Xây dựng mô hình tự hỗ trợ cho người nhà chăm sóc bệnh nhân trong bệnh viện (nghiên cứu tại khoa nhi bệnh viện k3 tân triều, hà nội) - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------

ĐỖ THỊ THÙY DUNG

XÂY DỰNG MÔ HÌNH TỰ HỖ TRỢ CHO NGƢỜI NHÀ
CHĂM SÓC BỆNH NHÂN TRONG BỆNH VIỆN
(NGHIÊN CỨU TẠI KHOA NHI BỆNH VIỆN K3 - TÂN TRIỀU - HÀ NỘI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, 6/2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------

ĐỖ THỊ THÙY DUNG

XÂY DỰNG MÔ HÌNH TỰ HỖ TRỢ CHO NGƢỜI NHÀ
CHĂM SÓC BỆNH NHÂN TRONG BỆNH VIỆN
(NGHIÊN CỨU TẠI KHOA NHI BỆNH VIỆN K3 - TÂN TRIỀU - HÀ NỘI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hồi Loan


luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các Bác sĩ và cán bộ tại khoa
Nhi bệnh viện K3 Tân Triều đã giúp đỡ tôi hoàn thành bài khóa luận này.
HỌC VIÊN

Đỗ Thị Thùy Dung


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ...................................................................... 4
3. Ý nghĩa của nghiên cứu ............................................................................. 11
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................ 12
5. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu ........................................................... 13
6. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................... 13
7. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu .............................................................. 13
8. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................... 14
9. Khung lý thuyết ......................................................................................... 21
NỘI DUNG CHÍNH .......................................................................................... 22
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ............................................ 22
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài .......................................................................... 22
1.1.1. Khái niệm công cụ............................................................................ 22
1.1.2. Một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu ................................... 24
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài ....................................................................... 29
1.2.1. Tổng quan địa bàn nghiên cứu ......................................................... 29
1.2.2. Vài nét về bệnh nhân và ngƣời nhà chăm sóc bệnh nhân tại khoa Nhi
bệnh viện K3 Tân Triều ................................................................................ 32
Tiểu kết chƣơng 1 ............................................................................................ 33
Chƣơng 2. NHU CẦU CỦA NGƢỜI NHÀ CHĂM SÓC BỆNH NHÂN

Biểu đồ 2.2: Nhu cầu tìm kiếm sự giúp đỡ của ngƣời nhà chăm sóc bệnh nhân
khi gặp khó khăn ................................................................................................. 37
Biểu đồ 2.3: Nhận sự giúp đỡ từ những ngƣời xung quanh................................ 39
Biểu đồ 2.4: Những hoạt động trợ giúp .............................................................. 39
Biểu đồ 3.1: Ý kiến về việc xây dựng mô hình tự hỗ trợ.................................... 44
Biểu đồ 3.2: Số lƣợng ngƣời tham gia mô hình tự hỗ trợ .................................. 46
Biểu đồ 3.3: Cách thức triển thực hiện mô hình tự hỗ trợ ................................. 50

DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1. Sơ đồ lý thuyết bậc thang nhu cầu Maslow ........................................ 27
Hình 1.2. Sơ đồ cán bộ y tế khoa Nhi ................................................................. 32
DANH MỤC HỘP THÔNG TIN
Hộp thông tin 2.1. Hoạt động trợ giúp lẫn nhau của ngƣời nhà chăm sóc bệnh
nhân ..................................................................................................................... 38


