Kiểm định mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết ở việt nam - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-------------------------------NGUYỄN MINH NHỰT

KIỂM ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA Ý KIẾN KIỂM
TOÁN VÀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN TRÊN BÁO CÁO
TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT Ở
VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN
MÃ SỐ: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. MAI THỊ HOÀNG MINH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế: “Kiểm định mối quan hệ giữa ý kiến
kiểm toán và quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết
ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc của bản thân. Nội dung,
kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và dựa theo số liệu thu
thập được. Các tài liệu, đoạn trích dẫn được sử dụng trong luận văn đều được dẫn
nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tác giả.
TP. HCM, tháng 12 năm 2016
Tác giả luận văn

Nguyễn Minh Nhựt



1.5

Ý nghĩa của nghiên cứu .................................................................................4

1.6

Kết cấu của luận văn ......................................................................................5

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN TRƯỚC ĐÂY ............................................................................. 6
2.1 Cơ sở lý thuyết ...................................................................................................6
2.1.1 Cơ sở lý thuyết về kiểm toán báo cáo tài chính và ý kiến kiểm toán.........6
2.1.1.1 Khái niệm và vai trò của báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính ......6
2.1.1.2 Các loại ý kiến của Báo cáo kiểm toán ................................................7
2.1.2 Cơ sở lý thuyết về quản trị lợi nhuận của công ty ...................................12
2.1.2.1 Định nghĩa quản trị lợi nhuận và hành vi quản trị lợi nhuận .............12
2.1.2.3 Cách thức tiến hành quản trị lợi nhuận ..............................................22
2.1.2.4 Định lượng hành vi quản trị lợi nhuận ..............................................26
2.2 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan trước đây ..........................................36
2.2.1 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa việc phát hành ý kiến kiểm toán và
việc quản trị lợi nhuận ...........................................................................................36
2.2.2 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa việc phát hành ý kiến kiểm toán bởi
công ty kiểm toán danh tiếng và việc quản trị lợi nhuận ......................................37


2.3 Giả thiết nghiên cứu.........................................................................................39
CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .............................................. 40
3.1



4.2

Ma trận hệ số tương quan giữa các biến ......................................................53

4.3

Phân tích hồi quy .........................................................................................56

4.3.1

Phân tích sự phù hợp của mô hình ........................................................56

4.3.2 Kiểm định giả thiết H1 ..............................................................................57
4.3.2 Kiểm định giả thiết H2 ..............................................................................58
4.3.3

Phân tích mối quan hệ của các biến kiểm soát .....................................59

CHƯƠNG V: KẾT LUẬN, HẠN CHẾ VÀ ĐỀ XUẤT ...................................... 61
5.1 Kết luận ............................................................................................................61
5.2 Hạn chế của bài nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo ..............62
5.2.1 Hạn chế của bài nghiên cứu ......................................................................62
5.2.1 Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo .........................................................63
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH SÁCH CÔNG TY TRONG MẪU NGHIÊN CỨU


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

HOSE

Hochiminh City Stock Sở Giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí
Exchange
Minh


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng

Trang

Bảng 3.1: Bảng tóm tắt các biến ............................................................................... 43
Bảng 4.1: Số lượng ý kiến kiểm toán trong giai đoạn nghiên cứu............................ 48
Bảng 4.2: Tổng hợp báo cáo kiểm toán bởi nhóm công ty kiểm toán ...................... 48
Bảng 4.3: Tổng hợp loại kiểm toán bởi các công ty kiểm toán không nằm trong
nhóm Big 4 ................................................................................................................ 48
Bảng 4.4: Tổng hợp loại kiểm toán bởi các công ty kiểm toán không nằm trong
nhóm Big 4 ................................................................................................................ 49
Bảng 4.5: Bảng phân tích phương sai ý kiến kiểm toán giữa 2 sàn HOSE
và HNX ..................................................................................................................... 50
Bảng 4.6: Bảng thống kê mô tả các biến của toàn mẫu ............................................ 51
Bảng 4.7: Bảng thống kê mô tả các biến dạng ý kiến không điều chỉnh .................. 51
Bảng 4.8: Bảng thống kê mô tả các biến dạng ý kiến điều chỉnh ............................. 52
Bảng 4.9: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến ................................................... 55
Bảng 4.10: Kết quả hồi quy mô hình phân tích ........................................................ 56
Bảng 4.11: Bảng kỳ vọng dấu và kết quả hồi quy .................................................... 57


1

nhưng không có báo cáo kiểm toán đính kèm theo, một số BCTC đã được kiểm toán
thì báo cáo kiểm toán cũng chưa đảm bảo chất lượng điển hình như vụ kết quả kiểm


2

toán chưa chính xác của các công ty kiểm toán độc lập đối với công ty cổ phần Bông
Bạch Tuyết.

