CON NGƯỜI TRONG PHÓNG sự VIỆT NAM GIAI đoạn 1932 1945 - Pdf 43

1

MỤC LỤC


2

MỞ ĐẦU
1.

Lí do chọn đề tài
Văn học là tấm gương phản chiếu cuộc sống. Qua con người trong văn học,

ta có thể hiểu cuộc sống của con người trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Là
nhân vật chính trong văn học, nên qua con người trong văn học ta có thể hiểu
một thời đại hay một giai đoạn văn học cụ thể. Tìm hiểu vấn đề Con người
trong phóng sự Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945 có thể giúp nhận thức sâu sắc
thêm về văn học và xã hội Việt Nam trong giai đoạn lịch sử này.
Phóng sự là một thể loại giữa văn học và báo chí, có nguồn gốc Tây
phương, chính thức xuất hiện ở thế kỉ XIX. Là một thể loại khó viết nhưng
phóng sự nhanh chóng khẳng định được vị trí của mình trên văn đàn. Sau Tôi
kéo xe - đứa con tinh thần đầu tiên của Tam Lang là hàng loạt các thiên phóng
sự - kết quả của những cuộc điều tra, lăn lộn với hiện thực của những cây bút
tâm huyết như: Đĩa mứt gừng (1937), Lọng cụt cán (1939), Tập ảnh (1936),
Người …ngợm (1940) của Tam Lang, Thanh niên trụy lạc (1938), Từ ái tình
đến hôn nhân (1938), Ngoại ô (1941), Ngõ hẻm (1942) của Nguyễn Đình Lạp;
Hà Nội ban đêm (1933) Hà Nội băm sáu phố phường (1943) của Thạch Lam;
Làm no (1938), Tập án cái đình (1939), Lều chõng (1939), Việc làng (1940)
của Ngô Tất Tố; Một chuyến đi (1938), Ngọn đèn dầu lạc (1941), Tàn đèn dầu
lạc (1941) của Nguyễn Tuân; Cạm bẫy người (1933), Kĩ nghệ lấy Tây (1934),
Cơm thầy cơm cô (1936), Lục xì (1937), Một huyện ăn Tết (1938) của Vũ

Một số tác phẩm văn học thuộc giai đoạn 1930 – 1945 được đưa vào
chương trình sách giáo khoa phổ thông như Hai đứa trẻ (Thạch Lam), Chữ
người tử tù (Nguyễn Tuân), Hạnh phúc của một tang gia (Trích “Số đỏ” của
Vũ Trọng Phụng), Chí Phèo (Nam Cao), Đọc thêm Nghệ thuật băm thịt gà
(Trích “Việc làng” của Ngô Tất Tố). Do vậy, việc nghiên cứu “Con người
trong phóng sự Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945” sẽ cung cấp những tư liệu
hữu ích về xã hội – con người giai đoạn này cho giáo viên và học sinh trong
việc tiếp cận các tác phẩm văn học.


4

Vì những lí do cấp thiết trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề Con người trong
phóng sự Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945 làm đề tài nghiên cứu cho luận văn
của mình.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Lịch sử nghiên cứu về con người trong văn học.
Vấn đề con người trong văn học được rất nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm. Trong cuốn Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa (Nxb Giáo
dục, 2008) GS. TS Trần Nho Thìn đã đề cập đến sự thể hiện con người trong
văn chương thời cổ. Tác giả đã chỉ ra con người trong văn học nhà nho gồm
con người được thể hiện ở cấp độ nhân vật văn học (trong các truyện thơ, khúc
ngâm) và con người không được thể hiện ở cấp độ nhân vật văn học (trong thơ
vịnh sử). Chuyên luận Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam (Nxb
Giáo dục, 2010), nhóm tác giả Nguyễn Hữu Sơn, Trần Đình Sử, Huyền Giang,
Trần Ngọc Vượng, Trần Nho Thìn, Đoàn Thị Thu Vân đã nghiên cứu con
người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam. Các tác giả đã chỉ ra hoàn cảnh lịch
sử, xã hội dẫn đến sự xuất hiện và đề cao con người cá nhân trong văn học,
những biểu hiện của con người cá nhân trong những tác phẩm tiêu biểu của
thời đại và ý nghĩa của bước tiến này trong dòng chảy phát triển của văn học.