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BV

Bệnh viện

BN

Bệnh nhân

CTXH

Công tác xã hội

CLB

xã hội Quốc tế xác định vào tháng 7/2000: “...Nghề công tác xã hội thúc đẩy sự
thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng
lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng
thoải mái, dễ chịu...”.
Ở Việt Nam Công tác xã hội là một nghề mới, hầu nhƣ mọi ngƣời còn lạ
lẫm với tên gọi của nghề. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của đất nƣớc, nghề
CTXH đã đƣợc công nhận là một nghề với nhiều công việc đáp ứng nhu cầu
phục vụ xã hội. Nghề CTXH đã và đang có vai trò quan trọng đối với sự phát
triển bình đẳng và tiến bộ của mỗi quốc gia và nhân loại. Đặc biệt, nghề CTXH
góp phần giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến đời sống của từng cá nhân,
từng gia đình, nhóm xã hội và cộng đồng những ngƣời yếu thế.
Ngày 25/3/2010, Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quyết định 32/2010/QĐTTg phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020. Mục
tiêu giai đoạn 2010-2015 của Đề án bao gồm: Xây dựng và ban hành mã ngạch,
chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức công tác xã hội, tiêu chuẩn
đạo đức cán bộ, viên chức, nhân viên công tác xã hội; Xây dựng ban hành mới
hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan nhằm tạo môi trƣờng
pháp lý đồng bộ, thống nhất để phát triển nghề công tác xã hội. Phát triển đội
ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội trong cả nƣớc,
1


phấn đấu đến năm 2015 tăng khoảng 10%; Xây dựng tối thiểu 10 mô hình điểm
Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại một số quận, huyện, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh, của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng đại diện cho các khu
vực, vùng, miền trong phạm vi toàn quốc; Đào tạo, đào tạo lại, bồi dƣỡng nâng
cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tập huấn kỹ năng cho 50% số cán bộ,
viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đang làm việc tại các xã,
phƣờng, thị trấn; Xây dựng, hoàn chỉnh chƣơng trình, nội dung đào tạo và dạy
nghề trình độ Sơ cấp, Trung cấp, Cao đẳng, Đại học và sau đại học công tác xã
hội; Nâng cao chất lƣợng đội ngũ giảng viên ngành công tác xã hội; Nâng cao

Trƣớc những điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội ở Việt Nam, các mô
hình, trung tâm tham vấn, tƣ vấn liên quan đến các lĩnh vực CTXH cũng dần
đƣợc hình thành. Đặc biệt Công tác xã hội đã đƣợc xây dựng và phát triển trong
lĩnh vực y tế với nhiều mô hình nổi bật. “Bệnh viện là nơi cần có sự xuất hiện
của công tác xã hội nhất. Mỗi bệnh viện nên thành lập một đơn vị chuyên đảm
nhận hoạt động công tác xã hội.Một ngày, có bác sĩ khám tới vài chục thậm chí
tới gần 100 bệnh nhân. Quá tải, bác sỹ không đủ thời gian, sức lực để tƣ vấn và
trả lời những thắc mắc của ngƣời bệnh xung quanh căn bệnh của họ. Nếu không
có sự cảm thông, mối giao tiếp ấy đôi khi dẫn đến những xung đột đáng
tiếc” (TS. Hoàng Bích Hường, Giám đốc Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
dân số y tế), nếu các bệnh viện có phòng Công tác xã hội thì bác sĩ có thể giới
thiệu bệnh nhân đến đó. Nhân viên Công tác xã hội sẽ giải thích cặn kẽ hơn về
tình trạng bệnh, ngƣời bệnh sẽ cảm thấy yên tâm và hài lòng hơn. Công tác xã
hội trong bệnh viện có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe
cho ngƣời dân nói chung và bệnh nhân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói
riêng. Bởi vì bất kỳ ngƣời nào khi phải tiến hành điều trị trong một thời gian dài
khi phải nằm viện quá lâu thì cả họ và ngƣời thân đều có những vấn đề về tâm lý
bên cạnh nỗi đau thể xác do đó việc chữa trị chỉ có hiệu quả khi có sự kết hợp
giữa y tế và công tác xã hội. Tuy nhiên Công tác xã hội trong bệnh viện còn là
một lĩnh vực khá mới mẻ ở nƣớc ta nên việc chăm sóc và hỗ trợ cho các bệnh
nhân và gia đình có hoàn cảnh khó khăn vẫn còn gặp nhiều hạn chế về nguồn
nhân lực, nguồn tài chính phụ thuộc chủ yếu vào các tổ chức từ thiện.
3


