Tình trạng nhiễm hiv, hbv, hcv và yếu tố liên quan ở một số nhóm nguy cơ cao tại hà nội, 2008 2010 - Pdf 43

1

Đặt vấn đề
Việc tiếp cận các dịch vụ y tế tại tuyến tỉnh, tuyến huyện đối với ng-ời
dân, đặc biệt là dân nghèo ở vùng nông thôn là rất khó khăn, ngoài việc phải
thanh toán tiền viện phí, họ phải chịu nhiều loại chi phí khác nh- chi phí đi
lại, chi phí cho người đi thăm/nuôi là nguyên nhân chủ yếu khiến cho người
bệnh lâm vào cảnh nghèo và đã nghèo lại càng nghèo hơn [49], [50].
Chi phí bình quân cho một tr-ờng hợp bệnh ở trạm y tế xã là 29284
đồng, bệnh viện huyện là 67095 đồng, bệnh viện tỉnh là 437266 đồng và chi
phí đi lại nếu điều trị ở tuyến huyện và tỉnh trung bình là 19680 đồng [127].
Trong khi đó 60-70 % các tr-ờng hợp bệnh có thể điều trị đ-ợc ở trạm y tế xã,
nh-ng trạm y tế vừa thiếu, vừa yếu về cán bộ y tế, cơ sở vật chất, trang thiết bị
và thuốc men [36], [125], [126].
Chính vì vậy nâng cao chất l-ợng hoạt động của trạm y tế là hết sức quan
trọng. Nghị quyết hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung -ơng Đảng khoá
VII và nghị định 37/CP của Chính phủ ngày 20/6/1996 ra đời đã đ-a ra các biện
pháp tổng thể để phát triển nền y tế Việt Nam, trong đó củng cố và duy trì y tế
cơ sở là một nhiệm vụ quan trọng. Để cụ thể hoá các nghị quyết trên Bộ Y tế đề
xuất 10 giải pháp đ-a cán bộ y tế về công tác tại y tế cơ sở. Mục tiêu đặt ra là
100% các xã có bác sỹ [53], [64], [65], [66], [81], [82], [88], [89].
Tại Hải D-ơng, năm 1996 mới có 15% TYT có bác sỹ, năm 2002 đã có
111 trạm y tế có bác sỹ và đến hết năm 2005, 100% trạm y tế xã có bác sỹ công
tác, trong đó 67% xã có bác sỹ công tác th-ờng xuyên tại trạm [8], [11], [85].
Chỉ có một số rất ít nghiên cứu về sự có mặt của bác sỹ tại TYT xã cho
thấy chất l-ợng cung cấp dịch vụ y tế tại TYT xã có bác sỹ đ-ợc cải thiện rõ
rệt nh-ng sự hoạt động của bác sỹ tại trạm y tế xã vẫn gặp những khó khăn
nh- ch-a có nội dung và ch-ơng trình đào tạo cho bác sỹ hoạt động tại trạm y
tế xã, cơ sở vật chất và trang thiết bị tại TYT xã ch-a đ-ợc đáp ứng một cách



sinh thực phẩm, cung ứng trang thiết bị y tế. Tổ chức, quản lý các hệ thống y
tế công và t- trong cả n-ớc, thống nhất quản lý nhà n-ớc về công tác nghiên
cứu khoa học và đào tạo cán bộ trong lĩnh vực y tế, hợp tác liên ngành và hợp
tác quốc tế trong lĩnh vực y tế và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của
Nhà n-ớc tại doanh nghiệp có vốn nhà n-ớc theo quy định của pháp luật [52].
Căn cứ vào các chức năng và nhiệm vụ đ-ợc phân công, tuyến trung
-ơng chịu trách nhiệm quản lí các cơ sở y tế trung -ơng. Các đơn vị trực
thuộc Bộ Y tế bao gồm các viện nghiên cứu, các bệnh viện đa khoa và chuyên
khoa trung -ơng, các tổng công ty d-ợc, tổng công ty trang thiết bị và các
tr-ờng đào tạo y, d-ợc, điều d-ỡng [30], [37], [43].
Tính đến ngày 31/12/2005, tuyến trung -ơng có 10 bệnh viện đa khoa,
1 bệnh viện y học dân tộc, 16 bệnh viện chuyên khoa trung -ơng, đ-ợc xây
dựng tại các thành phố lớn hoặc trung tâm các vùng. Các bệnh viện tuyến
trung -ơng là tuyến chuyên môn kỹ thuật cao nhất trong lĩnh vực khám chữa
bệnh, có trách nhiệm cung cấp các dịch vụ y tế sức khoẻ mà y tế tuyến tỉnh
không có khả năng đáp ứng [34].