được các nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu phê bình quan tâm từ khi thể loại
phóng sự Việt Nam chính thức ra đời (1932), bởi con người là tâm điểm của
văn học và thể loại phóng sự cũng không ngoại lệ. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Con người trong phóng sự Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945 có thể chia thành
ba thời kì: Thời kì 1932 – 1945; thời kì 1945 – 1985; thời kì sau 1986.
a. Thời kì 1932 – 1945
Ở thời kì 1932 – 1945, con người trong phóng sự đã được một số nhà
phê bình đề cập đến. Năm 1932, Tôi kéo xe ra đời như một phát súng lệnh
khẳng định sự xuất hiện của thể loại phóng sự và vấn đề hiện thực đời sống,
quyền sống, quyền làm người của tầng lớp phu kéo xe mà Tam Lang đặt ra
trong thiên phóng sự này đã tìm được sự thấu hiểu, đồng tình của nhiều nhà
nghiên cứu, phê bình. Trên tạp chí Tiểu thuyết thứ bảy, số ra ngày 26/10/1935,


6

nhà nghiên cứu Hoài Thanh đã nhấn mạnh ý nghĩa của phóng sự Tôi kéo xe
trong việc đánh thức thái độ trân trọng đối với tầng lớp “dưới đáy” của xã hội
lúc bấy giờ:“Nếu trong bao nhiêu người xem thiên phóng sự này, mà có một
người nhân đó, mà để ý đến cái thế giới u ám của người kéo xe, biết động lòng
trắc ẩn vì người kéo xe, biết nới tay ra một tí trong lúc đi xe thì cái việc ông Tam
Lang đã làm là việc có ích rồi” [32; tr. 83]. Cũng vì đã phản ánh hiện thực cuộc
sống của những kiếp phu xe, mạnh dạn đưa ra những giải pháp để phu xe được
làm Người chứ không phải làm ngựa mà Tôi kéo xe của Tam Lang được nhà
nghiên cứu Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại (Nxb Tân Dân, năm
1942) đã khẳng định “Tôi kéo xe là một quyển phóng sự có giá trị” [30; tr. 562].
Không chỉ nhìn ra những vấn đề bức thiết về tầng lớp phu xe trong Tôi kéo xe,
Vũ Ngọc Phan còn nhấn mạnh đến giá trị hiện thực của Đêm sông Hương trong
việc phản ánh chân xác đời sống của những người hành nghề mãi dâm.
Vấn đề con người trong các thiên phóng sự của Vũ Trọng Phụng được

chiến để bày tỏ nhân sinh quan, quan niệm viết văn của mình. Họ Vũ đã không
ngần ngại khẳng định quan điểm: “Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi,
muốn tiểu thuyết là sự thật ở đời” [4; tr. 919], coi mình không chỉ là một nhà văn
mà còn là một nhà báo nên có trách nhiệm miêu tả hiện thực xã hội với các tầng lớp
người, với những mặt trái để người đọc biết mà ghê tởm, mà tránh xa. Như vậy, khi
nói về con người trong phóng sự 1932 – 1945, các nhà phê bình giai đoạn này chủ
yếu đi sâu phân tích bút pháp tả chân, quan niệm nghệ thuật khi phản ánh hiện thực
của nhà văn. Những góc khuất trong cuộc sống của các tầng lớp con người cụ thể
chưa được phân tích sâu sắc. Bên cạnh Tam Lang, Vũ Trọng Phụng, các phóng sự
của Ngô Tất Tố, Trọng Lang, Nguyễn Đình Lạp, Thạch Lam… cũng được giới phê
bình quan tâm. Tuy nhiên, những vấn đề nhức nhối về hiện thực đời sống của
những con người “dưới đáy” trong xã hội đương thời chưa được nghiên cứu
một cách hệ thống và đánh giá một cách toàn diện.
Phóng sự Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945 chính là một bức tranh toàn
cảnh về xã hội Việt Nam đương thời với đa dạng các tầng lớp được phản ánh
chân thực, sâu sắc. Những tư tưởng tiến bộ nhằm cải tạo xã hôi, nâng cao giá


