức.................................50

hội nhập quốc tế ..............................................................................................120
4.1.3. Chú trọng phát huy hơn nữa vai trò của toàn hệ thống chính trị trong đẩy
mạnh thực hành dân chủ đối với trí thức ........................................................122
4.1.4. Tăng cường tính tích cực, chủ động và sáng tạo của trí thức trong thực
hành dân chủ ...................................................................................................123
4.2. Giải pháp đẩy mạnh thực hành dân chủ theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh nhằm
phát huy hơn nữa vai trò của trí thức trong giai đoạn hiện nay ........................125
4.2.1. Đối với sự lãnh đạo của Đảng ..............................................................125
4.2.2. Đối với sự quản lý của Nhà nước .........................................................130
4.2.3. Đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội .................139
4.2.4. Đối với bản thân trí thức.......................................................................142
Tiểu kết chƣơng 4 ..................................................................................................146
KẾT LUẬN ............................................................................................................147
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ với nghĩa chính là quyền thuộc về nhân dân mãi luôn là giá trị cao
quý mà loài người hướng đến. Dưới góc độ chính trị học, việc xây dựng và thực
hành dân chủ là một trong những phương thức quan trọng nhất để giải phóng hết
năng lực và phát huy hết tiềm năng sáng tạo, sức mạnh trí tuệ của con người, trong
đó có trí thức. Vì vậy, là “kiến trúc sư trưởng”, đồng thời là người lãnh đạo cao nhất
của cách mạng Việt Nam, lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới
việc xây dựng chế độ dân chủ nhằm đảm bảo các quyền cơ bản của nhân dân với tư
cách công dân từ pháp lý tới hành động. Trong tư tưởng của Người, chế độ dân chủ
là chế độ trong đó: “Nhân dân là chủ. Chính phủ là đầy tớ của nhân dân. Nhân dân
có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ. Chính phủ thì việc to việc nhỏ đều nhằm

và môi trường thực sự dân chủ đối với trí thức luôn được Đảng và Nhà nước quan
tâm. Nhìn vào thực tế, ở nước ta, vị trí và vai trò của trí thức trong xã hội đã ngày
càng được nâng cao cả về lý luận và thực tiễn; trí thức trực tiếp tham gia xây dựng,
góp ý các dự thảo luật quan trọng của đất nước; trí thức giám sát và phản biện các
chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước; trí thức hưởng dụng các điều kiện thuận
lợi về mặt cơ chế, chính sách trong sáng tạo, nghiên cứu khoa học, học tập nâng cao
trình độ chuyên môn ở trong và ngoài nước; v.v. Tuy nhiên, việc phát huy vai trò
của trí thức ở nước ta hiện nay vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức. Chẳng hạn,
một bộ phận cán bộ và đảng viên vẫn còn định kiến với trí thức; chưa có sự công
bằng về chính sách giữa trí thức trong nước và trí thức Việt kiều; phản biện của trí
thức chưa thực sự được coi trọng, đặc biệt trong các vấn đề có tầm quan trọng chiến
lược; v.v. trong đó, đáng chú ý là thể chế dân chủ và việc thực hành dân chủ đối với
trí thức vẫn còn khiếm khuyết. Vì vậy, muốn phát huy vai trò của trí thức một cách
hiệu quả trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển
kinh tế tri thức, tất yếu phải hoàn chỉnh hơn nữa thể chế dân chủ và đẩy mạnh thực
hành dân chủ đối với trí thức. Để làm được điều đó, một trong những nhiệm vụ

2


quan trọng là nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ đối
với phát huy vai trò của trí thức trong giai đoạn hiện nay.
Trên phương diện khoa học, trong thời gian qua đã có nhiều công trình
nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, thực hành dân chủ và vai trò của trí
thức trong tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, có thể thấy một khoảng
trống mà các nhà nghiên cứu đi trước chưa giải quyết thấu đáo là chỉ rõ nội dung cơ
bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí
thức và vận dụng trong giai đoạn hiện nay. Từ thực tiễn cho thấy, đây cũng là một
trong những vấn đề hệ trọng cần được quan tâm và giải quyết nhằm phát huy hơn
nữa vai trò của trí thức trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.