1.1.2 Lý do lý luận
Trong xu thế phát triển của nền kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán
Việt Nam nói riêng, nhu cầu về các thông tin về tình hình tài chính của các công ty
niêm yết là một nhu cầu vô cùng thiết yếu đối với người sử dụng BCTC. Tuy nhiên,
do sự mâu thuẫn lợi ích giữa các bên mà chủ yếu là mâu thuẫn lợi ích giữa nhà đầu
tư và công ty muốn thu hút đầu tư mà phần nào đó BCTC được công bố đã bị bóp
méo theo ý muốn của người lập và trình bày. Lý thuyết thông tin bất cân xứng chỉ ra
rằng nhà quản lý thường có xu hướng cung cấp thông tin có lợi cho họ và các đối
tượng khác không có điều kiện tiếp cận thông tin gốc nên khả năng sẽ đưa ra quyết
định sai. Thông qua hình thức này hay hình thức khác nhằm mục đích quản trị lợi
nhuân, nhà quản lý sẽ cung cấp thông tin không đúng cho người sử dụng BCTC.
Ngành kiểm toán ra đời nhằm giảm thông tin bất cân xứng đặc biệt là thông
tin công bố về lợi nhuận, một trong những chỉ tiêu quan trọng thu hút sự quan tâm
của các nhà đầu tư. Nhằm đảm bảo thông tin về lợi nhuận trong kỳ đáng tin cậy và
có thể sử dụng được, vai trò của kiểm toán viên ở đây là phải phát hiện và điều chỉnh
tối thiểu hóa các khoản điều chỉnh mà nhà quản lý có xu hướng thực hiện để đạt được
mức lợi nhuận mong muốn trong quá trình kiểm toán của mình. Người sử dụng luôn
kỳ vọng báo cáo kiểm toán là một sự đảm bảo tuyệt đối về tình hình tài chính của
doanh nghiệp. Họ cho rằng BCTC đã được kiểm toán phải chính xác. Nhưng kiểm
toán là công việc có những hạn chế tiềm tàng như thông tin kế toán không thể chính
xác do những ước tính kế toán; hay nếu doanh nghiệp cố tình gian lận, giấu thông tin,

của các công ty niêm yết có công ty kiểm toán trong nhóm Big4 có dẫn đến khả năng
sẽ nhận ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần cao hơn các công
ty niêm yết có công ty kiểm toán không phải trong nhóm Big4 hay không?
Từ đó, đề tài đưa ra các mục tiêu nghiên cứu như sau:
-

Thứ nhất, nghiên cứu các bài viết, công trình về việc quản trị lợi nhuận trong
các công ty niêm yết, từ đó đưa ra các giả thiết nghiên cứu.

-

Thứ hai, khảo sát và phân tích mối quan hệ giữa các loại ý kiến kiểm toán và
việc quản trị lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Việt Nam.


4

-

Thứ ba, nghiên cứu khả năng nhận ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp
nhận toàn phần đối với việc lựa chọn công ty kiểm toán trong nhóm Big4 khi
công ty niêm yết có hành vi quản trị lợi nhuận.

1.3

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là mối quan hệ giữa các loại ý kiến kiểm toán và hành

vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

5

nghiên cứu, tác giả đưa ra bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa các ý kiến
kiểm toán và quản trị lợi nhuận của các công ty. Từ đó giúp người đọc BCTC có một
số nhận định ban đầu khi tiếp cận báo cáo kiểm toán.

