NHỮNG điểm mới của BLDS 2015 về sở hữu tài sản RIENG - Pdf 43

MỤC LỤC
MỤC LỤC............................................................................................................................1
PHẦN MỞ ĐẦU..................................................................................................................2
1. Tính cấp thiết của đề tài................................................................................................2
2. Tình hình nghiên cứu đề tài..........................................................................................2
3. Mục đích và ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài...........................................................2

3.1. Mục đích....................................................................................................2
3.2. Ý nghĩa......................................................................................................2
4. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu........................................................................3

4.1. Đối tượng...................................................................................................3
4.2. Phương pháp..............................................................................................3
5. Phạm vi nghiên cứu......................................................................................................3
6. Bố cục đề tài.................................................................................................................3
NỘI DUNG.......................................................................................................................3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUYỀN SỞ HỮU................................3
TÀI SẢN RIÊNG.............................................................................................................3

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN..........................3
1.1.1 Khái niệm về tài sản.............................................................................3
1.1.2 Khái niệm về quyền sở hữu..................................................................4
Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định
đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật........................................5
1.1.3. Các hình thức sở hữu...........................................................................5
1.2. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ SỞ HỮU RIÊNG..............5
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm........................................................................5
1.2.2. Chủ thể của sở hữu riêng.....................................................................6
1.2.3. Khách thể của sở hữu riêng.................................................................6
1.2.4. Nội dung của sở hữu riêng..................................................................6
CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 VỀ.......................6

tài sản riêng. Để tìm hiểu về những vấn đề về quyền sở hữu tài sản riêng, liên hệ
với các quy định mới trong Bộ luật dân sự 2015 về quy định căn cứ sở hữu tài sản
riêng. Tôi xin chọn đề tài về “Những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015 về
sở hữu riêng”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có không ít công trình nghiên cứu ở Việt Nam về vấn đề quyền sở hữu tài
sản riêng. Tuy nhiên, để tìm hiểu rõ ràng về vấn đề này, cần tiếp cận theo phương
pháp đánh giá tính khả thi của các quy định, chế định về quyền sở hữu tài sản riêng
đã được đề cập trong thời gian qua. Tìm hiểu cả về cơ sơ lí luận và cơ sở thực tiễn
để nắm rõ về tình hình quyền sở hữu tài sản riêng trong thực tế pháp luật Việt Nam
hiện nay. Vì vậy tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu để làm rõ hơn những vấn đề những
điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015 về quyền sở hữu tài sản riêng.
3. Mục đích và ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích
Trên cơ sở khoa học của các của các quy định chung về quyền sở hữu tài sản
riêng, nhằm mục đích phát triển nội dung khoa học của các nội dung đó, làm rõ nội
dung của các quy định tìm ra những điểm mới trong BLDS 2015 so với BLDS
2005.
3.2. Ý nghĩa
Nghiên cứu đề tài môn học này giúp cho chúng ta hiểu được những quy định
của pháp luật về căn cứ quyền sở hữu tài sản riêng. Đề tài này cũng giúp cho chúng
ta hiểu được việc Sở hữu hay quyền hữu cần được ghi nhận và thể hiện một cách
nhất quán trong các quy định về tài sản và sở hữu cũng như các quy định liên quan.
Chế định quyền sở hữu được ghi nhận với tư cách là một chế định độc lập.

SVTH: Vương Huy Thắng

Lớp K713LHV.KT 2

GVHD: Châu Thị Ngọc Tuyết

SVTH: Vương Huy Thắng

Lớp K713LHV.KT 3

GVHD: Châu Thị Ngọc Tuyết


Tài sản luôn được coi là một điều kiện vật chất để duy trì các hoạt động trong
lĩnh vực kinh tế và đời sống xã hội. Khái niệm về tài sản chắc chắn đã được hình
thành từ rất lâu, gần như song song với lịch sử hình thành loại người. Tài sản là
một công cụ của đời sống xã hội nên khái niệm về tài sản không phải là một khái
niệm thuần túy có tính học thuật mà lá một khái niệm có tính mục đích cao. Khái
niệm này đáp ứng được các nhu cầu cấp thiết của xã hội. Tài sản không thể được
xem xét tách rời các giá trị xã hội.
Có thể nói, tài sản là của cải được con người sử dụng. Theo nghĩa này thì tài
sản luôn biến đổi và phát triển cùng với sự thay đổi của thời gian, của điều kiện xã
hội, của sự nhận thức con người về giá trị vật chất nên phạm vi của tài sản qua mỗi
thời kỳ lại được nhìn nhận ở một góc độ khác nhau. Có thể nhận thấy tài sản là
khách thể của quyền sở hữu, nó có thể là đối tượng của thế giới vật chất hoặc là kết
quả của các hoạt động sáng tạo tinh thần.
Do đó ta có thể nêu khái niệm về TÀI SẢN (Căn cứ theo điều 105 Bộ luật
dân sự năm 2015) như sau:
1- Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản;
2- Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có
thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.
1.1.2 Khái niệm về quyền sở hữu
Muốn hiểu được quyền sở hữu chung trước hết ta phải hiểu được quyền sở
hữu.
Quyền sở hữu là chỉ tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành
để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và