thức. Đồng thời, đánh giá quá trình thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí
thức trong 30 năm đổi mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phương pháp so sánh được sử dụng nhằm làm rõ sự kế thừa và phát triển của
Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức so với quan
điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, các nhà yêu nước tiền bối ở Việt Nam và thế
giới. Mặt khác, sử dụng phương pháp so sánh để thấy rõ được quá trình thực hành
dân chủ đối với trí thức Việt Nam trong cách mạng giải phóng dân tộc và trong 30
năm tiến hành đổi mới của đất nước.
Phương pháp phân tích tài liệu góp phần vào việc nghiên cứu, đánh giá các
công trình khoa học, quan điểm của Đảng, Nhà nước và các chuyên gia về thực
hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Thông qua nghiên cứu tác động của thực hành dân chủ đối với phát huy vai
trò của trí thức, luận án đã góp phần phát triển một hướng nghiên cứu mới về dân
chủ, thực hành dân chủ từ góc tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh, cụ thể:
- Từ việc làm rõ cơ sở hình thành, luận án đã xác định nội dung cơ bản của tư
tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức Việt Nam.
- Luận án đánh giá khái quát quá trình thực hành dân chủ nhằm phát huy vai
trò của trí thức Việt Nam trong 30 năm đổi mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Luân án đề xuất phương hướng và các nhóm giải pháp cơ bản theo tư tưởng
Hồ Chí Minh nhằm đẩy mạnh thực hành dân chủ phát huy hơn nữa vai trò của trí
thức Việt Nam hiện nay.

5


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa lý luận: luận án có thể góp phần cung cấp luận cứ cho việc xây
dựng các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về thực hành dân
chủ đối với phát huy vai trò của trí thức Việt Nam hiện nay.

giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc giúp con người trở thành những thành
viên có ảnh hưởng trong xã hội dân chủ. Vì vậy, theo tác giả, vai trò của người trí
thức hoạt động trên lĩnh vực giáo dục là vô cùng quan trọng trong việc xóa bỏ hình
thức ban phát một chiều và thay vào đó cần hình thành những kinh nghiệm giáo dục
mang tính cách dân chủ cho người học. Nói cách khác, tác giả chỉ rõ sự cần thiết
phải thực hiện dân chủ trong giáo dục để người dạy và người học được trân trọng,
bình đẳng và có trách nhiệm đối với xã hội.

7


“Về trí thức Nga” [111] là tập hợp 12 bài viết của nhiều tác giả (Nga) về đề
tài trí thức. Công trình đã phản ánh những trăn trở, dồn nén, bức xúc của trí thức
trước chính sách “cào bằng giá trị” và “đồng nhất xã hội” của Nhà nước Xô Viết
trước đây đã làm thủ tiêu môi trường dân chủ - nền tảng cho sự “nổi loạn” và thăng
hoa sáng tạo của giới trí thức. Kết quả là nước Nga thời kỳ hậu Xô Viết đã mất đi
một nguồn nhân lực có chất lượng cao, do bị thui chột hoặc ra nước ngoài tìm môi
trường thích hợp để phát triển. Đặc biệt, trong bài viết “Trí thức và nhận thức pháp
quyền”[111], tác giả B.A.Kistiakovski đã phân tích sâu sắc những nguyên nhân dẫn
tới sự yếu kém trong nhận thức về làm chủ và pháp quyền của giới trí thức Nga.
Theo tác giả, điều đó làm cho quyền tự do cá nhân trong xã hội không được coi
trọng, pháp luật không chỉ bất lực mà còn chẳng cần thiết. Từ đó, tác giả đã kêu gọi:
“chúng ta phải đấu tranh với cái nguyên nhân đang hủ hóa con người của ta ở chính
trong ta” [111, tr.107]. Tức là, bản thân người trí thức phải tự phóng năng lực, phát
huy vai trò phản biện của mình trong nhận thức và đấu tranh để dân chủ và pháp
quyền được thực hiện một cách cụ thể.
Alvin Toffle: “Powershift” (Thăng trầm quyền lực) [135]. Công trình tập
trung bàn về vị trí, vai trò và nội dung của 3 loại quyền lực (quyền lực bạo lực,
quyền lực của cải, quyền lực tri thức) trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân
loại. Trong đó, theo Alvin Toffle thì quyền lực tri thức tất yếu sẽ giữ địa vị thống trị

