ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm gan do virus viêm gan C là một bệnh phổ biến trên thế giới và tại
Việt Nam. Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), hiện nay có khoảng 130 - 210
triệu người trên thế giới nhiễm HCV (khoảng 3% dân số) [16]. Tỉ lệ thay đổi
tùy khu vực địa lý, cao nhất ở Ai Cập là 9%, ở Tây Âu là 0,4% đến 3%. Tại
Mỹ, mỗi năm có khoảng 3,9 triệu người (chiếm 1,2% dân số) nhiễm HCV và
có 8.000– 10.000 người chết do các biến chứng liên quan đến HCV [16, 26].
VGC (viêm gan do virus viêm gan C) diễn biến âm thầm, ít khi có
triệu chứng, chủ yếu phát hiện tình cờ khi xét nghiệm máu hoặc có biểu
hiện ở giai đoạn muộn đặc biệt là xơ gan (10-40% bệnh nhân VGC mạn
tính tiến triển xơ gan) [25].
Các giai đoạn của xơ gan rất quan trọng trong việc quản lý, điều trị và
tiên lượng bệnh viêm gan C mạn tính. Phân loại mức độ xơ hóa của gan (theo
Metavir) là công cụ hữu ích để phục vụ cho mục đích này. Trên thế giới có
nhiều phương pháp đánh giá mức độ xơ hóa của gan trong đó sinh thiết gan
được coi là tiêu chuẩn vàng. Tuy nhiên, sinh thiết gan là thủ thuật xâm lấn có
thể gây biến chứng nguy hiểm (chảy máu, nhiễm trùng, thậm chí có thể tử
vong) và có hạn chế về lỗi lấy mẫu, chủ quan người đọc kết quả. Do đó, sinh
thiết gan ít được tiến hành nhiều lần và tỷ lệ bệnh nhân từ chối cao. Một số
phương pháp không xâm nhập để đánh giá mức độ xơ hóa của gan được
khuyến khích và phát triển như: chỉ số FibroScan, FibroTest, APRI,
FibroMettre, HepaScore, Forns…Trong đó Fibroscan, Fibro Test là các
phương pháp có thể thực hiện nhiều lần và đem lại hiệu quả cao.
FibroScan sử dụng sóng siêu âm và sóng đàn hồi tần số thấp để đo độ
cứng của gan. Tùy theo độ cứng của gan đo được sẽ tương ứng với mức độ xơ
hóa của gan theo thang điểm Metavir. Các ngưỡng giá trị tương ứng với từng
1
giai đoạn xơ hóa ( F0, F1, F2, F3, F4 ) đã được nhiều nghiên cứu trên thế giới
nêu ra với độ tin cậy rất cao.
FibroTest (FT) là sự kết hợp của 5 thông số trong huyết thanh không liên
quan đến bữa ăn: γ-glutamyl transpeptidase, bilirubin toàn phần, α2-
1.1.2. Dịch tễ học viêm gan C
1.1.2.1 Trên thế giới
Theo tổ chức Y tế thế giới, hiện nay có khoảng 210 triệu người (3%
dân số) trên thế giới nhiễm HCV và mỗi năm có thêm 3 đến 4 triệu người mới
nhiễm [8]. Tỷ lệ nhiễm HCV trên thế giới khác nhau, tùy theo từng quốc gia
và phụ thuộc nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, xã hội, y tế, chủng tộc…
- Viêm gan C là một vấn đề lớn trong sức khỏe cộng đồng, có ba
khu vực được phân chia dựa vào anti HCV [41].
3
+ Vùng có tỷ lệ thấp dưới 0,5-1% như các nước Đan Mạch, Úc, Thụy
Sỹ, Canada
+ Vùng nhiễm vừa với tỷ lệ 0,5-1%
+ Vùng có tỷ lệ nhiễm cao trên 1% như ở Pháp là 1,2%, trong đó 80% có
dấu hiệu HCV đang nhân lên (HCV – RNA dương tính) và người mang HCV
mạn tính là 0,1%. Ở Mỹ tỷ lệ nhiễm HCV là 1,8%, những người có nhiều bạn
tính cao gấp 23 lần người chưa hoặc chỉ có một bạn tình ((9% so với 0,4%) và
cao hơn nữa ở người nghiện chích ma túy (13% so với 1%).