1.6

Kết cấu của luận văn
Luận văn được thực hiện bao phần mở đầu, danh mục các từ viết tắt, danh mục

các bảng, kết luận và được kết cấu bởi 5 chương chính:
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN.
Trình bày các công trình nghiên cứu trước đây có liên quan đến vấn đề nghiên
cứu của đề tài làm cơ sở cho việc hình thành cơ sở lý thiết của mô hình nghiên cứu.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN.
Trình bày cơ sở lý thuyết về báo cáo kiểm toán và các loại ý kiến kiểm toán,
cơ sở lý thuyết về hành vi quản trị lợi nhuận. Đưa ra giả thiết cho bài nghiên cứu.
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU.
Trình bày chi tiết về phương pháp nghiên cứu gồm: mô hình nghiên cứu và
các biến của mô hình, điều kiện và quy trình chọn mẫu, cách thu thập nguồn dữ liệu
đầu vào, cách xác định giá trị các biến và các phương pháp định lượng được sử dụng
để phục vụ việc nghiên cứu.
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
Trình bày kết quả kỳ vọng lý thuyết về mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và
hành vi quản trị lợi nhuận của công ty niêm yết, sau đó tiến hành so sánh và thảo luận
về kết quả k vọng lý thuyết với kết quả đạt được từ mô hình.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, HẠN CHẾ VÀ KIẾN NGHỊ
Trình bày tóm tắt các kết quả mà nghiên cứu đạt được cùng với các hạn chế
của nghiên cứu và đề xuất những hướng nghiên cứu tiếp theo.

BCTC là loại báo cáo bằng văn bản do kiểm toán viên và công ty kiểm toán lập và


7

công bố để nêu rõ ý kiến chính thức của mình về BCTC của một đơn vị đã được kiểm
toán.
Salehi và Abedini (2008) cho rằng báo cáo kiểm toán là một phương tiện
truyền thông giữa kiểm toán viên và người sử dụng BCTC, nó cho thấy phần quan
trọng nhất của hoạt động kiểm toán và thể hiện kết quả của việc đánh giá BCTC đến
người sử dụng. Đối với kiểm toán viên, báo cáo kiểm toán là tài liệu trình bày các kết
luận sau cùng về BCTC được kiểm toán, nên nó phải đúc kết được toàn bộ công việc
mà họ đã tiến hành. Đối với công chúng, báo cáo kiểm toán là sản phẩm cuối cùng
quan sát được từ một quá trình không thể quan sát nên nó chứa thông tin cốt yếu cho
những người sử dụng BCTC để đưa ra những quyết định kinh tế (Butler và cộng sự,
2004).

2.1.1.2 Các loại ý kiến của Báo cáo kiểm toán
Nhằm mục tiêu hướng đến hòa hợp và hội tụ với quốc tế trong lĩnh vực kế toán
và kiểm toán, Bộ Tài chính ban hành 37 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam mới kèm
theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC ngày 06 tháng 12 và có hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2014. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của tác giả là các công ty niêm yết trên
sàn chứng khoán từ 2011 – 2015 nên báo cáo kiểm toán được thu thập cho bài nghiên
cứu chịu sự chi phối của chuẩn mực kiểm toán trước đây và chuẩn mực kiểm toán
sau này. Phần này trình bày các loại ý kiến của báo cáo kiểm toán theo hai hệ thống
chuẩn mực kiểm toán:
 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam trước đây (Ban hành và công bố theo Quyết định
120/1999/QĐ-BTC ngày 27 tháng 09 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và
hết hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014)
Theo đoạn 34 VSA 700 trước đây, căn cứ kết quả kiểm toán, kiểm toán viên

+ ảnh hưởng đến tổng thể BCTC thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến không chấp
nhận.


