ĐẶT VẤN ĐỀ
Vi rút viêm gan B (HBV: Hepatitis B virus) thuộc họ Hepadnaviridae,
chủng Hepadna virus, có bộ gen là DNA. Nhiễm HBV là một trong những
bệnh truyền nhiễm phổ biến nhất và là nguyên nhân hàng đầu gây xơ gan và
ung thư gan.
HBV gây viêm gan cấp và mạn, trong đó 90% bệnh nhân viêm gan cấp
có khả năng hồi phục hoàn toàn. Trong khi đó hơn 25% bệnh nhân viêm gan
B mạn tính tiến triển thành xơ gan và ung thư gan.
Để ngăn chặn quá trình tiến triển của bệnh thì việc điều trị tích cực ngay
ở giai đoạn viêm gan B mạn tính giữ vai trò rất quan trọng. Mục tiêu điều trị
hướng tới là loại bỏ bền vững sự nhân lên của HBV, cải thiện tình trạng viêm
nhiễm tế bào gan. Trước đây việc đánh giá hiệu quả điều trị chủ yếu căn cứ vào
nồng độ HBV- DNA trong máu bệnh nhân. Mục đích điều trị đạt được khi
lượng HBV- DNA dưới mức có thể phát hiện được. Tuy nhiên nhiều nghiên
cứu cho thấy rất nhiều bệnh nhân viêm gan B mạn tính vẫn tiến triển thành xơ
gan và ung thư gan mặc dù nồng độ HBV- DNA dưới ngưỡng phát hiện.
Những nghiên cứu gần đây đã chứng tỏ yếu tố quyết định lui bệnh hoàn
toàn là cccDNA trong tế bào gan. Vì cccDNA phản ánh số lượng tế bào gan
bị nhiễm vi rút. Tuy nhiên hiện nay chưa có kỹ thuật nào định lượng được
cccDNA. Nhưng các nghiên cứu chứng minh rằng có mối tương quan giữa
cccDNA với nồng độ HBsAg trong máu [25].
Định lượng HBsAg máu đã trở thành trọng tâm của các nghiên cứu gần
đây. Kể từ nghiên cứu đầu tiên của Thomssen công bố lần đầu tiên năm 1970
và được phát triên bởi Janssen 1994 trong việc sử dụng nồng độ HBsAg để
theo dõi đáp ứng điều trị, hiện nay đã có hơn 100 hội nghị thảo luận về vai trò
của HBsAg trong viêm gan B mạn. Nồng độ HBsAg phản ánh số lượng tế bào
gan bị nhiễm vi rút từ đó giúp cho thầy thuốc trong việc chẩn đoán cũng như
tiên lượng tiến triển bệnh và theo dõi hiệu quả điều trị.
Để làm rõ hơn vai trò của nồng độ HBsAg, HBV DNA trong bệnh lý và
Năm 1977 phát hiện được kháng nguyên (KN) delta ở bệnh nhân viêm
gan B mạn tính. KN này được xác nhận là khác với KN của HBV, đó là KN
vi rút viêm gan D (HDV).
Tới năm 1980, nhờ thực nghiệm trên khỉ người ta đã chứng minh sự
truyền nhiễm của HDV phụ thuộc HBV, sau này xác định được HDV có bộ
gen là RNA và vỏ HBsAg.
1.2. TÌNH HÌNH NHIỄM VI RÚT VIÊM GAN B TRÊN THẾ GIỚI VÀ
VIỆT NAM
Ph©n bè tÇn suÊt nhiÔm HBVMT
trªn thÕ giíi
TÇn xuÊt nhiÔm HBsAg (%)
• 350 triÖu ng-êi mang HBVMT
• XÕp thø 9 nguyªn nh©n g©y tö vong
• 75% ng-ßi mang HBV lµ ch©u ¸
8:
cao
2-7: trung b×nh
nhau, và là thành phần bao ngoài rỗng của vi rút được sản xuất dư thừa trong
quá trình nhân lên. Các hạt này có rất nhiều trong huyết thanh (106 - 109
hạt/ml), tỷ lệ số hạt HBsAg/hạt Dane là 10.000/1 [2].