Các nước vùng Đông Âu, Nhật Bản và nhiều nước đang phát triển khác trong
đó có Châu Á có tỷ lệ nhiễm cao nhất có thể tới 5%.
Hình 1.1. Tỷ lệ nhiễm HCV phân bố trên thế giới (theo Cohen J, 1999)
Ghi chú: No data available: những vùng chưa xác định tỷ lệ nhiễm HCV
4
1.1.2.2. Tại Việt Nam
- Ở nước ta cho đến nay việc nghiên cứu dịch tễ học nhiễm HCV còn
rất hạn chế. Tỷ lệ nhiễm HCV cao thường tập trung ở những đối tượng có
nguy cơ cao như người mắc bệnh ưa chảy máu, người nghiện chích ma túy,
bệnh nhân lọc máu. Theo Nguyễn Thu Vân, Hoàng Thủy Nguyên, Phạm
Song, Đào Đình Đức tỷ lệ nhiễm HCV trong cộng đồng dân cư nước ta là 0,4-
1,35% [2].
- Tỷ lệ có anti HCV (+) tại Hà Nội khoảng 4% ở các nhân viên y tế và
- 10
8
bản sao/ml sau
vài tuần. Các kháng thể anti HCV xuất hiện muộn sau khi có tăng ALT và
biểu hiện lâm sàng. Trong các trường hợp nhiễm HCV chỉ có 30-50% được
phát hiện trong những tháng đầu, 80% được phát hiện sau 15 tuần. Kết quả
này cho thấy nhiều trường hợp nhiễm HCV không được phát hiện [3,7].
1.1.3.2. Viêm gan C mạn tính
- Triệu chứng cơ năng và toàn thân của viêm gan C mạn tính cũng
tương tự như các viêm gan do virus khác, triệu chứng không đặc hiệu: mệt
mỏi, ăn uống kém, gầy sút cân, chậm tiêu, sốt nhẹ, rối loạn tiêu hóa. Những
triệu chứng này thường được bỏ qua hay chẩn đoán là một bệnh khác. Đôi khi
bệnh nhân thấy đau tức vùng hạ sườn phải, khi thăm khám không phát hiện
được gan lách to thường không có phù hoặc cổ trướng. Chỉ khi bệnh nặng
hoặc có biến chứng xơ gan mới xuất hiện các triệu chứng này. Do vậy viêm
gan C mạn tính cần được chẩn đoán sớm [9,10] .
- Bên cạnh những triệu chứng không đặc hiệu trên, cần phải chú ý đến
triệu chứng ngoài gan đặc biệt đối với viêm gan virus C mạn, ít khi biểu hiện
tại chỗ nhưng có thể có biểu hiện ở khớp và thận như đau khớp, viêm cầu
thận, viêm đa dây thần kinh. Đau khớp có tính chất đối xứng, ít khi sưng đau
nhiều khớp, tái phát nhiều lần nhưng không để lại di chứng, không làm biến
dạng khớp.
6
- Những thay đổi ngoài da: da xạm, khô, sao mạch, giãn mạch, trứng
cá, mày đay cũng cần chú ý
- Bệnh tuyến giáp và một số bệnh tự miễn khác (viêm loét đại trực
tràng chảy máu, viêm khớp dạng thấp…có thể gặp ở những bệnh nhân này.
- Chú ý khai thác tiền sử bệnh gan di truyền có trước của bản thân và
gia đình người bệnh.
1.1.3.3 Xét nghiệm trong chẩn đoán VGC
hiện kháng thể anti – HCV [31]:
+ Thử nghiệm phát hiện kháng thể kháng virus viêm gan C (anti –
HCV):
Kĩ thuật ELISA – thử nghiệm miễn dịch gắn men (Enzyme linked
immunosorbent assay)
+ Thử nghiệm khẳng định: thử nghiệm miễn dịch vạch (Recombinant
immunoblot assay – RIBA)
- Phát hiện HCV-ARN: có 2 kỹ thuật chính
+ PCR: xác định RNA, độ nhạy và độ khuếch đại rất lớn. Real time
PCR định lượng HCV-ARN độ nhạy và độ đặc hiệu cao.