hội, tức là thể chế hoá những quan hệ chiếm hữu, sử dụng và định đoạt những của
cải vật chất do con người tạo ra.
Khái niệm quyền sở hữu (theo Điều 158 BLDS năm 2015) như sau:
Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt
tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật.
1.1.3. Các hình thức sở hữu
BLDS 2015 quy định tại Mục 02, Chương XI về các hình thức sở hữu (từ
Điều 197 đến Điều 220), trong đó có 03 hình thức sở hữu đó là sở hữu toàn dân, sở
hữu riêng và sở hữu chung. Ở mỗi hình thức sở hữu, chủ sở hữu có những cách
thức thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản trong những
giới hạn và phạm vi khác nhau.
- Hình thức sở hữu toàn dân: Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng
sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do
Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước đại
diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Quy định về tài sản như trên thuộc sở hữu
toàn dân để nhấn mạnh quyền sở hữu của toàn dân đối với các tài sản đó được ghi
nhận tại Điều 53, 54 của Hiến pháp năm 2013, còn Nhà nước là công cụ để nhân
dân thực hiện quyền lực dưới hình thức dân chủ đại diện.
- Sở hữu riêng: là sở hữu của một cá nhân hoặc một pháp nhân. BLDS 2015
quy định lại là chỉ có chủ thể của sở hữu riêng là cá nhân và pháp nhân (Pháp nhân
thành lập theo quy định của Bộ Luật dân sự 2015 và luật khác có liên quan. Pháp
nhân phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập,
đăng ký hoặc công nhận).
- Sở hữu chung: là sở hữu của nhiều chủ thể đối với tài sản. Trong thực tế đó
là việc một tài sản nhưng thuộc sở hữu của nhiều người. Khi đó việc chiếm hữu, sử
dụng, định đoạt tài sản của chủ thể này lại có ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ
thể khác.
1.2. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ SỞ HỮU RIÊNG
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm
Trong các hình thức sở hữu được quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 thì hình

đại diện...
1.2.3. Khách thể của sở hữu riêng
Khách thể của sở hữu riêng là những tài sản thuộc quyền sở hữu của cá nhân,
pháp nhân. Tài sản thuộc sở hữu riêng được pháp luật quy định rất đa dạng về căn
cứ phát sinh, không giới hạn về số lượng và giá trị tài sản “Tài sản hợp pháp thuộc
sở hữu riêng không bị hạn chế về số lượng, giá trị.” (Điều 205, BLDS 2015).
1.2.4. Nội dung của sở hữu riêng
Nội dung của quyền sở hữu riêng của cá nhân, pháp nhân được thể hiện ở
những việc làm như chi phối tài sản thông qua các quyền năng chiếm hữu, sử
dụng, định đoạt tài sản. Cá nhân và pháp nhân có thể thực hiện các quyền này một
cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt
tài sản thuộc sở hữu riêng nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, sản xuất,
kinh doanh và các mục đích khác không trái pháp luật.

CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 VỀ
SỞ HỮU RIÊNG
2.1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI BAN HÀNH BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015.
Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 được Quốc hội khóa XI thông qua ngày
14/6/2005 trên cơ sở kế thừa truyền thống của pháp luật dân sự Việt Nam, phát huy
thành tựu của BLDS năm 1995 và kinh nghiệm gần 20 năm đổi mới, xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Sau hơn 09 năm thi
SVTH: Vương Huy Thắng

Lớp K713LHV.KT 6

GVHD: Châu Thị Ngọc Tuyết


hành, BLDS cơ bản đã có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước cũng như đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan

được tương đối đầy đủ các vấn đề của đời sống dân sự. Nhờ vậy, BLDS đã góp
phần vào việc khắc phục được một bước những mâu thuẫn, chồng chéo của hệ
thống pháp luật về sở hữu, nghĩa vụ và hợp đồng, góp phần bảo đảm tính thống
nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật dân sự nói riêng.
Tuy nhiên, bước sang giai đoạn phát triển mới của đất nước, trước yêu cầu thể
chế hóa Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, Nghị quyết số 48 - NQ/TW của Bộ
Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến
năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết số 48-NQ/TW), Nghị quyết số
SVTH: Vương Huy Thắng

Lớp K713LHV.KT 7

GVHD: Châu Thị Ngọc Tuyết


49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách Tư pháp đến năm 2020 (Nghị
quyết số 49-NQ/TW) và đặc biệt là yêu cầu về công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo
đảm quyền con người, quyền công dân, về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế được ghi nhận trong Hiến pháp
năm 2013 thì BLDS hiện hành đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, nổi bật là các vấn
đề sau đây:
Thứ nhất, một trong những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN, đặc
biệt sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành là Nhà nước phải có cơ chế pháp
lý để công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền
công dân về dân sự. Tuy nhiên, một số quy định của BLDS hiện hành chưa đáp
ứng được yêu cầu này như:
(1) Chưa bảo đảm nguyên tắc quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế bởi luật
trong những trường hợp đặc biệt như Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận;
(2) Nhiều quy định về chủ thể, giao dịch, đại diện, nghĩa vụ và hợp đồng,
thừa kế còn bất hợp lý, thiếu tính khả thi;



quan hệ hợp đồng như một yêu cầu tất yếu của nền kinh tế thị trường. Quy định
hiện hành của BLDS về việc một pháp nhân chỉ có thể có một đại diện theo pháp
luật và chưa có quy định về việc pháp nhân có thể là đại diện theo ủy quyền là
không phù hợp với nhu cầu rất tự nhiên, chính đáng của các doanh nghiệp về đại
diện, chưa bảo đảm tính chuyên nghiệp và tính nhanh nhạy trong quản lý, điều
hành sản xuất kinh doanh, nhất là trong điều kiện hiện nay khi mà các doanh
nghiệp Việt Nam ngày càng có nhu cầu và khả năng mở rộng quy mô, địa bàn hoạt
động của mình và việc tham gia tố tụng... Hạn chế này phải được khắc phục sớm
để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh
một cách thuận lợi, hiệu quả, góp phần xây dựng thành công nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở nước ta;
Thứ ba, trong hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự, BLDS hiện
hành còn chưa thể hiện được một cách đầy đủ vị trí, vai trò của mình với tư cách là
bộ luật nền, luật chung, nhất là trong việc thực hiện ba chức năng:
(1) Quy định những vấn đề cơ bản nhất, chung nhất có liên quan đến tất cả
các lĩnh vực thuộc đời sống dân sự;
(2) Định hướng cho việc xây dựng các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan
hệ dân sự đặc thù;
(3) Khi các luật chuyên ngành không có quy định về một quan hệ dân sự thì
quy định của BLDS được áp dụng để điều chỉnh. Bất cập này càng được thể hiện
rõ hơn khi mà trong điều kiện hiện nay, bên cạnh BLDS, đã và đang tồn tại ngày
càng nhiều đạo luật điều chỉnh các lĩnh vực dân sự đặc thù, như Luật doanh
nghiệp, Luật đầu tư, Luật đất đai, Luật nhà ở, Luật kinh doanh bất động sản, Luật
thương mại, Luật hôn nhân và gia đình, Luật sở hữu trí tuệ, Bộ luật lao động,…
Kết quả là, BLDS nói riêng và hệ thống pháp luật dân sự nói chung còn chưa đáp
ứng được đầy đủ các yêu cầu về tính ổn định, tính khái quát, tính hệ thống, tính dự
báo và tính minh bạch trong hệ thống pháp luật của Nhà nước pháp quyền;
Thứ tư, cấu trúc của BLDS có điểm chưa hợp lý, chưa bảo đảm tính đồng bộ,