4

Hệ thống các tr-ờng đào tạo cán bộ y, d-ợc về mặt quản lý đa số trực
thuộc Bộ Y tế nh-ng có một số lại trực thuộc Bộ Giáo dục và đào tạo. Tuy
nhiên ch-ơng trình và nội dung giảng dạy đều thống nhất do Bộ Y tế biên
soạn. Hầu hết các tr-ờng trung cấp y, d-ợc nằm d-ới sự quản lý của Sở Y tế
các tỉnh, thành phố trực thuộc trung -ơng [50], [106], [107].
Trực thuộc bộ y tế còn có các tổng công ty d-ợc và trang thiết bị y tế,
có trách nhiệm sản suất, xuất nhập khẩu, l-u thông thuốc và các trang thiết bị
y tế trong phạm vi cả n-ớc. Ngoài ra còn có 2 khu điều trị phong, 1 viện điều
d-ỡng, 1 phòng khám [34]
Y tế tuyến tỉnh

Y tế tuyến cơ sở
Các cơ sở y tế tuyến huyện là nơi chăm sóc sức khoẻ cơ bản cho nhân
dân, đồng thời là tuyến hỗ trợ trực tiếp cho y tế tuyến xã. Phũng Y t l c
quan chuyờn mụn thuc U ban nhõn dõn huyn, qun, th xó, thnh ph
thuc tnh, thc hin chc nng qun lý nh nc v bo v, chm súc v
nõng cao sc kho nhõn dõn trờn a bn huyn, gm: y t d phũng, khỏm,
cha bnh, phc hi chc nng, y dc hc c truyn, thuc phũng cha bnh
cho ngi, m phm nh hng n sc kho con ngi, an ton v sinh thc
phm, trang thit b y t, thc hin mt s nhim v, quyn hn theo phõn cp
ca U ban nhõn dõn cp tnh v u quyn ca S Y t. Phũng Y t chu s
ch o, qun lý v t chc, biờn ch v cụng tỏc ca U ban nhõn dõn cp
huyn, ng thi chu s ch o, kim tra v chuyờn mụn, nghip v ca S
Y t. Phũng Y t thc hin cỏc nhim v, quyn hn qun lý nh nc v y t
trờn a bn huyn theo hng dn ca U ban nhõn dõn cp tnh; tham mu
cho Ch tch U ban nhõn cp huyn ch o v t chc thc hin cụng tỏc v
sinh phũng bnh, v sinh mụi trng; qun lý cỏc trm y t xó, phng, th
trn v thc hin mt s nhim v, quyn hn khỏc theo s u quyn ca S
Y t [47].


6

Tr-ớc đây toàn bộ 631 quận huyện trên cả n-ớc đều đã thành lập trung
tâm y tế huyện. Mỗi trung tâm y tế huyện bao gồm 1 bệnh viện đa khoa với số
gi-ờng bệnh trung bình từ 50-100 gi-ờng. Trực thuộc trung tâm y tế huyện ở
một số nơi còn có các phòng khám đa khoa khu vực, đảm nhận một phần
nhiệm vụ của bệnh viện huyện tại khu vực và là tuyến trên của các trạm y tế
xã. Tại các huyện vùng núi, vùng sâu, vùng xa còn có đội y tế l-u động để hỗ
trợ các trạm y tế xã trong công tác phòng chống dịch bệnh. Bên cạnh bệnh
viện đa khoa còn có đội vệ sinh phòng dịch, đội bảo vệ BMTE/KHHGD (1 số

nhiệm vụ đã đ-ợc giao. Hiện nay, màng l-ới y tế thôn bản ở các vùng đồng
bằng, vùng núi thấp đã đ-ợc thiết lập và đã đi vào hoạt động t-ơng đối tốt.
Nh-ng ở các vùng núi cao, vùng sâu và vùng xa lực l-ợng y tế thôn/bản vẫn
còn mỏng về số l-ợng và yếu về chất l-ợng. Đây là một nhiệm vụ cấp
bách và cần thiết đã và đang đ-ợc ngành y tế và các ngành có liên quan
thực hiện.
Số l-ợng và quy mô các cơ sở y tế
Tính đến ngày 31/12/2005 cả n-ớc có 31 cơ sở y tế tuyến trung -ơng với
13170 g-ờng bệnh, 377 cơ sở y tế tuyến tỉnh với 71876 g-ờng bệnh, tuyến
huyện có 1430 cơ sở y tế với 55085 g-ờng bệnh. Số bệnh viện đa khoa tuyến
trung -ơng là 10, tuyến tỉnh là 127, tuyến huyện là 564. Các bệnh viện đa
khoa tuyến huyện chiếm 80,5% tổng số các bệnh viện đa khoa, với quy mô
trung bình 50-100 gi-ờng bệnh. Các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh chiếm
18,1% số bệnh viện đa khoa, song chiếm trên 50% tổng số các gi-ờng bệnh.
Đáng chú ý là các bệnh viện chuyên khoa chiếm tỷ lệ rất nhỏ, chỉ có 16 bệnh
viện tuyến trung -ơng, 87 bệnh viện tuyến tỉnh; do vậy sự quá tải của các
bệnh viện chuyên khoa th-ờng xuyên xảy ra [34]. Theo số liệu năm 2004,
bình quân 428 ng-ời dân có 1 gi-ờng bệnh, số g-ờng bệnh/10000 dân là
23,35. So với các n-ớc trong khu vực, Việt Nam có số g-ờng bệnh/10000 dân
xấp xỉ bằng Thái Lan (21,97); thấp hơn Brunei (26,0); Japan (131,26);