Bên cạnh đó, trong quá trình tìm hiểu ngƣời nghiên cứu nhận thấy ở hầu
hết bệnh viện hiện nay bệnh nhân đều gặp khó khăn trong quá trình điều trị
bệnh, đặc biệt là những bệnh hiểm nghèo phải điều trị trong thời gian dài. Sự
xuất hiện của Nhân viên CTXH trong bệnh viện là vô cùng cần thiết.Trƣớc thực
trạng hiện nay, khi mà mô hình CTXH trong bệnh viện chƣa thể nhân rộng và

đã bƣớc đầu đƣợc các cán bộ lãnh đạo, nhân viên Y tế cũng nhƣ bệnh nhân tại
một số bệnh viện ghi nhận. Bởi vậy phát triển các hoạt động về CTXH đã trở
thành nhu cầu bức thiết tại nhiều cơ sở Y tế đặc biệt là với các bệnh viện. các
hoạt động về CTXH không chỉ giúp ích cho ngƣời bệnh trong BV cũng nhƣ tại
cộng đồng mà còn có ý nghĩa quan trọng trong hỗ trợ giảm áp lực công việc cho
cán bộ Y tế và góp phần nâng cao chất lƣợng cung cấp dịch vụ của các có sở Y
tế.[31]
“Công tác xã hội trong lĩnh vực y tế; Việt Nam và bối cảnh quốc tế” của
tác giả Richard Hugman, nguyên Hiệu trƣởng Trƣờng Đại học CTXH, ĐH New
South Wales, Chuyên gia tƣ vấn UNICEF Việt Nam tiến hành khảo sát về
CTXH trong các ngành y tế, các khuôn mẫu hiện nay của nghề CTXH trong hệ
thống y tế, thực trạng CTXH tại bệnh viện và các cơ sở y tế tại Việt Nam. Qua
đó khẳng định CTXH trong y tế sẽ là một phần quan trọng trong quá trình
chuyên nghiệp hóa nghề CTXH trong tƣơng lai.[9]
“Thực tiễn Công tác xã hội thành công trong lĩnh vực y tế”, của tác giả
Julie. M. Schirmer, MSW, Giám đốc Trung tâm Y tế gia đình, Y tế Hành vi
thuộc Trung tâm Y tế Maine, Giáo sƣ Trƣờng ĐH Vermont và Trƣờng Y Khoa
Tufts đã cung cấp một báo cáo tóm tắt về bằng chứng và thực tiễn thành công hỗ
trợ cho các các bộ CTXH trong lĩnh vực y tế với những nội dung: trình độ
nghiệp vụ, khuyết tật, các vấn đề sức khỏe tâm thần, bạo hành giữa các cá nhân,
thay đổi hành vi và cán bộ chăm sóc y tế - giao tiếp với bệnh nhân.[20]
“Trải nghiệm ý nghĩa thực tiễn của môn Công tác xã hội trong lĩnh vực y
tế” của hai tác giả Tạ Thị Thanh Thủy và Phạm Thị Tâm đƣợc trình bày tại kỷ
yếu hội thảo quốc tế năm 2015 với chủ đề “Công tác xã hội Việt Nam thách thức
tính chuyên nghiệp trƣớc nhu cầu hội nhập và phát triển” đã chỉ ra các hoạt động
của sinh viên khoa Công tác xã hội trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
5