Hình 1.2: Các dạng cấu trúc của HBV dưới kính hiển vi điện tử
Hình 1.3: Sơ đồ cấu trúc của HBV
1.3.1.1. Vỏ bao ngoài của vi rút
Được cấu tạo bởi 3 chuỗi polypeptide:
- Chuỗi có kích thước ngắn nhất có trọng lượng phân tử 25 kilo Dalton
(kDa), chiếm nhiều nhất trong thành phần bao ngoài nên được gọi là
polypeptide chính. Đây chính là kháng nguyên HBsAg với 5 quyết định
kháng nguyên khác nhau: a đặc hiệu chung cho nhóm, d/y và w/r đặc hiệu cho
phụ tuyp. Kết hợp của 5 quyết định kháng nguyên này tạo thành nhiều phụ
tuyp khác nhau, trong đó có 4 phụ tuyp chủ yếu là adw, adr, ayw, ayr. Đến
nay các kết quả nghiên cứu cho thấy việc phân định các phụ tuyp có tầm quan
trọng đối với nghiên cứu vi rút học, pháp y và dịch tễ học.
- Chuỗi polypeptide trung bình có cấu trúc gồm toàn bộ chuỗi ngắn
(HBsAg) cộng thêm một đoạn 55 axit amin, trọng lượng phân tử 29 kDa.
- Chuỗi polypeptide lớn có cấu trúc gồm toàn bộ chuỗi trung bình cộng
thêm một đoạn có từ 108-119 axit amin, trọng lượng phân tử 33 kDa, có tính
sinh miễn dịch cao hơn so với HBsAg. Chuỗi lớn là thành phần quan trọng
của hạt vi rút hoàn chỉnh.
1.3.1.2. Vỏ capxit
Được cấu thành bởi 2 loại chuỗi polypeptide là polypeptide lõi và tiền
lõi. Chuỗi polypeptide ngắn (polypeptide lõi), trọng lượng phân tử 22 kDa,
chính là kháng nguyên lõi của vi rút, kí hiệu là HBcAg (Hepatitis B core
ngược mà còn tham gia vào việc tạo ra phần capxit bao bọc bên ngoài cấu
trúc RNA tiền genome.
Gen X mã hóa cho một polypeptide có khoảng 145-154 axit amin tùy
theo từng phụ tuyp. Protein X còn có liên quan đến sự điều hòa quá trình tăng
trưởng của tế bào nên có thể có vai trò trong cơ chế sinh ung thư của tế bào
gan bị nhiễm.
1.3.2. Kiểu gen của HBV và vai trò sinh bệnh học
Okamoto là tác giả đầu tiên đưa ra phân loại kiểu gen của HBV vào
năm 1988. Bằng phương pháp so sánh từng cặp và cây phân loại sinh học dựa
trên bản giải trình tự gen toàn bộ phân tử HBV – DNA, Okamoto và cộng sự
đã phân loại được 4 kiểu gen của HBV kí hiệu là: A, B, C, D. Các kiểu gen
này có tỷ lệ khác biệt nucleotide trên toàn bộ phân tử HBV-DNA lớn hơn 8%,
hay tỷ lệ đồng dạng nucleotide nhỏ hơn 92% [40].
Năm 1994 Norder và cộng sự xác định được thêm 2 kiểu gen nữa là E
và F. Tiếp theo đó, các nhà nghiên cứu cùng nhóm với Norder xác định thêm
được kiểu gen G, H. Như vậy cho đến nay có 8 kiểu gen của HBV đã được
phát hiện, kí hiệu từ A đến H.
Các kiểu gen của HBV có sự phân bố khác nhau giữa các vùng địa lý
trên thế giới. Kiểu gen A phân bố chủ yếu ở Bắc Âu và Bắc Mỹ. Kiểu gen B,
C gặp chủ yếu ở châu Á, đặc biệt là Đông Á. Vùng Nam Âu, Địa Trung Hải,
một số nước Đông Âu và trung cận đông chủ yếu gặp kiểu gen D. Kiểu gen E
phân bố chủ yếu ở châu Phi, kiểu gen F ở Nam Mỹ, kiểu gen H ở vùng trung
Mỹ. Kiểu gen G mới phát hiện được trên một vài bệnh nhân người Âu và Bắc
Mỹ, nguồn gốc kiểu gen này hiện chưa biết chính xác.
Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương là khu vực tập trung chủ yếu kiểu
gen B và C. Nghiên cứu của JH. Kao tại Đài Loan trên 270 bệnh nhân cho
thấy kiểu gen B chiếm tỷ lệ 57%, kiểu gen C là 32% [31]. Nghiên cứu của
X.Ding tại Trung Quốc (2001) kết quả cho thấy kiểu gen B chỉ chiếm 17,2%,
Vit Nam u nhn thy cú s khỏc bit gia kiu gen B, C. Kiu gen B cú t
l chuyn i huyt thanh vi khỏng nguyờn hũa tan HBeAg cao hn v xy
ra sm hn so vi kiu gen C. Trong khi ú kiu gen C cú t l cao hn trờn
nhúm bnh nhõn x gan v ung th gan, kiu gen B cú t l cao hn nhúm
bnh nhõn nhim HBV khụng triu chng.
1.4. CC TEST HUYT THANH CA HBV
1.4.1. Khỏng nguyờn b
mt HBsAg
v khỏng
thHBV
khỏng HBsAg (anti HBS)
cấu
tạo
của
Hạt tử Dane
hoàn chỉnh
Vỏ bọc ngoài:
HBsAg
Lõi là
nucleocapsid
chứa DNA
Cấu trúc hình
ống: HBsAg
SX d- thừa
Hạt tử Dane
hoàn chỉnh bị
cắt đi 1 phần
thể cùng âm tính hoặc cùng dương tính. Giai đoạn cửa sổ thì cả hai dấu ấn
chưa xuất hiện. Trong giai đoạn sau của tiến trình nhiễm HBV, nhất là khi
bệnh bùng phát có HBsAg (+) cơ thể tạo ra kháng thể anti-HBs (+) nhưng
chưa đủ mạnh để làm HBsAg (-) hoặc HBsAg trở thành âm tính một cách tự
nhiên hay do tác động của đột biến trên vùng gen S và cơ thể không tạo antiHBs. Khi HBsAg và anti-HBs cùng âm tính, để chẩn đoán cần làm anti-HBc
và HBV- DNA [30].
1.4.2. Kháng nguyên lõi HBcAg và kháng thể kháng HBcAg (anti -HBc)
HBcAg là kháng nguyên cấu trúc của phần nucleocapsid, vì HBcAg
không có đoạn peptide tín hiệu như HBeAg nên không được bài tiết ra khỏi tế
bào gan. Do HBcAg chỉ xuất hiện trong tế bào gan nên chỉ có thể phát hiện
được khi làm sinh thiết gan. Nếu trong tế bào gan có HBcAg thì bao giờ trên
màng tế bào cũng có HBsAg và nồng độ DNA polymerase luôn luôn tăng cao.
Anti-HBc bao gồm hai loại: IgM anti-HBc và IgG anti-HBc, trong đó
IgM anti-HBc là kháng thể xuất hiện sớm nhất và thường được sử dụng để
chẩn đoán tình trạng nhiễm HBV cấp tính. Trong giai đoạn sau của tiến trình
nhiễm HBV, khi nồng độ IgM anti-HBc giảm dần thì nồng độ IgG anti-HBc
tăng dần. IgG anti-HBc thường được sử dụng để xác định tiền sử có nhiễm
HBV nhất là trong trường hợp có HBsAg (-). Tuy nhiên trong một số trường
hợp có đợt bùng phát tái phát trên bệnh nhân viêm gan mạn tính thì IgM có
thể dương tính, chính vì vậy có thể nhầm lẫn giữa đợt tiến triển của viêm gan
mạn với viêm gan cấp tính [33].
1.4.3. Kháng nguyên hòa tan HBeAg và kháng thể kháng HBeAg (Anti – HBe)
1.4.3.1. HBeAg
HBeAg không có chức năng tạo cấu trúc HBV, tuy nhiên trên thực tế
được sử dụng làm yếu tố tiên lượng bệnh và đánh giá hiệu quả điều trị. Đến
nay còn nhiều đặc tính sinh học của HBeAg cần được tiếp tục nghiên cứu.
HBeAg được phát hiện 1970 và đây được coi là bước ngoặt giúp hiểu biết
diễn biến tự nhiên của HBV và lây nhiễm.
đợt men gan ALT tăng cao kịch phát thường là dấu hiệu báo trước của chuyển
đổi huyết thanh với HBeAg [24]. Tuy nhiên không phải tất cả các trường hợp
HBeAg (-) đều có nghĩa là bệnh không tiến triển. Đặc biệt trên những bệnh
nhân xuất hiện đột biến ở một số vị trí trên gen X và vùng Core-promoter của
HBV DNA, các đột biến này tuy gây ức chế sự tổng hợp HBeAg nhưng lại
kích thích quá trình nhân lên của HBV- DNA.