hiện chủ trương “hai tôn trọng” đối với trí thức, nhân tài của Trung Quốc. Theo các
tác giả thông qua việc tôn trọng và đãi ngộ xứng đáng đã góp phần phát huy tối đa
tính tích cực và năng lực sáng tạo của trí thức trong môi trường thực sự tự do dân
chủ. Đây là những kinh nghiệm quý báu, không chỉ đối với Trung Quốc mà còn là
bài học tham khảo có giá trị đối với Việt Nam trong thực hành dân chủ nhằm phát
huy vai trò của trí thức Việt Nam.
Qua các công trình nghiên cứu, có thể nhận thấy, còn nhiều quan điểm khác
nhau về quan niệm, nội dung, vai trò của dân chủ và trí thức. Tuy nhiên, các nhà
nghiên cứu cũng đã chỉ ra vai trò vô cùng quan trọng của thực hành dân chủ trong
xã hội nói chung và đối với phát huy vai trò của trí thức nói riêng. Đây chính là một
cơ sở quan trọng để triển khai nghiên cứu các nội dung nghiên cứu của luận án. Mặc
dù, dân chủ còn mang tính lịch sử cụ thể, vì thế sẽ mang những nét đặc thù; nhưng

9


nhìn chung, các quốc gia đều hướng tới một nền văn hóa dân chủ mà mọi công dân,
trong đó có trí thức đều được hưởng dụng các quyền cơ bản.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu tiêu biểu về dân chủ, thực hành dân chủ
với phát huy vai trò của trí thức được xuất bản thành sách
Ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về dân chủ, thực hành dân
chủ, vai trò và phát huy vai trò của trí thức được xuất bản thành sách như: Hồ Bá
Thâm, Nguyễn Tôn Tường Thị Vân (đồng chủ biên), “Phản biện xã hội và phát huy
dân chủ pháp quyền” [129]; Vũ Khiêu, “Người trí thức Việt Nam qua các chặng
đường lịch sử” [71]; Phạm Quốc Bảo, Đoàn Thị Lịch, “Trí thức trong công cuộc
đổi mới đất nước” [10]; v.v. Trong đó, có những công trình trực tiếp liên quan đến
nội dung nghiên cứu của luận án về dân chủ và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa,
vai trò của trí thức gắn với công cuộc đổi mới của đất nước, tiêu biểu như:
Hồ Bá Thâm: “Dân chủ hóa và phát triển nội lực”[128]. Từ quan niệm