văn Thành phố Hồ Chí Minh và khoa Hô hấp bệnh viện Nhi đồng 1 Thành phố


hài lòng của bệnh nhân. Ngành Y có thể góp phần vào việc xây dựng nghề
CTXH bằng cách mạnh dạn mở cửa bệnh viện cho sinh viên CTXH vào thực
tập, và sẵn sàng thuê mƣớn khi họ ra trƣờng. Về lâu về dài bệnh viện có thể hợp
tác với các cơ sở đào tạo CTXH xây dựng chƣơng trình thực tập CTXH Y khoa
tại các bệnh viện. Đây là mô hình đào tạo CTXH chuyên ngành tại các nƣớc
phát triển: chƣơng trình đào tạo tại các trƣờng CTXH thƣờng chỉ tập trung cung
cấp cho sinh viên kỹ năng CTXH tổng quát, có thể áp dụng trong tất cả các lĩnh
vực của CTXH, phần chuyên sâu sinh viên sẽ đƣợc học ở các cơ sở thực tập. Thí
dụ nhƣ sinh viên CTXH muốn làm việc trong trƣờng học sẽ đi thực tập ở các
trƣờng trung và tiểu học; sinh viên muốn làm việc trong lĩnh vực y khoa sẽ đi
thực tập ở bệnh viện…Nghiên cứu đã chỉ ra tầm quan trọng của Công tác xã hội
trong bệnh viện. Bệnh viện và nhà trƣờng chính là cầu nối trong việc hỗ trợ sinh
viên thực tập cũng nhƣ gia tăng cơ hội nghề nghiệp cho sinh viên sau khi ra
trƣờng.[27]
“Đánh giá mức độ đáp ứng nhu cầu của hoạt động CTXH trong việc hỗ
trợ đối với nhóm bệnh nhân bị bệnh ung thư máu” của tác giả Dƣơng Thị
Phƣơng(Nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Trung ƣơng - Hà Nội, Viện Huyết học
Truyền máu Trung ƣơng), đã chỉ ra tầm quan trọng, ý nghĩa của việc có mặt của
các NVCTXH chuyên ngiệp trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nói chung, trong
chăm sóc bệnh nhân tại bệnh viện nói riêng, đặc biệt là nhóm bệnh nhân mắc
ung thƣ máu.[18]
“Mô hình công tác xã hội trong bệnh viện từ thực tiễn tại Bệnh viện Nhi
Trung ương và bệnh viện Nội tiết Trung ương” của tác giả Nguyễn Thị Minh đã
đƣa ra những quan điểm nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về
mô hình CTXH trong bệnh viện từ đó đề xuất các giải pháp xây dựng và thực
hiện mô hình CTXH trong bệnh viện nói chung và bệnh viện Nhi Trung ƣơng,
bệnh viện Nội tiết Trung ƣơng nói riêng. Đề tài cũng đề cập đến sự tham gia của
NVCTXH trong bệnh viện ở các khâu khác nhau nhƣ: đón tiếp bệnh nhân, khám


trò của đội ngũ bác sỹ, y tá, điều dƣỡng, nhà tâm lý, nhân viên xã hội, tình
nguyện viên. Thông qua mô hình chăm sóc giảm nhẹ, chân dung của nhân viên
8