9

c) Đối với trường hợp tồn tại sự kiện không chắc chắn xảy ra trong tương lai,
nằm ngoài khả năng kiểm soát của đơn vị được kiểm toán và kiểm toán viên, nếu sự
kiện đó được xem là có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC thì kiểm toán viên đưa ra ý
kiến chấp nhận từng phần dạng tùy thuộc vào.
Bên cạnh việc đưa ra ý kiến về BCTC, kiểm toán viên cũng có thể trình bày
đoạn nhấn mạnh về một số yếu tố ảnh hưởng không trọng yếu đến BCTC nhưng
không làm thay đổi ý kiến của kiểm toán viên. Các vấn đề thường được kiểm toán
viên lưu ý là khi thông tin đính kèm với BCTC không nhất quán với BCTC, hoặc khi
khách hàng còn tồn tại yếu tố không chắc chắn trọng yếu liên quan đến các sự kiện
hoặc điều kiện gây ra nghi ngờ về giả định hoạt động liên tục và thông tin này đã
được công bố đầy đủ trong phần thuyết minh BCTC…
 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành (Ban hành kèm theo Thông tư số
214/2012/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 của Bộ Tài chính và có hiệu lực
thi hành kể từ ngày 01/01/2014)
Chuẩn mực kiểm toán hiện hành gồm 37 chuẩn mực, trong đó có ba chuẩn
mực quy định về báo cáo kiểm toán và ý kiến kiểm toán:
- VSA 700: Hình thành ý kiến kiểm toán và báo cáo kiểm toán về BCTC.
- VSA 705: Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần
- VSA 706: Đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” và “Vấn đề khác” trong báo cáo
kiểm toán về BCTC.
VAS 700 hiện hành quy định ý kiến kiểm toán gồm hai dạng:
Ý kiến chấp nhận toàn phần khi kiểm toán viên kết luận rằng BCTC được lập,
trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC đựợc
áp dụng.

thì kiểm toán viên phải trình bày thêm đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” trong báo cáo
kiểm toán, để thể hiện là kiểm toán viên đã thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán
thích hợp cho thấy vấn đề đó không bị sai sót trọng yếu trong BCTC. Đoạn “Vấn đề


11

cần nhấn mạnh” chỉ được đề cập đến các thông tin đã được trình bày hoặc thuyết
minh trong BCTC để không làm giảm tính hữu hiệu của nó như:
- Sự không chắc chắn liên quan tới kết quả trong tương lai của các vụ kiện tụng
hoặc các quyết định của cơ quan quản lý;
- Việc áp dụng một chuẩn mực kế toán mới trước ngày có hiệu lực (nếu được
phép) mà việc áp dụng đó có ảnh hưởng lan tỏa đối với BCTC;
- Một biến cố lớn đã ảnh hưởng hoặc tiếp tục có ảnh hưởng đáng kể đến tình
hình tài chính của đơn vị.
Nếu kiểm toán viên thấy cần phải trao đổi về một vấn đề khác ngoài các vấn
đề đã được trình bày hoặc thuyết minh trong BCTC, mà theo xét đoán của kiểm toán
viên, vấn đề khác đó là thích hợp để người sử dụng hiểu rõ hơn về cuộc kiểm toán,
về trách nhiệm của kiểm toán viên hoặc về báo cáo kiểm toán, đồng thời pháp luật và
các quy định cũng không cấm việc này thì kiểm toán viên phải trình bày về vấn đề
đó trong báo cáo kiểm toán, với tiêu đề “Vấn đề khác” hoặc “Các vấn đề khác”.
So sánh hai hệ thống chuẩn mực này về phương diện ý kiến kiểm toán, ta thấy
có hai thay đổi cơ bản:
- Thứ nhất, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành gộp ý kiến ngoại trừ, ý
kiến không chấp nhận và ý kiến từ chối đưa ra ý kiến thành dạng ý kiến không phải
là ý kiến chấp nhận toàn phần. Như vậy chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành
phân loại ý kiến kiểm toán thành hai loại chính là ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn
phần và ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần.
- Thứ hai, khi có yếu tố trọng yếu nhưng không chắc chắn liên quan đến sự
kiện có thể xảy ra trong tương lai, nằm ngoài khả năng kiểm soát của đơn vị và kiểm

2.1.2.1 Định nghĩa quản trị lợi nhuận và hành vi quản trị lợi nhuận
a. Quản trị lợi nhuận
Các học giả không có sự đồng thuận trong việc định nghĩa quản trị lợi nhuận,
có ít nhất có ba quan điểm:
(1)

Quản trị lợi nhuận là “quá trình thực hiện các bước có chủ ý trong khuôn khổ
những nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi để mang đến một mức độ


13

mong đợi về lợi nhuận được báo cáo” (Davidson, Stickney và Weil (1987),
được trích dẫn trong Schipper (1989) trang 92)
(2)

Quản trị lợi nhuận là “một sự can thiệp có mục đích trong quá trình cung cấp
thông tin tài chính ra bên ngoài nhằm đạt được những lợi ích cá nhân” “Một sự
mở rộng nhỏ cho định nghĩa này là sẽ bao gồm hành vi quản trị lợi nhuận
“thực”, đạt được bằng việc quyết định thời gian đầu tư hay tài trợ vốn để thay
đổi lợi nhuận được báo cáo hoặc một số bộ phận của nó” (Schipper 1989, trang
92).