1.4.3.2. Anti- HBe
Xuất hiện muộn, ở giai đoạn bình phục. Khi có kháng thể anti- HBe
trong máu là dấu hiệu chứng tỏ bệnh đang được cải thiện.
Thông thường khi anti-HBe (+) thì HBeAg (-). Tuy nhiên nếu nồng độ
anti-HBe chưa đủ mạnh thì có thể tồn tại song hành dương tính cả HBeAg và
anti-HBe. Tương tự như vậy trong nhiều trường hợp có thể gặp cả HBeAg và
anti-HBe đều âm tính. Nếu HBeAg (-) và anti-HBe (+) chứng tỏ tiến trình
bệnh thuyên giảm và mức độ nhân lên của vi rút đã giảm xuống. Tần suất
chuyển đổi huyết thanh với HBeAg và xuất hiện anti-HBe tự nhiên vào
khoảng 10% đến 15% một năm, tỷ lệ này có thể cao hơn trên quần thể bệnh
nhân được điều trị bằng thuốc kháng vi rút. Tuy nhiên theo một số nghiên cứu
thì quá trình chuyển đổi huyết thanh do dùng thuốc kháng vi rút không bền
vững bằng quá trình chuyển đổi tự nhiên. Các nghiên cứu trên bệnh nhân
Trung Quốc cho thấy có thể xảy ra hiện tượng đảo chiều từ HBeAg (-) thành
HBeAg (+) và từ anti-HBe (+) thành anti-HBe (-), đặc biệt trên nhóm bệnh
nhân đồng tính, người điều trị hóa chất và dùng corticoid [55], [31].
1.5. QUÁ TRÌNH NHÂN LÊN CỦA HBV
Hình 1.6: Quá trình nhân lên của HBV
Cũng như tất cả các vi rút khác, quá trình nhân lên của HBV trải qua 7
1.5.4. Giai đoạn tổng hợp RNA
Dưới tác động của RNA polymerase II của tế bào gan, phân tử RNA
tiền genome có chiều dài 3,5 kb được tổng hợp từ bản khuôn của phân tử cccDNA. Tiền genome RNA lớn hơn genome của HBV (3,2 kb), tuy nhiên đoạn
thừa ở hai đầu sẽ tạo nên cấu trúc R (redundant) bao gồm từ 150-200
nucleotide và một trình tự DR 1 (derect repeat 1). Từ đây tiền genome RNA
sẽ di chuyển ra khỏi nhân tế bào gan và là khuôn mẫu để tổng hợp nên sợi
DNA (-) của bộ gen HBV dưới tác động của Reverse-transcriptase. Ngoài ra ở
đầu 5’ của tiền genome RNA còn có một cấu trúc tạo tín hiệu “ὲ” chuyên biệt
cho HBV để khởi phát việc tạo vỏ nuclecapside trong quá trình nhân lên của
HBV-DNA, tiền genome RNA cũng là nơi mã hóa cho các protein của capsid
và men polymerase của HBV. Ngoài tiền genome RNA có chiều dài 3,5kb, thì
một số phân tử RNA thông tin khác có chiều dài tương ứng 2,4 kb; 2,1 kb;
0,5 kb cũng được tổng hợp từ bán khuôn của ccc-DNA, các mRNAs này có
chức năng tổng hợp nên các protein còn lại của HBV [47].
1.5.5. Giai đoạn tổng hợp sợi DNA (-)
Sau khi được tổng hợp theo bản khuôn của ccc-DNA, tiền genome
RNA sẽ di chuyển ra ngoài nhân tế bào gan, tại bào tương đầu tiên tiền
genome RNA sẽ làm bản khuôn mã hóa để tổng hợp phân tử polymerase của
HBV. Phân tử HBV polymerase vừa có chức năng của DNA polymerase, vừa
có chức năng sao chép ngược (reverese transcriptase), tiếp theo sau quá trình
tổng hợp HBV polymerase sẽ diễn ra quá trình tổng hợp sợi DNA (-), bản
chất là sự chuyển mã ngược từ tiền genome RNA dưới tác dụng của reverese
transcriptase, quá trình tổng hợp sợi DNA (-) sẽ diễn ra song hành với tiến
trình tạo vỏ nuclecapside để bao bọc lấy sợi DNA (-) mới tạo thành. Cũng
giống như quá trình tổng hợp các phân tử DNA khác, sự tổng hợp sợi DNA
(-) cần phải có một quá trình kích hoạt, quá trình này có sự tham gia của nhiều
yếu tố, trong đó có vai trò của nhóm hydroxyl thuộc amino acid tyrosin trên
men sao chép ngược, vai trò tín hiệu thuộc cấu trúc ở đầu 5’ của sợi RNA tiền
trin nng, trong khi ú viờm gan mn hot ng cú th nng v tin trin ti
x gan hoc ung th gan nguyờn phỏt. Do ú trờn lõm sng chỳng ta cú th
gp nhiu biu hin khỏc nhau trong quỏ trỡnh nhim HBV.