+ Phương pháp DNA nhánh hóa (bDNA) định lượng HCV – ARN có
độ nhạy và độ đặc hiệu kém PCR
- Kỹ thuật định genotyp: nhiều phương pháp EISA, Real time PCR,
phương pháp lai
1.1.3.4. Mô bệnh học của viêm C gan mạn tính
Viêm gan C mạn tính có 2 thể dựa vào mô bệnh học:
- Viêm gan mạn tính thể ổn định:
8
+ Tổn thương chủ yếu là ở khoảng cửa, xâm nhập tế bào viêm loại một
nhân, tổ chức xơ phát triển rất ít.
+ Hoại tử tế bào gan rất ít, không có hoại tử tế bào kiểu mối gặm.
+ Thoái hóa tế bào gan: có thể có
+ Tiểu thùy gan hoàn toàn bình thường, ranh giới tiểu thùy không bị phá
vỡ [1, 4, 19, 34].
- Viêm gan mạn tính tiến triển:
+ Tổn thương cũng xuất phát từ khoảng cửa: xâm nhập tế bào viêm loại
một nhân vào khoảng cửa và tiểu thùy. Tổ chức xơ phát triển vào khoảng cửa
và xung quanh khoảng cửa, xâm nhập vào cả trong tiểu thùy.
+ Đặc biệt có hoại tử tế bào gan, đặc biệt có nhiều hình thái hoại tử tế
bào gan khác nhau:
+ A1: Hoạt động nhẹ khi:
. hoặc hoại tử mối gặm không có, hoặc hoại tử tiểu thùy vừa.
. hoặc hoại tử mối gặm nhẹ, hoại tử tiểu thùy không có, nhẹ hoặc vừa.
+ A2: Hoạt động vừa khi:
. hoặc hoại tử mối gặm không có, hoại tử tiểu thùy nặng.
. hoặc hoại tử mối gặm nhẹ, hoại tử tiểu thùy nặng.
. hoặc hoại tử mối gặm vừa, hoại tử tiểu thùy không có, nhẹ hoặc vừa.
+ A3: Hoạt động nặng khi:
. hoặc hoại tử mối gặm vừa, hoại tử tiểu thùy nặng.
. hoặc hoại tử mối gặm nặng, hoại tử tiểu thùy không có, nhẹ, vừa,
hoặc nặng.
10
1.1.4. Tiến triển virus viêm gan C
- Viêm gan mạn được xác định bằng các phản ứng viêm xảy ra tại gan
kéo dài, với ALT cao trên 6 tháng. Nhiễm HCV đặc biệt nguy hại do tần suất
chuyển sang mạn tính rất cao 80-85%. Theo một nghiên cứu ở Nhật Bản
81,1% viêm gan cấp sẽ phát triển thành viêm gan mạn [43]. Nhiễm HCV kéo
dài hàng chục năm, men gan tăng giảm không phụ thuộc vào triệu chứng lâm
sàng, nồng độ HCV - ARN duy trì ổn định trong huyết thanh [35], [37].
- Khoảng 20-30% viêm gan mạn tiến triển sau một thời gian có thể phát
triển thành xơ gan, 30% những người viêm gan mạn có nguy cơ đưa đến ung
thư gan tiên phát sau 10-20 năm [7, 9, 10].
- Nhiễm HCV và ung thư gan: trên thế giới 52,3% số bệnh nhân ung
thư gan có liên quan với nhiễm HBV, 25% với HCV. Ở Việt Nam khoảng
81% có liên quan với HBV và khoảng 13,7-15,8% liên quan với HCV [24]. Ở
châu Âu khi ứng dụng PCR vào xét nghiệm để chẩn đoán người ta thấy HCV-
ARN dương tính ở 7% trong huyết thanh, 0,26% trong nhu mô gan ở bệnh
nhân ung thư biểu mô tế bào gan có anti HCV âm tính [25,44].
1.1.5 Điều trị và cách phòng bệnh
1.1.5.1 Điều trị:
phòng viêm gan C trở thành mạn tính.
- Dự phòng không đặc hiệu như biện pháp phòng nhiễm HBV và HIV
+ Sàng lọc anti HCV ở những người cho máu và đối tượng có nguy cơ cao
+ Hạn chế truyền máu tới mức cần thiết, tốt nhất dùng máu tự thân
+ Thực hiện tốt các biện pháp khử trùng, tiệt trùng, trong y tế
+ Chống tệ nạn ma túy, mại dâm, giáo dục người nghiện dùng bơm kim
tiêm dùng một lần.