giả: “Dân chủ giờ đây không chỉ là năng lực mà còn là phẩm chất người, không chỉ là
nếp sống mà còn là lối sống người” [116, tr.340]. Nói cách khác, với việc thực hiện
dân chủ hóa thì dân chủ không chỉ còn là nhà nước, là quyền và nghĩa vụ, mà đã trở
thành giá trị mang tính phổ quát được thực hành trong đời sống. Dân chủ không dừng
ở nhận thức mà đi sâu vào hành động, thâm nhập vào tất cả các mối quan hệ trong xã
hội. Vì vậy, quá trình dân chủ hóa càng đẩy mạnh, càng đảm bảo tối đa quyền lợi của
nhân dân cũng như trí thức trong thực hiện vai trò đối với đất nước.
Đồng Văn Quân: “Thực hiện dân chủ trong các trường đại học nước ta hiện
nay” [115]. Tác giả khẳng định: “Thực hành dân chủ trong nhà trường là một trong
những nội dung của đổi mới giáo dục ở nước ta, gắn liền với quá trình dân chủ hóa,
xã hội hóa giáo dục” [115, tr.75]. Trong đó, mọi thành viên của nhà trường cần hiểu
và thực hiện quyền và nghĩa vụ trong học tập, giảng dạy và quản lý. Tuy chỉ dừng ở
việc khảo sát việc thực hành dân chủ trong đơn vị các trường đại học, nhưng những
kết quả nghiên cứu của công trình chính là một mảnh ghép quan trọng trong bức
tranh tổng thể về thực hành dân chủ ở Việt Nam đối với trí thức hiện nay.
Phạm Văn Đức (chủ biên): “Thực hành dân chủ trong điều kiện một Đảng
duy nhất cầm quyền, xây dựng nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa” [34]. Từ việc xác định nội hàm của khái niệm dân
chủ, công trình đã đưa ra khái niệm thực hành dân chủ:

11


Thực hành dân chủ là việc triển khai trên thực tế (làm) những điều
đã nói (lý luận) về dân chủ … Nói cách khác, thực hành dân chủ chính là cơ
chế, chính sách, những quy định, nguyên tắc … để đảm bảo cho mọi người
dân thực hiện quyền dân chủ của mình, là hiện thực hóa phương châm mà
Đảng ta đã xác định: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra [34, tr.52].
Trên cơ sở đó, công trình xác định các nội dung cơ bản của thực hành dân
chủ trong điều kiện vừa xây dựng nhà nước pháp quyền vừa phát triển kinh tế thị

nhu cầu và giải phóng năng lực sáng tạo trong nghiên cứu của đội ngũ trí thức trên
mọi phương diện của đời sống xã hội.
Nguyễn Đắc Hưng: “Trí thức Việt Nam tiến cùng thời đại”[55], “Trí thức
Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất nước” [56]. Hai công trình đã khái quát lịch
sử ra đời và phát triển cũng như vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam đối với dân
tộc. Trong đó, tác giả chỉ rõ: “Trí thức là người không chỉ có trình độ học vấn cao,
... nhưng điều quan trọng nhất là họ thực sự lao động bằng trí tuệ có tính sáng tạo và
đã có những cống hiến nhất định hữu ích cho xã hội” [56, tr.16]. Trước những đòi
hỏi của thực tiễn đất nước, tác giả đã khẳng định sự cần thiết phải thực hiện đổi mới
hệ thống chính sách đối với đội ngũ trí thức theo hướng phát huy sâu rộng tính dân
chủ trong đào tạo, tuyển dụng, bổ nhiệm, chính sách tiền lương. Đây chính là động
lực thúc đẩy trí thức nhận thức và hành động vì lợi ích của dân tộc.
Ngô Huy Tiếp (chủ biên): “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với
trí thức nước ta hiện nay” [134]. Giá trị của công trình là đã xác định rõ tính tất yếu
trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với trí thức. Trong đó, công trình
nhấn mạnh: “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với trí thức phải hướng
tới hình thành phương pháp lãnh đạo dân chủ đảm bảo vừa phát huy cao nhất nội
lực của đội ngũ trí thức trong nước vừa thu hút được trí thức - nhân tài Việt kiều
tham gia xây dựng đất nước” [134, tr.69]. Trong quá trình đổi mới, tác giả khẳng
định việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng dân chủ có ý nghĩa
quan trọng nhằm phát huy tối đa vai trò của trí thức.
Đức Vượng (chủ biên):“Thực trạng và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức
Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước” [149]. Thông qua khảo cứu, điều tra
về số lượng và chất lượng đội ngũ trí thức trên 18 lĩnh vực của đời sống xã hội,
công trình đã xác định các giải pháp mang tính tổng thể trong xây dựng và phát huy