Diễn biến lâm sàng
của ng-ời nhiễm cấp HBV
Khỏi
1070%
Sơ sinh/trẻ em
Nhiễm cấp
95%
Ng-ời lớn
Nhiễm cấp
< 1%
< 5%
3090%
Khỏi
VG tối cấp
1*
Nhiễm mạn
1.7.1.1. Thi gian bnh: khong 4 28 ngy, hu ht cỏc trng hp cú
khong thi gian 60 110 ngy
1.7.1.2. Thi k khi phỏt (thi k tin hong n): cú th biu hin st nh,
mt mi, chỏn n, tiu vng, au khp
1.7.1.3. Thời kỳ toàn phát (thời kỳ hoàng đản): Mức độ nặng nhẹ rất thay
đổi ở từng cá thể. Các triệu chứng của viêm gan B cấp có thể nhẹ và không
vàng da hoặc nặng hơn kết hợp với vàng da. Trong trường hợp điển hình, gồm
đau đầu, mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn và nôn, sốt nhẹ là những dấu hiệu sớm
xuất hiện 2 – 7 ngày trước khi vàng da trong các trường hợp có vàng da. Đầy
bụng hoặc đau khu trú hạ sườn phải hay gặp. Nước tiểu trở lên sẫm màu. Gan
to vừa, ấn tức, nhu mô đều. Có thể sờ thấy hạch to nhất là vùng sau cổ. Trong
thời gian toàn phát, dấu hiệu rối loạn tiêu hóa vẫn tồn tại. Các biểu hiện nặng
như mệt lả, gan nhỏ, lách to, phù chi và hôn mê chỉ gặp ở một số trường hợp
thể kéo dài.
Khi bắt đầu ăn thấy ngon, tiểu nhiều, vàng da vàng mắt giảm dần là lui
bệnh. Trẻ nhỏ hồi phục sau 2 tuần còn người lớn từ 4 – 6 tuần. Trong thời kỳ
hồi phục, dấu hiệu mệt mỏi và chán ăn có thể kéo dài nhiều tháng sau.
Với các dấu hiệu lâm sàng không đặc hiệu, các dấu hiệu sinh học mang
tính hướng dẫn, muốn xác định chắc chắn viêm gan B phải dựa vào các chỉ
điểm huyết thanh học và vi rút học.
- Hội chứng hủy hoại tế bào gan: transaminase tăng cao dần, tối đa vào
tuần đầu tiên của giai đoạn có triệu chứng. Thông thường ALT (alanine
aminotransferase) tăng nhiều hơn so với AST (aspartate aminotransferase).
- Hội chứng ứ mật: bilirubin trực tiếp trong máu tăng sớm, ngay cả khi
bilirubin toàn phần vẫn bình thường. Hầu hết bệnh nhân có lượng bilirubin
toàn phần không vượt quá 17µmol/l, tăng dần trong vòng 10 – 14 ngày đầu và
giảm dần sau 2 – 4 tuần. Sau 3 tuần, nếu nồng độ bilirubin máu toàn phần trở
về
không có biểu hiện sinh hóa hoặc không có các bằng chứng mô học của
nhiễm vi rút hoặc bệnh,
Giai đoạn cấp tính trầm trọng và bùng phát viêm gan B: Nồng độ
aminotransferase tăng cao liên tiếp hơn giới hạn trên của nồng độ bình thường
10 lần và vượt qua giới hạn này 2 lần.
Viêm gan B tái phát: Tái xuất hiện viêm gan tiến triển ở những người
có HBsAg bất hoạt hoặc viêm gan B sau khi khỏi.
Thanh thải HBeAg: HBeAg giảm dần ở những người trước đó có
HBeAg dương tính.