cứu cho thấy, nội dung của quyền sở hữu được quy định trong BLDS hiện hành là
không có gì khác nhau đối với các hình thức sở hữu khác nhau, không có ý nghĩa
về mặt pháp lý khi không chỉ ra được sự khác biệt cơ bản giữa các hình thức sở
hữu này, ngoại trừ việc phân loại sở hữu riêng và sở hữu chung. Trong sở hữu
chung thì khi chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản cần phải có sự thỏa thuận của
các đồng chủ sở hữu; không đồng chủ sở hữu nào được tự ý quyết định vấn đề gì.
Đây là điểm khác biệt cơ bản của hình thức sở hữu chung so với trường hợp tài sản
là sở hữu riêng của một chủ thể (cá nhân hoặc pháp nhân) vì các chủ thể này có
toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan đến tài sản của mình mà không phải
tính đến ý chí của người khác;
Thứ hai, về sở hữu tập thể (Điều 208 và Điều 209): theo quy định hiện hành
thì sở hữu tập thể là một hình thức sở hữu độc lập. Tuy nhiên, về cơ bản, đây chỉ là
sở hữu của pháp nhân là hợp tác xã. Nếu đã có quy định về sở hữu riêng là sở hữu
của cá nhân và pháp nhân thì không cần quy định một hình thức sở hữu độc lập là
sở hữu tập thể nữa vì hợp tác xã cũng là một loại hình cụ thể của pháp nhân;
Thứ ba, về sở hữu tư nhân: theo Điều 211 thì sở hữu tư nhân là sở hữu của cá
nhân đối với tài sản hợp pháp của mình. Như vậy, quy định sở hữu tư nhân thực
chất là sở hữu của cá nhân là chưa đầy đủ, vì chưa bao quát được sở hữu của một
loại chủ thể pháp lý khác là pháp nhân. Về nguyên lý, sở hữu tư nhân phải được
quy định như là"sở hữu riêng" để bao quát được sở hữu của cả cá nhân lẫn của
pháp nhân;
Thứ tư, về sở hữu chung: việc quy định về sở hữu chung hỗn hợp tại Điều
218 là không có ý nghĩa pháp lý, vì bản chất nó là một loại sở hữu chung theo
phần.
Vì vậy, chỉ nên quy định trong luật có 03 hình thức sở hữu chủ yếu là sở hữu
nhà nước, sở hữu riêng và sở hữu chung là phù hợp.
2.3. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 VỀ SỞ HỮU
RIÊNG
2.3.1. Sở hữu riêng và tài sản thuộc sở hữu riêng
SVTH: Vương Huy Thắng

đích khác không trái pháp luật.
- Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng không được
gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng,
quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”.

SVTH: Vương Huy Thắng

Lớp K713LHV.KT 11

GVHD: Châu Thị Ngọc Tuyết


KẾT LUẬN
Từ trước đến nay, thái độ của Nhà nước ta và các quy định cụ thể của pháp
luật đối với từng hình thức sở hữu cụ thể cũng có những quy chế pháp lí khác
nhau. Nhà nước xác định nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, đa dạng nhưng
cũng xác định các hình thức sở hữu cũng có khác nhau. Với việc nghiên cứu những
quy định mới về quyền sở hữu tài sản riêng, chúng ta sẽ có điều kiện quy định các
phương thức tồn tại, vận động của sở hữu gắn liền với các chủ sở hữu cụ thể cùng
với các chế độ pháp lí có tính chất đặc thù của hình thức sở hữu đó. Tuy còn một
vài hạn chế nhất định nhưng không thể phủ nhận những điểm hợp lí và tiến bộ của
các quy định về hình thức sở hữu riêng trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Mong rằng
khi chúng ta áp dụng các quy định mới về hình thức sở hữu riêng sẽ có những thay
đổi phù hợp để đáp ứng tốt nhu cầu của thực tế và điều chỉnh một cách phù hợp
những quan hệ dân sự có liên quan đến các hình thức sở hữu tài sản riêng.

SVTH: Vương Huy Thắng

Lớp K713LHV.KT 12



GVHD: Châu Thị Ngọc Tuyết


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ luật Dân sự năm 2005;
[2] Bộ luật Dân sự năm 2015;
[3] Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự 2015 - NXB HỒNG
ĐỨC, PGS. TS Đỗ Văn Đại (Chủ biên);
[4] Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005, Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư
pháp, PGS.TS Hoàng Thế Liên (Chủ biên)
[5] Bộ luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
[6] Luật nhà ở năm 2014;
[7] />[8] />[9] />[9] />
SVTH: Vương Huy Thắng

Lớp K713LHV.KT 14

GVHD: Châu Thị Ngọc Tuyết




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status