MỤC LỤC
Từ viết tắt
Bộ luật Dân sự :
BDLS
LỜI NÓI ĐẦU
Để tạo điều kiện cho người có quyền trong quan hệ nghĩa vụ có được thế chủ
động trong thực tế hưởng quyền dân sự, pháp luật cho phép các bên có thể thỏa
thuận đặt ra các biện pháp bảo đảm việc giao kết hợp đồng cũng như việc thực hiện
các nghĩa vụ dân sự bao gồm những biện pháp như: thế chấp, cầm cố, đặt cọc, ký
cược, ký quỹ,… Trong đó, bảo lãnh cũng được coi là một biện pháp bảo đảm giao
dịch dân sự và được sử dụng rất nhiều trong thực tiễn. Ngày 24 tháng 11 năm
2015, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Bộ luật
Dân sự 2015 để đáp ứng với sự phát triển của các quan hệ pháp luật dân sự trong
thực tiễn. Trong đó, biện pháp bảo lãnh được quy định tại Bộ luật này có những
điểm khác biệt và tiến bộ hơn so với biện pháp bảo lãnh được quy định tại Bộ luật
Dân sự 2005. Trong nội dung bài viết của mình, em xin tìm hiểu và trình bày “Vấn
đề số 7: Biện pháp bảo lãnh: so sánh quy định của BLDS 2005 và 2015; phân
tích, đánh giá những điểm mới trong BLDS 2015 và cho ví dụ minh họa.”
1
NỘI DUNG
I.
1.
Khái quát về bảo lãnh trong pháp luật dân sự Việt Nam
Định nghĩa
này không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ. Trong bảo lãnh – bảo đảm đối
nhân, cái mà người nhận bảo lãnh quan tâm là người đứng ra bảo lãnh và khả năng
tài chính của anh ta ( toàn bộ khối tài sản mà người nhận bảo lãnh có) mà không
hướng vào một tài sản cụ thể nào.
Thứ tư, về thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, bên bảo lãnh chỉ thực hiện nghĩa vụ
bảo lãnh khi bên có ngĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
hoặc chỉ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.
Người có quyền (bên nhận bảo lãnh) chỉ có quyền yêu cầu người thứ ba (bên bảo
lãnh) phải thực hiệssn nghĩa vụ bảo lãnh khi đến thời hạn phải thực hiện nghĩa vụ
mà người có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh) không thực hiện hoặc thực hiện không
đúng nghĩa vụ. Đồng thời, bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong
phạm vi đã cam kết.
Thứ năm, về tính phụ thuộc của nghĩa vụ bảo lãnh và nghĩa vụ được bảo lãnh.
Nghĩa vụ bảo lãnh là một nghĩa vụ phụ , nó có thể được thể hiện là hợp đồng phụ
bảo đảm cho hợp đồng chính và cũng có thể là các điều kiện để thực hiện hợp đồng
chính. Nghĩa vụ bảo lãnh luôn tồn tại và phụ thuộc vào nghĩa vụ của bên được bảo
lãnh, việc giao kết nghĩa vụ bảo lãnh chỉ được đưa ra bàn bạc khi có một nghĩa vụ
tài sản mà một chủ thể khác phải thực hiện và việc thực hiện nghĩa vụ này cần
được bảo đảm, người bảo lãnh cam kết không phải với nghĩa vụ tài sản đó mà như
là người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trong trường hợp chính người có nghĩa
vụ không thực hiện. Chính vì vậy , các nghĩa vụ bảo lãnh không thể xuất hiện trước
nghĩa vụ được bảo lãnh(nghĩa vụ chính). Từ đó có thể thấy rằng giá trị của nghĩa
vụ bảo lãnh lệ thuộc vào giá trị của nghĩa vụ được bảo lãnh và vi phạm nghĩa vụ
bảo lãnh không thể rộng hơn phạm vi nghĩa vụ được bảo lãnh. Sự phụ thuộc được
thể hiện: xác lập biện pháp bảo lãnh nhằm bảo đảm cho nghĩa vụ khác thực hiện;
nghĩa vụ được bảo lãnh là cơ sở để quy định nghĩa vụ bảo lãnh như thời hạn, nội
3
2.Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ
thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả
năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.”