xã hội làm việc trong lĩnh vực y tế đƣợc khắc họa rõ nét hơn. Tuy nhiên trong
mô hình chăm sóc giảm nhẹ chỉ hƣớng tới hỗ trợ đối tƣợng là bệnh nhân trong
chăm sóc giảm nhẹ và ngƣời nhà của họ mà chƣa đề cập tới vai trò hỗ trợ của
nhân viên CTXH đối với chính đội ngũ y tế. Mô hình cũng đề cập chủ yếu tới
vai trò hỗ trợ tâm lý.[23]
“Tìm hiểu nhu cầu hỗ trợ của người chăm sóc bệnh nhân ung thư (nghiên
cứu trường hợp tại bệnh viện K)” của tác giả Lƣơng Bích Thủy đã chỉ ra nhu
cầu của ngƣời nhà bệnh nhân và những ngƣời trực tiếp chăm sóc bệnh nhân tại
bệnh viện, những mong muốn nguyện vọng của ngƣời nhà bệnh nhân để từ đó
đƣa ra những đề xuất hỗ trợ phù hợp với ngƣời chăm sóc cũng nhƣ vai trò mà
nhân viên xã hội sẽ phải làm với mô hình CTXH trong bệnh viện.[24]
“Mô hình phục hồi chức năng cho bệnh nhân tâm thần dựa vào cộng
đồng: tiếp cận theo hướng tăng cường năng lực thông qua thúc đẩy quá trình ra
quyết định của người bệnh” (Nghiên cứu trường hợp bệnh viện Ban ngày Mai
Hương, Hà Nội tác giả Nguyễn Thị Thu Trang. Tại mô hình cho thấy vai trò
của những nhân viên tâm lý học đồng thời đảm nhiệm vai trò của nhân viên
CTXH đã tạo ra sự khác biệt lớn trong trị liệu cho những bệnh nhân tâm thần tại
Việt Nam, nơi mà hầu hết cộng đồng đều cho rằng các bệnh nhân tâm thần là vô
phƣơng cứu chữa. Mô hình tiếp cận theo hƣớng tăng cƣờng năng lực thông qua
thúc đẩy quá trình ra quyết định của ngƣời bệnh, tức những nhà tâm lý học sẽ
giúp cho các bệnh nhân trong quá trình điều trị đƣợc tham gia vào các hoạt động
nhóm tại bệnh viện, thúc đẩy quyền ra quyết định của ngƣời bệnh ở mọi giai
đoạn trong quá trình phục hồi chức năng. Trong thảo luận nhóm, nhà tâm lý học
sẽ giúp họ chọn lựa một số chủ đề và động viên họ bộc lộ bản thân, nêu ý kiến,
quan điểm riêng của mình. Sau mỗi giai đoạn, bệnh nhân đóng vai trò chủ đạo

trợ, hỗ trợ cho bệnh viện. Tuy nhiên bên cạnh những ƣu điểm thì còn có một số
khuyết điểm đó là: số lƣợng nhân viên của phòng Công tác xã hội quá ít (7
ngƣời) nên không sát sao đƣợc hết toàn bộ khác khoa phòng trong bệnh viện,
bên cạnh đó phòng Công tác xã hội chỉ tập trung kêu gọi tài trợ mà chƣa quan
tâm đến các vấn đề khác nhƣ chia sẻ, tƣ vấn tâm lý đối với bệnh nhân và gia
đình bệnh nhân khi họ gặp khủng hoảng cần sự giúp đỡ.[2]
10


Có thể thấy ở Việt Nam đã rất quan tâm đến vấn đề nghiên cứu và phát
triển CTXH trong bệnh viện. Các nghiên cứu trên đã phần nào làm sáng tỏ tính
cần thiết và tính định hƣớng trong việc hoàn thiện mô hình CTXH trong bệnh
viện. Nhƣng nhìn chung tất cả các nghiên cứu về các lĩnh vực y tế, xã hội học,
tâm lý học đều tập trung nghiên cứu về thực trạng, hiệu quả hoạt động của các
mô hình Công tác xã hội trong bệnh viện, các chƣơng trình chăm sóc sức khỏe,
nhu cầu của các nhóm đối tƣợng, mô hình trợ giúp cho bệnh nhân, mô hình trợ
giúp tâm lý. Xuất phát từ chính nhu cầu của ngƣời bệnh và ngƣời nhà chăm sóc
ngƣời bệnh, có nghiên cứu đã đề cập đến mô hình giảm nhẹ dành cho bệnh nhân
ung thƣ trong bệnh viện. Tất cả các nghiên cứu này đều có ý nghĩa đối với tôi,
giúp tôi có thêm kinh nghiệm và kiến thức trong quá trình thực hiện nghiên cứu
của mình. Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào hai nhóm đối
tƣợng chính là nhân viên công tác xã hội và bệnh nhân. Điểm mới trong nghiên
cứu này của tôi đó là tôi tập trung vào nghiên cứu một nhóm đối tƣợng mới, họ
đóng vai trò quan trọng trong việc chữa trị của bệnh nhân cũng nhƣ là ngƣời
trung gian giữa bệnh nhân với bác sĩ, bệnh nhân với nhân viên Công tác xã hội
đó chính là “ngƣời nhà chăm sóc bệnh nhân”. Bản thân nhóm đối tƣợng này
cũng phải chịu một áp lực rất lớn, đồng thời họ cũng có những khó khăn, khủng
hoảng cần đƣợc sự trợ giúp từ những ngƣời xung quanh, họ cần đƣợc chia sẻ,
cần đƣợc chung tay. Trong nghiên cứu này tôi tiến hành khảo sát, đánh giá nhu
cầu của những ngƣời nhà chăm sóc bệnh nhân từ đó xây dựng mô hình trợ giúp