8

trị và đời sống con người của các văn sĩ cũng được gửi gắm qua các thiên
phóng sự. Tuy nhiên, những vấn đề đó chưa được các nhà phê bình giai đoạn
1932 – 1945 quan tâm đích đáng.
b. Thời kì 1945 - 1985
Bước sang thời kì1945 – 1985, phóng sự vẫn là thể loại được giới nghiên
cứu quan tâm, tuy nhiên vấn đề con người trong phóng sự giai đoạn này chưa
được nghiên cứu xứng tầm quan trọng của nó. Đáng chú ý là ý kiến của Tố
Hữu về Vũ Trọng Phụng trong Hội nghị tranh luận văn nghệ tại Việt Bắc năm
1949 khi ông cho rằng “Vũ Trọng Phụng đã vạch rõ cái thực xấu xa thối nát
của xã hội ấy”(xã hội 1932 - 1945)[16; tr. 157]. Nhà văn Nguyên Hồng (trong

282]. Những lời văn miêu tả, phân tích chân thực, khách quan về bi kịch cuộc
đời và cả những “mánh khóe làm nghề” của những người phụ nữ “bán trôn
nuôi miệng” – một tầng lớp hạ đẳng trong xã hội thành thị đương thời trong
phóng sự của Vũ Trọng Phụng bị Vũ Đức Phúc cho là “lối văn khiêu dâm”và
nó “còn tệ hại hơn gấp mấy lần văn chương lãng mạn”[37; tr. 294].
Cũng trong thời gian này, một số tác giả, tác phẩm phóng sự tiền chiến
cũng được ca ngợi ở miền Nam. Vấn đề con người trong phóng sự 1932 –
1945 được đề cập đến trong bài viết của nhà văn học sử Phạm Thế Ngũ trong
cuốn Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập III. Tác giả đã giới thiệu tóm
tắt bốn phóng sự của Vũ Trọng Phụng (Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm
thầy cơm cô, Lục xì) và khẳng định giá trị của phóng sự Vũ Trọng Phụng trong
việc phản ánh hiện thực đời sống xã hội đương thời với những tầng lớp con
người cụ thể, “moi móc những vết thương xã hội ấy ... và nói ra với một giọng
mỉa mai chua chát, đôi khi đượm vẻ căm hờn [28; tr. 513-514]. Trong Bảng
lược đồ văn học Việt Nam, Thanh Lãng nhìn thấy giá trị hiện thực sâu sắc trong
ngòi bút tả chân của Vũ Trong Phụng khi lột trần những hiện tượng giả dối,
xấu xa, tội lỗi ẩn giấu trong các tầng lớp người trong xã hội đương thời. Thanh
Lãng nhận xét: “Vũ Trọng Phụng trong “Cạm bẫy người” (1933) cho chúng ta
thấy cái xã hội mà Phạm Quỳnh đã ca ngợi chỉ là một xã hội giả dối, tội lỗi,


10

xấu xa... còn gì sống động và cũng sượng sùng cho bằng những thiên điều tra
của Vũ Trọng Phụng trong “Cơm thầy cơm cô” hay “Lục xì”! Truyện như trốn
tránh kết cấu, chỉ còn là một sự diễn hành”[17; tr. 722-744]. Phạm Thế Ngũ và
Thanh Lãng đã nhìn những phóng sự của Vũ Trọng Phụng ở ý nghĩa xã hội,
thấy được giá trị phản ánh hiện thực trong tác phẩm của nhà văn này, cũng có
nghĩa đã quan tâm đến cuộc sống của những kiếp người được “ông vua phóng
sự đất Bắc” điều tra và đưa lên trang giấy.