13


vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam. Đối với sự lãnh đạo của Đảng, công trình đã


Thứ hai, các đề tài khoa học tiêu biểu nghiên cứu về dân chủ, thực hành dân
chủ với phát huy vai trò của trí thức
Có rất nhiều đề tài khoa học cấp Nhà nước đi sâu nghiên cứu trí thức trên các
phương diện khác nhau như: Đức Vượng (chủ nhiệm): “Xây dựng đội ngũ trí thức
Việt Nam giai đoạn 2011-2020” [147]; Nguyễn Thị Việt Thanh (chủ nhiệm): “Phát
huy nguồn nhân lực nữ trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước và hội nhập quốc tế” [125]; Phạm Tất Dong (chủ nhiệm): "Luận cứ khoa học
cho các chính sách nhằm phát huy năng lực sáng tạo của giới trí thức và sinh viên”
[23]; v.v. Tiếp cận từ góc độ dân chủ, thực hành dân chủ đối với trí thức có những
công trình cơ bản sau đây:
Nguyễn Hữu Tăng (chủ nhiệm): “Đổi mới chính sách đối với trí thức khoa
học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [123].
Công trình đã chỉ rõ chất nhân văn của người trí thức là vị tha chứ không vị kỷ, là
khát vọng tự do và sáng tạo để tự biểu hiện, tự khẳng định mình như một nhân cách,
được đem hiểu biết và vốn học vấn, văn hóa của mình phụng sự Tổ quốc và nhân
dân, không tính toán vụ lợi. Do đó, để trí thức nói chung và trí thức hoạt động trong
lĩnh vực khoa học và công nghệ phát huy tối đa vai trò, đòi hỏi phải có chính sách
và cơ chế phù hợp. Trên cơ sở đó, công trình đã xác định các nhóm giải pháp cơ bản
theo hướng ngày càng dân chủ từ quản lý, bổ nhiệm, đầu tư tài chính, tăng quyền tự
chủ để phát huy hiệu quả vai trò của trí thức khoa học và công nghệ.
Lê Thị Thanh Hương (chủ nhiệm): “Nhân cách văn hóa trí thức Việt Nam
trong tiến trình mở cửa và hội nhập quốc tế” [58]. Tiếp cận dưới góc độ tâm lý,
trên cơ sở phân tích thực trạng thông qua điều tra xã hội học, công trình đã xác định
8 nhóm giải pháp cơ bản để phát triển nhân cách văn hóa trí thức. Trong đó, nhóm
giải pháp tạo môi trường thuận lợi để trí thức có thể thực hiện tốt các chức năng xã
hội của mình, đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của đất nước được lý giải ở sự
cần thiết phải thực hành dân chủ đối với trí thức từ góc độ pháp lý. Đồng thời, cần
xây dựng các diễn đàn, cơ chế thực hiện và chú trọng đến các tiêu chuẩn về đạo đức
trong thực tiễn để trí thức được tranh luận, phản biện và sáng tạo.

tiềm năng và phương hướng xây dựng” [124]. Trong đó, tác giả đã phân tích quá
trình hình thành và những đóng góp của đội ngũ nữ trí thức Việt Nam trong lịch
sử dân tộc. Đồng thời, phân tích những tiềm năng trí tuệ và những nguyên nhân