1.2 FIBROSCAN
1.2.1 Lịch sử phát triển Fibroscan
Nghiên cứu Fibroscan được thực hiện ở Pháp bắt đầu từ năm 1998, đến
năm 2001 công ty Echosens chính thức hoàn thiện sáng chế máy Fibroscan
12
ứng dụng trong y học để đánh giá mức độ xơ hóa gan. Máy này được nghiên
cứu thí nghiệm ở Pháp trước khi tiến hành ở quy mô lớn trong khoảng thời
gian năm 2001-2002. Năm 2002, Fibroscan được đưa vào thử nghiệm tại các
viện nghiên cứu đa trung tâm ở Pháp. Đến năm 2003 máy Fibroscan chính
thức được cấp giấy chứng nhận CE (Conformity European) của 25 nước
thuộc khối liên minh Châu Âu. Đến năm 2005-2006 máy Fibroscan được đưa
vào thử nghiệm tại các viện nghiên cứu đa trung tâm của Mỹ và hiện tại
Fibroscan đang trong thời gian chờ cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm
Mỹ (FDA) phê chuẩn để đưa vào sử dụng rộng rãi. Từ khi ra đời đến tháng
5/2007 có tổng số 254 máy Fibroscan được đưa vào sử dụng trên toàn thế
giới, trong đó Châu Âu có 175 máy, Bắc Mỹ 10 máy, Trung Đông 4 máy,
Nga 3 máy và Châu Á có 63 máy. Việt Nam hiện tại có hai máy Fibroscan
đang được sử dụng ở Trung tâm Medic thành phố Hồ Chí Minh và bệnh viện
Bạch Mai.
1.2.2 Cấu tạo và nguyên lý hoạt động của Fibroscan
Fibroscan là thiết bị không xâm nhập đầu tiên dùng trong chẩn đoán và
theo dõi xơ gan [24,27,29]. Thiết bị này được chế tạo bởi công ty Echosens
13
Điểm từ 1 – 75,5 Kpa được chia thành 5 giai đoạn theo mức độ xơ hóa theo
phân loại METAVIR.
Kỹ thuật Fibroscan áp dụng tốtn nhất trong chẩn đoán xơ gan và các
bệnh lý viêm gan do virus đặc biệt là viêm gan virus C, B, viêm gan do rượu,
do ngộ độc thuốc, gan nhiễm mỡ, cũng như theo dõi diễn biến phục hồi của
bệnh lý gan khi điều trị nhằm xác định mức độ xơ hóa gan, điều này rất hữu
ích cho các nhà lâm sàng trong chẩn đoán và điều trị. Ngoài ra, Fibroscan còn
được chỉ định rộng rãi cho các trường hợp kiểm tra sức khỏe theo yêu cầu hay
chỉ định thăm khám cho các đối tượng có nguy cơ cao như: người uống nhiều
15
rượu, điều trị thuốc lao lâu dài, bệnh gan bẩm sinh cũng như thep dõi diễn
tiến trước và sau ghép gan [57,59].
Quá trình thăm khám bệnh nhân bằng kĩ thuật Fibroscan rất thuận lợi: không
cần chuẩn bị bệnh nhân trước, thời gian khám và xác định kết quả ngắn
(khoảng 5 phút). Kết quả khách quả không phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của
các bác sĩ như trong thăm khám siêu âm, nó thể hiện bằng con số định lượng
là (Kilo Pascal) [56, 57].
1.2.3 Ý nghĩa các thông tin trên kết quả siêu âm Fibroscan
Trên phiếu kết quả siêu âm Fibroscan có một số thông tin trong đó có
kết quả quan trọng nhất là độ cứng của gan. Độ cứng của gan nằm trong ô
Sttifness, đơn vị đo là kilopascal. Tùy theo giai đoạn xơ hóa và nguyên nhân
mà độ cứng của gan có các giá trị khác nhau [27, 30].