Trọng Lang, Vũ Trọng Phụng.
Trong những năm gần đây, khi những tác phẩm phóng sự 1932 – 1945
được tuyển tập, giới thiệu, được các nhà nghiên cứu lão thành phân tích, bình
giá thì đã có một số luân án tiến sĩ (LATS) và luận văn thạc sỹ (LVThS) nghiên
cứu về phóng sự, trong đó có đề cập đến vấn đề con người trong phóng sự Việt
Nam giai đoạn 1932 – 1945. Trong LATS Phóng sự Việt Nam 1930 – 1945
(Qua Tam Lang, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố) (2009), tác giả Phạm Thị My đã
chỉ ra mục đích của phóng sự Tam Lang, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố là
phanh phui những “ung nhọt” xã hội. Đó là những tệ nạn xã hội như mãi dâm,
cờ bạc bịp, trộm cắp… Đó là tình trạng bần cùng hóa và tha hóa diễn ra trong
một số tầng lớp con người trong xã hội đương thời. Luận văn Phóng sự Việt
Nam giai đoạn 1930 – 1945 của Đỗ Chỉnh (1996) đã phân tích hiện thực đời
sống nhân dân ở đô thị và thôn quê được phản ánh trong phóng sự 1932 – 1945
để khẳng định giá trị của thể loại văn học này. Tác giả Nguyễn Thị Loan trong
luận văn Thể loại phóng sự trong văn học Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945
(2001) đã nhận thấy ý nghĩa hiện thực của phóng sự giai đoạn này khi phơi bày
cuộc sống đau thương của nhiều tầng lớp “dưới đáy” trong xã hội. Luận văn
Đề tài nông thôn trong phóng sự văn học Việt Nam 1930 – 1945 (2008) của
Nguyễn Thị Bích Hòa thì đi sâu phân tích các vấn đề về cuộc sống con người ở
nông thôn trong phóng sự 1932 – 1945. Luận văn Đặc trưng phóng sự Vũ
Trọng Phụng (2012) của Trần Thị Huyền đã chỉ ra những nét tiêu biểu về nội
dung và nghệ thuật trong phóng sự Vũ Trọng Phụng. Các tầng lớp con người ở
đô thị như me Tây, gái mại dâm, cờ bạc bịp… cũng được tác giả phân tích để
chi ra tính chân thực trong phóng sự của nhà văn họ Vũ này.


12

Gần đây, công trình Phóng sự Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945, đặc
điểm và quá trình phát triển (2013) của Tiến sỹ Vũ Thị Thanh Minh đã nhận

nghiên cứu sinh mới quan tâm làm rõ đặc điểm, quá trình hình thành và phát
triển của phóng sự Việt Nam 1932 – 1945, đóng góp của các cây bút phóng sự
giai đoạn này vào nền văn học dân tộc, đặc biệt chú ý đến bút pháp tả chân,
chứ chưa nghiên cứu chuyên sâu vấn đề con người trong phóng sự 1932 –
1945. Vấn đề này mới được đề cập đến như một phần nhỏ trong các công trình
nghiên cứu và bằng những nhận xét khái quát, ngắn gọn. Từng tầng lớp con
người với những éo le, những góc khuất vẫn chưa được tìm hiểu chi tiết. Kế
thừa những thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi định hướng
tìm hiểu vấn đề Con người trong phóng sự Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945
trong luận văn này. Chúng tôi khảo sát và nghiên cứu chuyên sâu về các tầng
lớp con người được phản ánh trong phóng sự, nhận diện về môi trường sống
và làm việc, đời sống vật chất và đời sống tinh thần của họ để thấy được bức
tranh hiện thực về con người Việt Nam trong xã hội đương thời. Chúng tôi tìm
hiểu cách tiếp cận, cách thể hiện, đánh giá con người của các tác giả phóng sự
để thấy được nhân sinh quan, thế giới quan của nhà văn và làm rõ quá trình
hình thành các nhân vật văn học mới trong giai đoạn văn học mới, làm rõ các
hình thức thể hiện mới về con người của văn học nói chung, của thể loại phóng
sự nói riêng. Đó là những vấn đề quan trọng, cần thiết, không chỉ để hiểu rõ
hơn về một thể loại có nhiều đóng góp cho văn học giai đoạn này mà còn để
hiểu về đời sống con người Việt Nam trước Cách mạng, từ đó có cái nhìn soi
chiếu về con người trong cuộc sống hôm nay.
3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
3.1.
Đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi hướng đến đối tượng là Con người trong phóng sự Việt Nam
giai đoạn 1932 – 1945, tập trung vào các tầng lớp con người được phản ánh
trong phóng sự của ba tác giả tiêu biểu là Tam Lang, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn
Đình Lạp.