Kết quả nghiên cứu thực sự có ý nghĩa đối với bản thân ngƣời nghiên cứu.
Nó không chỉ thể hiện đƣợc năng lực, kết quả học tập của bản thân ngƣời nghiên
cứu sau một khoảng thời gian dài đƣợc học về CTXH mà nó còn thể hiện đƣợc
lòng yêu nghề, mong muốn đƣợc đóng góp một phần nhỏ trong việc giúp đỡ đối
tƣợng yếu thế trong xã hội.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1.

Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc tìm hiểu, đánh giá nhu cầu ngƣời nhà chăm sóc bệnh nhân
ngƣời nghiên cứu sẽ dựa trên những nhu cầu ƣu tiên để đi xây dựng mô hình tự
hỗ trợ cho phù hợp. Đồng thời đƣa mô hình tự hỗ trợ đi vào hoạt động, sau đó
tiến hành lƣợng giá những kết quả bƣớc đầu sau khi triển khai mô hình để có
những kiến nghị để xuất nhằm tiếp tục phát triển và nhân rộng mô hình trong
thời gian tới.
4.2.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích tổng quát trên, ngƣời nghiên cứu đặt ra nhiệm vụ cụ thể nhƣ
sau:
- Tìm hiểu nhu cầu của ngƣời nhà chăm sóc bệnh nhân
- Xác định nhu cầu ƣu tiên của ngƣời nhà chăm sóc bệnh nhân
- Xây dựng mô hình tự hỗ trợ ngƣời nhà chăm sóc bệnh nhân
12


5. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
5.1.

4. Nhóm đồng đẳng

02

5. Tình nguyện viên

13

6. Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: 12/2016 - 4/2017
- Không gian nghiên cứu: Khoa Nhi bệnh viện K3 Tân Triều - Hà Nội
7. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
7.1.

Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1: Nhu cầu của ngƣời nhà chăm sóc bệnh nhân là gì?
Câu hỏi 2: Mô hình tự hỗ trợ ngƣời nhà chăm sóc bệnh nhân đƣợc thực
hiện nhƣ thế nào?
Câu hỏi 3: Bệnh nhân và ngƣời nhà chăm sóc bệnh nhân đánh giá nhƣ thế
nào về mô hình tự hỗ trợ?
7.2.

Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết 1: Tất cả ngƣời nhà chăm sóc bệnh nhân đều có những nhu cầu
khác nhau

13


vật biện chứng còn cho rằng các sự vật hiện tƣợng quá trình cũng nhƣ sự phản
ánh của chúng luôn biến đổi phát triển không ngừng ngừng. Vì thế phải đánh giá
dự án theo quá trình vận động và phát triển của nó.
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử xem xét các sự vật hiện tƣợng,
các vấn đề xã hội có tính lịch sử của nó.
14


8.2.