- Một số thông tin khác:
• Tỷ lệ thành công: nằm trong ô success rate, tỉ lệ thành công từ 60% trở
lên thì kết quả đo độ cứng của gan mới được chấp thuận
• IQR (kPa) Interquartile range: khoảng tứ phân vị, khoảng tứ phân vị
nhỏ hơn hoặc bằng 20% so với độ cứng của gan thì kết quả đo độ cứng
của gan mới được chấp nhận
16
• CS (kPa) Current Stiffness: độ cứng của gan hiện tại, một con số trong
- Độ cứng của gan ở bệnh nhân viêm gan mạn tính tăng dần theo giai
đoạn xơ hóa, giai đoạn xơ hóa càng cao thì độ cứng của gan càng tăng. Giai
đoạn xơ hóa của viêm gan mạn tính được đánh giá theo hệ thống thang điểm
Metavir từ F0 đến F4, tương ứng với mỗi giai đoạn xơ hóa có các ngưỡng
tương ứng độ cứng của gan. Ngưỡng này thay đổi tùy vùng lãnh thổ, trong
cùng một lãnh thổ thì thay đổi tùy theo nguyên nhân gây ra viêm gan mạn
tính
- Trong nghiên cứu của Ogawa E và đồng nghiệp, ở những bệnh nhân
viêm gan virus C mạn tính, giá trị ngưỡng ứng với từng giai đoạn xơ hóa là
6,3 kPa với Fo, 6,7kPa với F1, 9,1kPa với F2 và 13,7kPa với F3.
- Trong nghiên cứu của Fraquelli M và đồng nghiệp ở bệnh nhân viêm
gan mạn tính, (77,5 % là virus viêm gan C mạn tính, 8% do virus viêm gan B
mạn tính) thì giá trị ngưỡng tương ứng với từng giai đoạn xơ hóa là 7,9kPa
với F2, và 10,3 kPa với F3.
- Trong nghiên cứu của Lusor M và đồng nghiệp [41] ở những bệnh
nhân viêm gan C mạn tính thì ngưỡng tương ứng với từng giai đoạn xơ hóa là
4,9 kPa với F1, 7,4kPa với F2, và 9,1 kPa với F3.
- Trong nghiên cứu của Castera l và đồng nghiệp [21] ở những bệnh
nhân viêm gan virus C mạn thì ngưỡng đối với từng giai đoạn xơ hóa là: 7,1
kPa với F2 và 9,5 kPa với F3.
- Trong nghiên cứu của Serejo F và đồng nghiệp [48] thì ngưỡng tương
ứng với từng giai đoạn xơ hóa là 5,4kPa với F2 và 8,2kPa với F3.
1.3 Fibro Test
1.3.1 Vài nét về FibroTest
18
Fibro Test là một trong các xét nghiệm sinh hóa có giá trị đo đạc mức
độ xơ hóa của gan. Fibro Test được xác định ban đầu ở những bệnh nhân
viêm gan C mạn tính sau đó đến các nguyên nhân gây xơ gan phổ biến khác
như: viêm gan B, viêm gan do rượu và viêm gan không do rượu [20,33].
FibroTest gồm có 5 chỉ số sinh hóa
máu huyết thanh, không cần chất chống đông và không cần phải nhịn đói,
mẫu huyết thanh của bệnh nhân sẽ được gửi đến trung tâm xét nghiệm và có
kết quả ngay trong vòng 4 giờ.
Huyết thanh có thể được lưu giữ không quá 72 giờ ở nhiệt độ +2°C/
+8°C và tránh ánh nắng mặt trời (tránh bilirubin không bị phân hủy)
Nếu các thông số không thể đo trong khoảng thời gian cần thiết, huyết
thanh phải được ngay lập tức đông lạnh ở - 80 ° C trong tối đa 5 ngày, mẫu
đông lạnh không được rã đông nhiều lần. Sau khi rã đông, ở nhiệt độ phòng
thí nghiệm huyết thanh phải được li tâm 1500 vòng/ 10 phút và hiển thị các
kết quả [37, 38, 47].
Điểm số Fibro Test tính và đánh giá mức độ xơ hóa của gan ở bệnh
nhân viêm gan C theo thang điểm Metavir:
20
Giá trị chẩn đoán của FibroTest không có khác biệt cho các mức kế cận
nhau cũng như cho các mức cực điểm.[50]
Lợi ích của FibroTest đã được chứng minh trong việc chẩn đoán ban
đầu mức độ xơ gan cũng như trong việc theo dõi bệnh nhân (điều trị hay
không điều trị) [53, 54].