16


làm hạn chế vai trò của đội ngũ nữ trí thức. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất
phương hướng và giải pháp nhằm xây dựng và phát huy có hiệu quả vai trò của
đội ngũ nữ trí thức trước yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc
tế của đất nước. Dưới góc độ dân chủ, thực hành dân chủ, tác giả đề cập tới việc
thực hiện bình đẳng giới và dân chủ trong đào tạo, tuyển chọn, sử dụng và đãi
ngộ đối với nữ trí thức.
Ngô Thị Phượng: “Vai trò của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn
Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới”[114]. Qua nghiên cứu, tác giả khẳng định vai
trò và tính tất yếu của việc phát huy vai trò của trí thức khoa học xã hội và nhân văn
trong việc tham gia xây dựng các chương trình và giải pháp phát triển đất nước. Mặt
khác, tác giả còn nhấn mạnh đến sự cần thiết phải đổi mới chính sách của Đảng,
Nhà nước trong việc xây dựng cơ chế dân chủ để trí thức khoa học xã hội và nhân
văn phát huy được vai trò một cách hiệu quả.
Nguyễn Thắng Lợi: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng đội ngũ
trí thức từ 1991 đến 2005” [84]. Giá trị của công trình là đã khái quát được quá
trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng về trí thức nhằm đáp ứng yêu cầu của lịch sử.
Dưới góc độ dân chủ, thực hành dân chủ, tác giả đã đánh giá khách quan việc thực
hiện các chính sách nhằm tạo điều kiện dân chủ thuận lợi của Đảng đối với đội ngũ
trí thức. Đồng thời, khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo, linh hoạt của Đảng trong
phát huy vai trò của trí thức thời kỳ đổi mới đất nước.
Nguyễn Thị Giáng Hương: “ Vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất
lượng cao ở Việt Nam hiện nay” [59]. Tác giả khẳng định, nguồn nhân lực nữ chất
lượng cao ở Việt Nam đó là những con người không ngừng say mê nghiên cứu, sáng

Qua nghiên cứu, điểm chung của các công trình luận án là đều khẳng định
vai trò của trí thức trong tiến trình phát triển đất nước. Mặt khác, các công trình
cũng đã chỉ rõ việc thực hiện cơ chế hay môi trường dân chủ chính là một giải pháp
quan trọng để phát huy vai trò của trí thức. Đồng thời, các công trình cũng chỉ rõ
nhiệm vụ của các chủ thể trong hệ thống chính trị đối với việc phát huy vai trò của
trí thức và thực hành dân chủ.
Thứ tư, các công trình nghiên cứu tiêu biểu về dân chủ với phát huy vai trò
của trí thức được công bố trên các tạp chí khoa học
Trong thời kỳ đổi mới, có rất nhiều công trình nghiên cứu về dân chủ, thực
hành dân chủ, trí thức và phát huy vai trò của trí thức được công bố trên các tạp chí

18


khoa học như: Dương Phú Hiệp, Trần Văn Đông, “Thực hành dân chủ trong công
tác lý luận và tư tưởng của Đảng”[44]; Nguyễn Ngọc Hà, Luyện Thị Hồng Hạnh,
“Dân chủ và tính đặc thù của việc thực hành dân chủ ở Việt Nam” [39]; Nguyễn
Thanh Sơn,“Phát huy tiềm năng trí thức ở nước ngoài vào sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế” [121]; v.v. Liên quan đến nội dung
nghiên cứu của đề tài, có thể kể tới các công trình nghiên biểu sau:
Phan Huy Lê: “Vấn đề dân chủ trong truyền thống Việt Nam [77]. Thông
qua việc nghiên cứu các tư liệu lịch sử, tác giả đã khẳng định: Việt Nam không có
truyền thống dân chủ, nhưng có một số tư tưởng và hình thức dân chủ nông dân nảy
sinh trong cuộc đấu tranh xã hội. Về mặt chính trị, theo tác giả, tư tưởng dân chủ
cao nhất của nông dân là bạo động chống lại chế độ chuyên chế, lật đổ bọn bạo
chúa, tham quan, cường hào với ước mơ một xã hội công bằng có vua sáng tôi hiền.
Đồng thời, tác giả cũng đề cập tới những hình thức dân chủ mà các triều đại phong
kiến Việt Nam đã thực hiện nhằm phát huy vai trò của tầng lớp sĩ phu của đất nước.
Đây là cơ sở để đánh giá sự tiếp biến tư tưởng và giá trị truyền thống dân tộc của
Hồ Chí Minh khi xây dựng các quan điểm về thực hành dân chủ đối với trí thức.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status