Phƣơng pháp thu thập thông tin

8.2.1. Phƣơng pháp phân tích tài liệu
Ngƣời nghiên cứu tiến hành tổng hợp, phân tích các tài liệu sau:
Các bài viết, các nghiên cứu liên đến lĩnh vực CTXH trong y tế, trong
chăm sóc sức khỏe, trong bệnh viện. Những kết quả phân tích tài liệu này đƣợc
sử dụng trong phần tổng quan nghiên cứu để xác định những nghiên cứu thuộc
phạm vi của đề tài các tác giả đã đƣa ra những kết quả nghiên cứu gì, chƣa làm
đƣợc gì để có cái nhìn tổng quan, phát hiện vấn đề.
Các chính sách, văn bản, tài liệu về nội dung CTXH trong y tế nhằm
mang lại cái nhìn tổng quát nhất về vấn đề nghiên cứu hiện nay có quan trọng
và cần đƣợc quan tâm hay không, phục vụ cho việc xác định tính cấp thiết, lý
do chọn đề tài nghiên cứu.
Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng các tài liệu, sách, ấn phẩm liên quan
đến khoa Nhi, bệnh viện K3 Tân Triều để tìm hiểu các thông tin về quá trình
hình thành, hoạt động cũng nhƣ chức năng nhiệm vụ của khoa Nhi bệnh viện
K3 Tân Triều nơi ngƣời nghiên cứu tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu của
mình.
8.2.2. Phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi
Bảng hỏi đƣợc ngƣời nghiên cứu xây dựng sau khi đã khảo sát, tìm hiểu

vọng, đề xuất của ngƣời nhà chăm sóc bệnh nhân, sự tham gia hỗ trợ của đội
ngũ y bác sĩ và mô hình tự hỗ trợ dựa theo quan điểm cá nhân của ngƣời bệnh.
Bảng hỏi định lƣợng đƣợc xây dựng dựa trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết kết
hợp với kết quả phỏng vấn sâu để tạo nên bộ câu hỏi hoàn chỉnh. Gồm: 12 câu
hỏi, với 3 phần chính sau: thông tin chung về ngƣời trả lời, thông tin cơ bản và
ý kiến đề xuất về mô hình tự hỗ trợ.
Hình thức khảo sát bằng bảng hỏi cầm tay: Để hoàn thành phƣơng pháp
khảo sát bằng bảng hỏi, tôi thực hiện trong 5 ngày từ ngày 26/3/2017 đến ngày
30/3/2017. Mỗi ngày tiến hành khảo sát ở 1 phòng. Với sự trợ giúp của trƣởng
khoa Nhi, tôi tiến hành vào từng phòng bệnh, gặp từng ngƣời nhà chăm sóc
bệnh nhân để thu thập thông tin. Phƣơng pháp khảo sát bằng bảng hỏi đối với
ngƣời nhà bệnh nhân đƣợc tiến hành theo phƣơng pháp hỏi – đáp (tôi hỏi,
16


ngƣời nhà bệnh nhân trả lời) và cầm phiếu đi hỏi trực tiếp và mang phiếu ngay
khi kết thúc phỏng vấn, kết hợp với phƣơng pháp quan sát.
Về mặt thống kê, cơ cấu mẫu nhƣ trên không đủ lớn để có thể rút ra
những kết luận trên bình diện vĩ mô. Tuy nhiên, xét riêng ở phạm vi nghiên cứu
là khoa Nhi bệnh viện K3 Tân Triều, cơ cấu mẫu nhƣ vậy có thể đƣợc xem là
đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy cho những kết luận rút ra thuộc phạm vi địa
bàn. Do nghiên cứu chủ yếu sử dụng phƣơng pháp định tính, phƣơng pháp định
lƣợng chỉ là bổ trợ, hơn nữa đây là nghiên cứu chuyên ngành CTXH nên tôi chỉ
sử dụng mẫu là 70 bảng hỏi.
Kết quả thu đƣợc từ phỏng vấn định lƣợng bằng bảng hỏi với ngƣời nhà
bệnh nhân đƣợc xử lý bằng phần mềm SPSS
8.2.3. Phƣơng pháp phỏng vấn sâu
Trong nghiên cứu tôi đã tiến hành 20 cuộc phỏng vấn sâu. Kết quả phỏng
vấn sâu đƣợc ghi bằng biên bản và máy ghi âm. Sau đó kết quả phỏng vấn sâu
đƣợc xử lý bằng cách gỡ băng ghi âm, kết hợp biên bản và phân tích theo từng

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status