Vào năm 2006, Cơ Quan Y Tế Tối Cao của Pháp (HAS) đã có khuyến cáo sử
dụng FibroTest như xét nghiệm đầu tay để đánh giá mức độ xơ hóa gan trong
trường hợp viêm gan siêu vi C mạn chưa điều trị [52].
1.3.3. Đọc kết quả
Kết quả FibroTest dao động trong khoảng từ 0 đến 1, tỷ lệ với mức độ
xơ hóa của gan được quy chiếu theo hệ thống METAVIR (từ F0 đến F4).
Nhằm đơn giản hóa việc diễn giải kết quả khi nhìn, kết quả luôn kèm theo
một hình vẽ màu có ba mức độ tùy theo độ nặng:
• Màu xanh lá cây (không có hoặc không đáng kể)
• Màu cam (mức độ trung bình)
• Màu đỏ (đáng kể)
FibroTest được quy đổi thành các mức theo ba mức phân lọai mô học
• Bệnh nhân suy thận và ghép thận
• Bệnh ưa chảy máu
• Bệnh nhân có các bệnh viêm mạn tính
• Dân số trong cộng đồng
22
Các xét nghiệm không thể áp dụng được chỉ chiếm khoảng 1 đến 5%
trường hợp:
• Viêm gan cấp (ví dụ viêm gan cấp do virus viêm gan A, B, C, D, E;
viêm gan cấp do thuốc)
• Ứ mật ngoài gan (ví dụ: ung thư tụy, sỏi ở đường mật chính )
• Thiếu máu tan máu nặng
• Hội chứng Gilbert cùng với tăng mạnh bilirubine gián tiếp trong máu
• Hội chứng viêm cấp (chỉ cần dời lại việc thử máu)
1.3.4. Ưu nhược điểm của FT
Sinh thiết gan FibroTest
Tỉ lệ biến chứng là 0,6%, tử vong 0,03% Nguy cơ bằng 0
Bệnh nhân phải nhập viện Một mẫu máu đơn giản, phòng thí
nghiệm gần nhất
Sai lầm do chọn mẫu bệnh phẩm
Độ dài của các mẫu sinh thiết gan khi
lấy khác nhau: từ 5 đến 30mm
Độ chính xác cao của một định lượng
hóa học (hệ số dao động < 5%)
Dao động do các lần đo khác nhau của
cùng một người thực hiện hoặc giữa
nhiều người thực hiện khác nhau
Khả năng lặp lại xuất sắc bởi cùng
một phòng xét nghiệm hay bởi các
phòng xét nghiệm khác nhau
- Tiêu chuẩn vàng không hoàn hảo:
phối hợp với xơ hóa gan: họat động
viêm và họai tử (ActiTest) và gan
nhiễm mỡ (SteatoTest).
Tóm lại, FibroTest có giá trị chẩn đoán tương đương với mẫu sinh thiết
gan dài 25 mm, với lợi thế là xét nghiệm không xâm lấn và việc diễn giải kết
quả rất dễ dàng.
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
… bệnh nhân được chẩn đoán viêm gan virus C mạn tính điều trị nội trú
hoặc ngoại trú khoa tiêu hóa Bệnh viện Bạch Mai từ tháng đến tháng
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
Bệnh nhân được chẩn đoán Viêm gan virus C mạn tính theo tiêu
chuẩn Lok A và Gounaratnam N, T, 1997 [42].
- Anti – HCV (+) kéo dài trên 6 tháng
- HCV – RNA (+)
- Sinh thiết gan có tổn thương xơ hóa ≥ F1 theo phân loại Metavir
- ALT có thể bình thường hoặc tăng
Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân được chẩn đoán Viêm gan virus C mạn tính loại ra khỏi
nghiên cứu nếu có một trong các triệu chứng sau:
24
- Đồng nhiễm virus B và/ hoặc HIV
- Có biến chứng xơ gan mất bù: cổ trướng, xuất huyết tiêu hóa,
nhiễm trùng dịch cổ trướng
- Bệnh nhân nghiện rượu (nam uống 30g ethanol/ngày, nữ uống 20g
ethanol/ ngày trong 5 năm trở lại).
- Bệnh nhân làm siêu âm 2D có khối trong gan
- Phụ nữ có thai