(3)

“Hành vi quản trị lợi nhuận xuất hiện khi nhà quản lý sử dụng xét đoán trong
việc lập BCTC và trong việc thực hiện các giao dịch để thay đổi BCTC nhằm
đánh lừa những bên có quyền lợi về tình hình kinh tế của công ty hoặc ảnh
hưởng đến những kết quả của các hợp đồng mà phụ thuộc vào những số liệu
được báo cáo” (Healy và Wahlen 1999, trang 368).

các quyết định quản lý là phương tiện để các nhà quản lý tiết lộ cho các nhà đầu tư
những mong đợi cá nhân về dòng tiền trong tương lai của công ty.
Các định nghĩa cho rằng hành vi quản trị lợi nhuận được thực hiện nhằm mục
đích che dấu tình trạng đang xấu đi, nhưng cách dùng từ “đánh lừa” trong định nghĩa
của Healy và Wahlen (1999) ngăn cản khả năng là hành vi quản trị lợi nhuận có thể
xảy ra nhằm mục đích tăng cường các dấu hiệu trong báo cáo lợi nhuận. Ví dụ như
khi một nhà quản lý khai thiếu thu nhập bằng cách tăng các khoản dự phòng đối với
các khoản nợ xấu, các khoản hàng tồn kho lỗi thời. Với thông tin về các khoản lập
dự phòng trên thông thường là một dấu hiện để nhà đầu tư phân biệt một doanh nghiệp
yếu và một doanh nghiệp mạnh. Tuy nhiên, hành động trên của nhà quản lý nhằm
đánh lừa nhà đầu tư bởi vì nhà quản lý có thể đang để dành thu nhập cho những kỳ
sau. Điều này có thể là do các cam kết về thưởng trong định nghĩa thứ ba. Để giải
thích, các nghiên cứu trước không thể phân biệt liệu rằng kinh nghiệm của nhà quản
lý về các quyết định là để đánh lừa hay để thông tin, kết luận điển hình trong các
nghiên cứu là các khoản khuyến khích đưa đến hành vi quản trị lợi nhuận trên thực
tế (de facto opportunistic earning management). Theo định nghĩa thứ ba, hành vi quản


15

trị lợi nhuận nghiên nhiều về gian lận. Gian lận được định nghĩa là “một hoặc nhiều
hành vi cố ý được thiết kế để đánh lừa người khác và gây cho họ những tổn thất về
tài chính” (National Association of Certified Fraud Examiners, 1993). Do đó, khác
biệt chính giữa định nghĩa thứ ba và gian lận là những bên có lợi ích có thể lường
trước hành vi của nhà quản lý và đàm phán những điều khoản trong hợp đồng.
Có thể nói rằng, định nghĩa của quản trị lợi nhuận tập trung vào mục đích, ý
định của nhà quản trị, đó là khó khăn đáng kể để tiếp cận, quan sát (Dechow &
Skinner, 2000; Lo, 2008; Wiedman, 2002). Vì tính phức tạp, trừu tượng, đa dạng và
khó nắm bắt đó mà các cuộc thảo luận về việc đo lường quản trị lợi nhuận vẫn đang
tiếp tục.