15

- Các phóng sự của Vũ Trọng Phụng: Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây, Cơm
thầy cơm cô, Lục sì, Một huyện ăn Tết.
- Các phóng sự của Nguyễn Đình Lạp: Thanh niên trụy lạc, Ngoại ô, Ngõ hẻm.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn được tổ chức thành ba chương.
Chương 1: Điều kiện hình thành con người trong văn học Việt Nam giai đoạn
1930-1945
Chương 2: Các tầng lớp con người trong phóng sự Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945.
Chương 3: Các hình thức thể hiện con người trong phóng sự Việt Nam giai
đoạn 1932 - 1945
7. Đóng góp của luận văn
Luận văn góp thêm một tiếng nói khẳng định vai trò, vị trí của phóng sự
1932 – 1945 trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Luận văn tiến hành nghiên
cứu chuyên sâu về một vấn đề còn nhiều bỏ ngỏ, chưa được tìm hiểu toàn diện,
hệ thống – vấn đề “Con người trong phóng sự Việt Nam 1932 – 1945” làm tư
liệu cho các nhà nghiên cứu và những người yêu văn học.


16

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH CON NGƯỜI TRONG VĂN
HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 – 1945
1.1. Điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội hình thành con người trong văn học
Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945.
Đầu thế kỉ XX, dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế và chính
sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam có sự phân hóa

sống điêu đứng. Địa chủ nhỏ cũng bị sa sút. Một số tư sản dân tộc bị phá sản,
vỡ nợ.
Cùng với những biển đổi lớn về kinh tế, xã hội, văn hóa Việt Nam thời
kì này cũng có nhiều thay đổi do sự giao lưu, tiếp biến với văn hóa phương
Tây. Các giá trị văn hóa Tây phương du nhập vào Việt Nam từ đầu thế kỉ XX,
dẫn đến những chuyển biến lớn trong đời sống của nhân dân, trước hết ở nhận
thức. Sự phát triển của ý thức về cái tôi cá nhân, tự do cá nhân là một điểm mới
trong nhận thức của người Việt Nam. Nếu như ở thời kì trung đại, dưới tác
động, ảnh hưởng của Nho giáo, quan hệ họ hàng, gia tộc, quốc gia được đề
cao, cái tôi cá nhân bị lu mờ thì bước sang thế kỉ XX, quan hệ họ hàng gia tộc
lại mờ nhạt trước cái tôi cá nhân. Từ chỗ bị chìm trong cái Ta, cái Tôi đã trở
thành những cá thể độc lập, là bản vị của xã hội, có nghĩa vụ và lợi ích độc lập.
Đặc biệt, đến đầu thế kỉ XX, vấn đề “nữ quyền” đã được nhiều người quan tâm
và cổ vũ. Nếu như ở thời kì trung đại, người phụ nữ bị đối xử bất công, không
được đi học, không được thể hiện cái tôi, không được tham gia các hoạt động xã
hội, chính trị quốc gia đại sự… thì đến đầu thế kỉ XX, những người phụ nữ, nhất
là ở thành thị, đã nhận thức được giá trị bản thân, đấu tranh đòi nữ quyền, chống
lại những tập tục lạc hậu, luân lý Nho giáo lỗi thời, lên tiếng đòi quyền tự do,
dân chủ, bình đẳng cho giới mình. Phụ nữ cũng được đi học, cũng làm các công
việc như nam giới như công nhân, viên chức, công chức, buôn bán, kinh
doanh…, khẳng định mình trong tình yêu và hôn nhân, mạnh dạn trong giao tiếp
xã hội, tiếp cận các mẫu trang phục hiện đại, Âu hóa…


18

Cùng với những thay đổi trong nhận thức về cái tôi cá nhân, cách nhìn
nhận phong tục tập quán của con người đầu thế kỉ XX đã khác trước. Một mặt
tôn vinh bản sắc tinh tế riêng biệt của văn hóa dân tộc qua các lễ hội, sinh hoạt
gia đình, tình nghĩa làng xóm, đạo thầy trò, nghĩa cha con, vợ chồng, để cao