Chuyển đổi HBeAg trong huyết thanh: Giảm dần HBeAg và xuất hiện antiHBe ở những người mà trước đó HBeAg dương tính và anti-HBe âm tính.
HBeAg dương tính trở lại: sự xuất hiện HBeAg trở lại ở những người
trước đó có HBeAg âm tính và anti-HBe dương tính.
1.7.2.2. Các giai đoạn nhiễm HBV mạn tính
Hình 1.8: Diễn biến tự nhiên của nhiễm HBV mạn tính gồm 4 giai đoạn
Nhiễm HBV mạn tính được xác định khi HBsAg dương tính kéo dài
trên 6 tháng hoặc bằng chẩn đoán mô bệnh học. Nhiễm HBV mạn tính được
chia làm 4 giai đoạn cơ bản (4 clinical phases), HBeAg thường dương tính
trong những giai đoạn đầu, HBeAg thể hiện tính lây nhiễm cao và khả năng
virus đang nhân lên, các giai đoạn sau HBeAg thường âm tính.
Giai đoạn dung nạp miễn dịch (Immuno tolerance phase): thời gian của
giai đoạn này khác nhau tùy thuộc vào tuổi nhiễm HBV, nhiễm ở giai đoạn sơ
sinh giai đoạn dung nạp miễn dịch có thể kéo dài 10-30 năm trong khi đó
nhiễm bệnh ở tuổi trưởng thành thì giai đoạn trên ngắn, thậm chí chỉ vài tuần.
Ở giai đoạn này mặc dù HBV nhân lên mạnh, nồng độ HBV-DNA trong máu
tăng cao và hầu hết các tế bào gan bị nhiễm có bộc lộ HBcAg, tuy nhiên đáp
được tình trạng miễn dịch đủ mạnh để chống lại HBV, trong giai đoạn này
nồng độ HBV-DNA khó phát hiện hoặc không phát hiện được, hoạt động
viêm hoại tử tế bào gan giảm đi, nồng độ HBeAg giảm và xuất hiện anti-HBe
trong máu. Sinh thiết gan thấy không có hoặc rất ít hoạt động viêm hoại tử tế
bào gan.
Giai đoạn tái hoạt động: giai đoạn anti-HBe (+) và HBeAg (-) có thể
kéo dài hàng chục năm thậm chí suốt đời mà không có các dấu hiệu của vi rút
nhân lên, không có tổn thương gan. Trường hợp này gọi là người lành mang
vi rút. Tuy nhiên trên một số bệnh nhân vẫn xảy ra những đợt tái hoạt động
của HBV, tổn thương tiến triển tế bào gan, những trường hợp này thường
được chẩn đoán viêm gan B mạn tính có HBeAg (-).
1.7.2.3. Các thể lâm sàng
- Viêm gan B mạn tồn tại: thường không có triệu chứng, có thể mệt
mỏi, chán ăn, đau tức nhẹ vùng hạ sườn phải. Thăm khám lâm sàng bình
thường hoặc có thể thấy gan to nhẹ. Transaminase tăng không quá 4 lần giá trị
bình thường. Những xét nghiệm chức năng gan khác (bilirubin, phosphataza
kiềm, globulin) bình thường. Tiên lượng nói chung tốt. Tuy nhiên một số
trường hợp có thể tiến triển thành viêm gan mạn hoạt động, đặc biệt là nếu có
sự duy trì nhân lên của vi rút.
Tổn thương giải phẫu bệnh: Những bệnh nhân viêm gan B mạn hoặc
những người mang HBsAg mạn không có triệu chứng, tế bào gan bị nhiễm có
thể biểu hiện dưới dạng tế bào “kính mờ”. Dạng này không bao giờ tìm thấy
trong viêm gan B cấp, tế bào này chứa nhiều HBsAg ở vùng lưới nội bào tương.
Trong viêm gan B mạn tồn tại có sự thâm nhiễm của các tế bào viêm
dạng đơn nhân, khu trú chủ yếu ở khoảng cửa, không xâm lấn các tế bào gan
ở rìa. Không có hoặc có rất ít các tổn thương tế bào gan và mô xơ.
- Viêm gan mạn hoạt động: các dấu hiệu lâm sàng gồm mệt mỏi, đau hạ
sườn phải, vàng da. Biểu hiện tăng áp lực tĩnh mạch cửa (cổ chướng, xuất