Như vậy, ta có thể nhận thấy rõ ràng rằng: quy định về khái niệm bảo lãnh tại
BLDS 2005 và BLDS 2015 về cơ bản là giống nhau. Chỉ có điều quy định này tại
BLDS 2015 được tách làm 2 khoản, thể hiện sự rõ ràng, rành mạch và tính logic
của luật: khoản 1 là khái niệm về bảo lãnh, khoản 2 quy định về việc có thể thỏa
thuận giữa các bên về thực hiện nghĩa vụ. Bên cạnh đó, khái niệm bảo lãnh được
quy định tại BLDS 2015 được bổ sung những từ ngữ cần thiết (như đã được in đậm
trong phần trích dẫn luật ở trên) để làm sáng tỏ nội dung của điều luật, tránh dẫn
đến sự hiểu sai và áp dụng sai.
Thứ hai, về quy định Thù lao, cả hai Bộ luật đều quy định giống nhau, cụ thể là
BLDS 2005 ghi nhận tại Điều 364 và BLDS 2015 ghi nhận tại Điều 337: “Bên bảo
lãnh được hưởng thù lao nếu bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh có thỏa thuận.”
Thứ ba,vấn đề nhiều người cùng bảo lãnh, quyền yêu cầu của bên bảo lãnh và
chấm dứt bảo lãnh cũng được BLDS 2015 giữ nguyên so với quy định tại BLDS
2005. Những vấn đề này được ghi nhận lần lượt tại Điều 365, Điều 367, Điều 371
BLDS 2005 và lần lượt tại Điều 338, Điều 340, Điều 343 BLDS 2015.
2.
Điểm khác nhau giữa Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Dân sự 2015
So quy định về bảo lãnh tại BLDS 2005, BLDS 2015 ghi nhận những điểm
tương đối khác biệt nhằm đáp ứng nhu cầu điều chỉnh những vấn đề dân sự về bảo
lãnh nảy sinh trong đời sống xã hội ngày nay. Những quy định về bảo lãnh tại
BLDS 2015 có sự khác biệt so với quy định về bảo lãnh tại Bộ luật Dân sự 2005
bao gồm: quy định về Phạm vi bảo lãnh (Điều 336 BLDS 2015), quy định về Quan
hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh (Điều 339), Miễn việc thực hiện nghĩa
5
cho việc đã giao kết hợp đồng bảo lãnh để yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ
bảo lãnh. Như vậy, rủi ro cho bên nhận bảo lãnh là rất cao. Do đó, khi lựa chọn
6
hình thức của hợp đồng bảo lãnh, các bên cần cân nhắc về quyền lợi, nghĩa vụ của
2.
các bên để có thể lựa chọn ra hình thức phù hợp nhất.
Phạm vi bảo lãnh(Điều 336 Bộ luật Dân sự 2015)
So với quy định về phạm vi bảo lãnh tại Điều 363 BLDS 2005, quy định này
tại Điều 336 của BLDS 2015 được phân ra thành các khoản cụ thể rất chi tiết và
•
ghi nhận một số điểm mới, cụ thể là:
Thứ nhất, theo quy định tại BLDS 2015 thì nghĩa vụ bảo lãnh ngoài việc bao gồm
cả tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại (như theo quy định tại
BLDS 2005) thì còn bao gồm cả lãi trên số tiền chậm trả, trừ trường hợp có thỏa
thuận khác. Như vậy, theo quy định tại BLDS 2015 thì nếu các bên không có thỏa
thuận khác thì nghĩa vụ bảo lãnh ngoài việc bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, tiền
phạt, tiền bồi thường thiệt hại và lãi trên số tiền chậm trả. Quy định này có thể
•
được coi là đã hoàn thiện hơn trong việc bảo vệ quyền lợi của bên nhận bảo lãnh.
Thứ hai, BLDS 2015 ghi nhận quy định mới tại Khoản 3 Điều 336 : “Các bên có
thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh”. Đây cũng được coi là một điểm mới có những ưu điểm nhất
bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh còn có quyền yêu cầu người bảo lãnh thực
•
hiện nghĩa vụ bằng toàn bộ khối tài sản mà người bảo lãnh có.