nhập để làm phong phú thêm vốn ngôn ngữ dân tộc, diễn tả những khái niệm
mới của thời đại.
Cùng với sự phát triển của chữ quốc ngữ, thể loại báo chí, dịch thuật đã ra
đời và phát triển. Các tờ báo Tiếng Việt như Nam Phong (1919), Thực nghiệp
dân báo (1920), Nam Kỳ kinh tế (1920), Thanh niên (1925), Tiếng dân (1927),
Phụ nữ tân văn (1929), Tiểu thuyết thứ bảy (1934), Phong Hóa (1932), Ngày
nay (1936)… lần lượt ra đời với hàng loạt bài viết phản ánh đời sống tư tưởng,
tình cảm, nếp suy nghĩ mới của con người Việt Nam. Phóng sự là một trong
những thể loại báo chí ra đời sau nhưng phát triển mạnh mẽ, đã phản ánh chân
thực muôn mặt đời thường, từ kinh tế, chính trị đến xã hội, văn hóa của con
người Việt Nam. Các cây bút phóng sự như Tam Lang, Vũ Trọng Phụng, Trọng
Lang, Ngô Tất Tố, Vũ Bằng, Thạch Lam, Nguyễn Đình Lạp… với bút lực dồi
dào và tinh thần nhập cuộc đã “lăn lộn” với đời để đưa lên trang báo những bài
phóng sự phản ánh chân thực, sâu sắc đời sống của các tầng lớp nhân dân cùng
rất nhiều những góc khuất mà không phải ai cũng dễ dàng nhận thấy được.
Như vậy, từ đầu thế kỉ XX, đời sống văn hóa tinh thần của người Việt
Nam đã có nhiều thay đổi theo hướng tiếp thu những ảnh hưởng của văn hóa
phương Tây. Phong trào Âu hóa diễn ra mạnh mẽ nhất ở các đô thị, nơi không
bị níu giữ bởi văn hóa làng xã. Thị dân sống ở thành thị không phụ thuộc vào
lề thói văn hóa cũ, ít bị ảnh hưởng bởi văn hóa làng xã, tách dần với nếp suy
nghĩ, nếp cảm của người nông dân, dễ thích nghi với những biến chuyển mới
của xã hội. Thị dân đã chấp nhận một lối sống văn hóa mới. Họ chọn cách sinh
hoạt của người phương Tây như mặc đồ Tây, ở nhà Tây, thích đi ô tô, xe điện,
chụp ảnh, xem phim, đọc sách báo, nhảy đầm… Thị dân tìm đến với văn hóa
phương Tây để thỏa mãn những nhu cầu của mình, thực hiện lối sống mới – tự
do, phóng khoáng, đề cao cái tôi cá nhân.


20



1.2. Vài nét quan niệm về con người trong văn học hiện đại Việt Nam (từ
đầu thế kỉ XX đến 1945)
1.2.1. Khái niệm quan niệm về con người trong văn học
Con người là đối tượng chủ yếu của văn học. Tác phẩm văn học dù viết
về đối tượng nào, là con người hay đồ vật, con vật, dù thần linh hay ma quỉ, dù
miêu tả thế giới nào, là thượng giới, âm giới hay trần gian thì đều hướng tới một
mục đích là thể hiện con người với tất cả sự đa dạng, phức tạp của nó.Thực
tế cho thấy, không có một tác phẩm, một tác giả hay một nền văn học nào lại chỉ
đơn thuần nói về thiên nhiên, cảnh vật mà không liên quan đến con người. Mỗi
thể loại văn học có những cách diễn đạt, thể hiện khác nhau nhưng tựu chung lại
đều hướng đến thể hiện con người. Ví dụ: Truyện cổ tích, thần thoại miêu tả
thần linh, ma quỷ, địa ngục, đồ vật...là nói đến cái hiện thực tồn tại trong đầu óc
con người, góp phần thể hiện ước mơ, khát vọng con người. Ngay cả những
nhân vật không thực, ví như trong tiểu thuyết Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân (các
thần tiên, yêu quái) thì cũng hướng đến bóc trần hiện thực xã hội Trung
Quốc hỗn loạn thời bấy giờ, đồng thời thể hiện sự khái quát về triết lí làm
người. Hay những dòng thơ viết về thiên nhiên, cảnh vật không phải chỉ là miêu
tả, phác thảo bức tranh mà là sự gửi gắm những tâm tư, tình cảm của chủ thể trữ
tình. Nhìn chung, trong văn học, yếu tố con người được nói đến như một điều tất
yếu. Con người chính là nhân vật trung tâm của văn học. Tuy nhiên, mỗi nhà
văn ở mỗi thời đại lại có những quan niệm khác nhau về con người, chi phối đến
cách xây dựng và thể hiện tính cách nhân vật trong tác phẩm văn học.
Quan niệm về con người trong văn học là nội dung cơ bản nhằm thể
hiện khả năng khám phá, sáng tạo của nhà văn trong lĩnh vực miêu tả, thể hiện
con người. Cho đến nay, mặc dù được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu,
song khái niệm quan niệm về con người vẫn còn nhiều cách định nghĩa và diễn
đạt khác nhau. Cụ thể như sau:



người đấng bậc. Vì thế, con người được thể hiện trong văn học là người anh


24

hùng đối diện đàm tâm với thiên nhiên vũ trụ, sánh ngang tầm vũ trụ “Trí chủ
hữu hoài phù địa trục / Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà” (Cảm Hoài – Đặng
Dung). Con người được thể hiện trong văn học trung đại còn là con người đạo
đức, luân lí, con người của chí khí và việc tỏ lòng, tỏ chí khí là nét đặc trưng
của họ “Dù nội ngoại bên nào cũng vậy / Đừng tranh giành bên ấy, bên này /
Cù Lao đội đức cao dày /Phải lo hiếu kính đêm ngày khăng khăng.” (Gia huấn
ca – Nguyễn Trãi). Đó còn là con người đấng bậc, nhân vật được nói đến trong
tác phẩm văn học là những “đấng”, những “bậc” đáng kính trọng. Họ là “đấng
tài hoa” (Đạm Tiên); “bậc tài danh” (Kim Trọng); “bậc bố kinh” (Thúy Kiều);
“đấng anh hùng” (Từ Hải)... Đối với những nhân vật ấy, tác giả dành cho
những lời trang trọng, tượng trưng.
Trong văn học trung đại Việt Nam, con người cá nhân cũng được thể
hiện ở mức độ đậm nhạt và qua nhiều bình diện khác nhau, đậm nét nhất trong
các sáng tác giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX. Ví như, con người cá
nhân với ý thức khẳng định vẻ đẹp và tài năng (thơ Hồ Xuân Hương); con
người với nhu cầu bộc lộ tình cảm riêng tư, tâm sự u uẩn (thơ Nôm Nguyễn
Trãi, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm,...); con người thể hiện cảm hứng sống ẩn dật,
hành lạc (thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm); con người với tình yêu lứa đôi, hạnh phúc,
khát vọng nhu cầu trần thế (Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái và Truyền kỳ
mạn lục); con người cá nhân với niềm lo sợ tuổi trẻ chóng tàn (Chinh phụ
ngâm); con người cá nhân công danh hưởng lạc ngoài khuôn khổ (thơ văn
Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát); con người cá nhân giải thoát bằng hưởng
lạc (thơ ca trù cuối thế kỉ XIX); con người cá nhân trống rỗng, mất hết ý nghĩa
(thơ Nguyễn Khuyến),… Đây là tiền đề cho sự thể hiện một cách mạnh mẽ, sâu
sắc con người cá nhân trong văn học hiện đại Việt Nam.

họ. Thế nhưng những rung động tinh tế trong tâm hồn mỗi nhân vật thì không
thể nào giấu nổi. Có thể nói một trong những cách tân quan trọng về nội dung
tiểu thuyết Tự lực văn đoàn là thay đổi cách nhìn về con người. Nhà văn đưa
con người ra đấu tranh trực diện với xã hội cũ. Kết thúc tác phẩm có thể là
những tương lai xán lạn cho nhân vật hoặc còn để lại nhiều trăn trở trong lòng


Trích đoạn Phóng sự thể loại giao thoa giữa báo chí và văn học CHƯƠNG 2: CÁC TẦNG LỚP CON NGƯỜI TRONG PHÓNG SỰ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1932 – Người lao động nghèo lương thiện Người lao động bị tha hóa bởi hoàn cảnh 1 Phu kéo xe Những tay cờ bạc bịp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status