phương pháp trích trước tùy ý để doanh thu dịch chuyển giữa các kỳ kế toán hoặc
trong việc trì hoãn chi tiêu (Jones, 1991; Dechow et al., 1995). Cách tiếp cận này
phân loại các khoản trích trước vào hai thành phần: trích trước tùy ý và không tùy ý
hay còn gọi là biến kế toán dồn tích điều chỉnh được (Discretionary Accruals) và
không điều chỉnh được (Non – Discretionary Accruals). Trích trước không tùy ý là
những phần được tạo ra từ các hoạt động bình thường của công ty mà không có sự
can thiệp của nhà quản trị. Trích trước tùy ý phải chịu tác động của nhà quản lý, nó
thể hiện mức độ điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp do nhà quản trị lựa chọn và
vận dụng các phương pháp kế toán, sử dụng các ước tính kế toán và các giao dịch nội
bộ... Như vậy biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh chính là lợi nhuận có được bằng
việc vận dụng các phương pháp kế toán – chính vì vậy nó được xem là đại diện cho
quản trị lợi nhuận. Tuy nhiên, thách thức lớn đối với các nhà nghiên cứu sử dụng
phương pháp trích trước để phát hiện quản trị lợi nhuận là khả năng của các mô hình
phân loại riêng biệt một cách chính xác các khoản trích trước vào các khoản trích
trước tùy ý và không tùy ý.
Từ đó, tác giả rút ra định nghĩa về hành vi quản trị lợi nhuận như sau:
Định nghĩa chung: hành vi quản trị lợi nhuận là hiện tượng mà nhà quản trị
sử dụng các phương pháp kế toán nhằm điểu chính biến kế toán dồn tích để đạt được
lợi nhuận như mong muốn.


17

Trên đây là những định nghĩa và cách tiếp cận đã được các nhà nghiên cứu
trước tiến hành tìm hiểu, tiếp cận, trình bày và đã được công nhận cũng như sử dụng
khá rộng rãi trong các nghiên cứu liên quan đến quản trị lợi nhuận mà tác giả đã tìm
hiểu và hệ thống lại. Từ đó có thể thấy rằng quản trị lợi nhuận không phải là một khái
niệm mới mẻ và xa lạ, mà từ lâu đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, đồng thời
cũng cho thấy đây là một vấn đề phức tạp, khó khăn trong cách tiếp cận và định nghĩa
chính xác, cụ thể và vẫn luôn là đề tài gây tranh cãi, thu hút sự bàn luận nhằm đưa ra


2.1.2.2.2 Cam kết thưởng
Các nghiên cứu kiểm tra giả thuyết về tiền thưởng của Healy (1985), Gaver et
al. (1995), Holthausen, Larker and Sloan (1995) cung cấp bằng chứng nhất quán với
việc nhà quản lý thay đổi thu nhập trên báo cáo để gia tăng tiền thưởng. Trừ nghiên
cứu của Healy (1985), những nghiên cứu này cung cấp bằng chứng nhất quán rằng
nhà quản lý giảm thu nhập trên báo cáo để gia tăng tiền thưởng trong tương lai. Thêm
vào đó, Holthausen et al. (1995) tìm thấy một ít bằng chứng về việc nhà quản lý tăng
thu nhập và đề xuất rằng bằng chứng về thu nhập tăng thêm trong nghiên cứu của
Healy (1985) được kết luận bởi thí nghiệm của ông.
Cam kết thưởng là một động cơ mạnh khuyến khích nhà quản lý có hành vi
quản trị lợi nhuận. Hợp đồng cam kết thưởng nhằm cân bằng giữa hành vi của nhà
quản lý với lợi ích của cổ đông vì lợi ích của hai nhóm này có thể xung đột. Hợp đồng
cam kết thưởng cho nhà quản lý có thể khá phức tạp.
Tổng mức lương thưởng cho nhà quản lý bao gồm ba thành phần, tiền lương,
trợ cấp hưu trí và chăm sóc sức khỏe, và tiền thưởng. Ba thành phần này phụ thuộc
lẫn nhau, nhưng thành phần thứ ba có liên quan cụ thể đến các chức năng kiểm soát
quản lý. Trong đó, mối quan hệ giữa tiền thưởng và hành vi điều chỉnh lợi nhuận
được thảo luận chính.
Phương án tiền thưởng có thể phân loại thành kế hoạch ngắn hạn và kế hoạch
dài hạn. Kế hoạch tiền thưởng ngắn hạn dựa trên kết quả trong năm nay. Kế hoạch
thưởng dài hạn dựa trên kết quản trong hoạt động dài hạn và có liên quan đến giá của
cổ phiếu phổ thông của công ty. Một nhà quản lý có thể kiếm được tiền thưởng theo


19

cả hai kế hoạch. Hiện kim cho các khoản thưởng ngắn hạn và quyền chọn mua cổ
phiếu của công ty khi thưởng dài hạn.
Có sự khác biệt lớn trong tỷ lệ các khoản tiền thưởng so với lương cơ bản.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status