Thứ ba, BLDS 2015 ghi nhận quy định mới tại Khoản 4 Điều 336: “Trường hợp
nghĩa vụ được bảo lãnh là nghĩa vụ phát sinh trong tương lai thì phạm vi bảo lãnh
không bao gồm nghĩa vụ phát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân
3.
bảo lãnh chấm dứt tồn tại”.
Miễn việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
So sánh hai quy định tại Khoản 1 Điều 368 BLDS 2005 và Khoản 1 Điều 341
BLDS 2015, ta có thể thấy rẳng trong trường hợp bên nhận bảo lãnh miễn việc
thực hiện nghĩa vụ cho bên bảo lãnh thì việc bên được bảo lãnh có phải thực hiện
nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh hay không được quy định rất khác nhau. Theo
quy định tại BLDS 2005 thì trong trường hợp này “bên được bảo lãnh vẫn phải
thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc
8
pháp luật quy định phải liên đới thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh” , còn theo quy định
tại BLDS 2015 thì “bên được bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên
nhận bảo lãnh, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác”.
Theo quan điểm cá nhân thì BLDS 2015 quy định như vậy là hoàn toàn hợp lý, phù
hợp với thực tiễn giao kết hợp đồng bảo lãnh cũng như thể hiện sự tôn trọng quyền
quyết định của bên nhận bảo lãnh. Nói như vậy là bởi khi người nhận bảo lãnh đã
quyết định việc miễn thực hiện nghĩa vụ cho bên bảo lãnh tức là bản thân người đó
không còn cần đến sự thực hiện nghĩa vụ của người bảo lãnh cũng như người được
bảo lãnh nữa. Nếu các bên không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật quy định thì
thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải đưa tài sản thuộc sở hữu của
mình để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh”.
Khác với quy định tại BLDS 2005, BLDS 2015 tại Điều 342 ghi nhận :
“2. Trường hợp bên bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo lãnh thì bên
nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thanh toán giá trị nghĩa vụ vi phạm
và bồi thường thiệt hại.”
Quy định này của BLDS 2015 đã thể hiện rõ quan điểm bảo lãnh là biện pháp
bảo đảm đối nhân, không phải là biện pháp bảo đảm đối vật – đảm bảo bằng bằng
tài sản cụ thể. Mặc dù BLDS 2005 đã thừa rằng bảo lãnh là một biện pháp bảo đảm
đối nhân ( khác biệt so với BLDS 1995), tuy nhiên với quy định như trên tại bộ
luật này dễ dẫn đến sự hiểu nhầm rằng bảo lãnh là một biện pháp bảo đảm đối vật
khi buộc người bảo lãnh phải đưa tài sản thuộc sở hữu tài sản của mình để thanh
toán cho bên nhận bảo lãnh trong trường hợp người bảo lãnh không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ bảo lãnh. Đến quy định tại Bộ luật Dân sự 2015,
nội dung này đã được sửa đổi và thể hiện một cách rõ ràng hơn bản chất của biện
pháp bảo lãnh là bảo đảm đối nhân. Theo đó, trường hợp bên bảo lãnh không thực
hiện đúng nghĩa vụ bảo lãnh thay vì phải “đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để
thanh toán cho bên nhận bảo lãnh” như theo quy định tại BLDS 2005 thì theo
BLDS 2015, nghĩa vụ này của bên bảo lãnh đã được chuyển thành quyền yêu cầu
10
của bên nhận bảo lãnh: “quyền yêu cầu bên bảo lãnh thanh toán giá trị nghĩa vụ vi
phạm và bồi thường thiệt hại”. Có thể nói đây là một bước tiến của BLDS 2015 vì
quy định như vậy là rất phù hợp, thể hiện được rõ bản chất của bảo lãnh – một biện
pháp bảo đảm đối nhân.
KẾT LUẬN
Chế định bảo lãnh được quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 được sửa đổi và bổ
sung theo hướng tích cực nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của các bên tham gia