8

Singapo (29,37); cao hơn các n-ớc Malaysia (14,7); Phillipines (3,26); và
Indonesia (5,99). Nhìn chung trong mối t-ơng quan với thu nhập quốc dân
bình quân đầu ng-ời, Việt Nam có số l-ợng gi-ờng bệnh/ng-ời dân cao hơn
mức bình quân trong khu vực [12].
Số thôn bản có nhân viên y tế đang tiếp tục tăng, nhất là có phụ cấp cho
tất cả các nhân viên y tế thôn bản từ nguồn ngân sách nhà n-ớc (bắt đầu thực

huyện có đủ trang thiết bị y tế cơ bản phục vụ khám chữa bệnh theo tiêu
chuẩn của bộ y tế, mỗi bệnh viện huyện có một máy siêu âm, 1 máy xét
nghiệm, 10/12 huyện có máy ghế răng, có ít nhất một ô tô cứu th-ơng và 90%
gi-ờng bệnh nhân bằng inox [85].
Thực hiện nghị định 171/2004/NĐ-CP, 172/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004
của chính phủ, quyết định 3729/2005/QĐ-UBND ngày 23/8/2005 của UBND
tỉnh Hải D-ơng về vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cơ cấu của sở y tế
đến nay 12/12 huyện, thành phố của tỉnh Hải D-ơng đã thành lập phòng y tế,
sở y tế tiến hành bàn giao trạm y tế về phòng y tế quản lý, điều hành từ
01/10/2005. Sở y tế phối hợp với sở nội vụ ra quyết định bổ nhiệm, h-ớng dẫn
chia tách trung tâm y tế huyện thành bệnh viện đa khoa huyện và trung tâm y
tế dự phòng huyện bắt đầu hoạt động từ 01/01/2006 [54], [55], [85], [111]
TYT xã : Tại Hải D-ơng có 263 trạm Y tế tại 263 xã, ph-ờng (chiếm tỷ
lệ 100%) với 1052 g-ờng bệnh [12].
Ngoài ra tại Hải D-ơng còn có 1 bệnh viện 7 do quân đội quản lý, một
tr-ờng cao đẳng kỹ thuật y tế, 1 tr-ờng trung học d-ợc do bộ y tế quản lý và
nhiều phòng khám bán công, t- nhân hoạt động.
1.2. Trạm y tế xã

1.2.1. Chức năng của trạm y tế xã
Theo Nghị định 01/1998/NĐ-CP của Chính phủ và theo thông t- liên
tịch 02/1998/TTLB thì trạm y tế xã là đơn vị kỹ thuật y tế đầu tiên tiếp xúc với
nhân dân, nằm trong hệ thống y tế nhà n-ớc, có nhiệm vụ thực hiện các dịch


10

vụ kỹ thuật chăm sóc sức khoẻ ban đầu, phát hiện sớm các dịch bệnh và
phòng chống dịch, chăm sóc sức khoẻ ban đầu và đỡ đẻ th-ờng, cung cấp
thuốc thiết yếu, vận động nhân dân thực hiện các biện pháp KHHGĐ, tăng

kịp thời chính xác lên tuyến trên theo qui định thuộc đơn vị mình phụ trách.
- Bồi d-ỡng kiến thức chuyên môn kỹ thuật cho cán bộ y tế thôn, làng,
ấp, bản và nhân viên y tế cộng đồng.
- Tham m-u cho chính quyền xã, ph-ờng, thị trấn và giám đốc trung tâm
y tế huyện chỉ đạo các nội dung chăm sóc sức khoẻ ban đầu và tổ chức thực
hiện các nội dung chuyên môn thuộc các ch-ơng trình trọng điểm về y tế tại
địa ph-ơng.
- Phát hiện báo cáo Uỷ ban nhân dân xã và cơ quan y tế cấp trên các
hành vi hoạt động y tế phạm pháp trên địa bàn để kịp thời ngăn chặn và xử lý.
- Kết hợp chặt chẽ với các đoàn thể quần chúng, các ngành trong xã, để
tuyên truyền và cùng tổ chức thực hiện các nội dung công tác chăm sóc sức
khoẻ cho nhân dân.
Công việc CSSK cho nhân dân tại tuyến y tế xã là rất quan trọng vì trạm
y tế xã là đơn vị kỹ thuật y tế đầu tiên gần dân nhất, có khả năng phát hiện
sớm nhất các bệnh dịch có khả năng lây lan đồng thời có thể sơ cấp cứu và
điều trị ban đầu cho những tr-ờng hợp mắc bệnh tại cộng đồng. Đặc biệt là
các trạm y tế xã ở các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, ng-ời dân rất ít có
khả năng tiếp cận với y tế tuyến huyện do khoảng cách xa, ph-ơng tiện giao
thông gặp nhiều khó khăn, tổng chi phí cho một chuyến đi khám chữa bệnh tại
trung tâm y tế huyện là khá cao. Một trong những nhiệm vụ rất quan trọng của
trạm y tế xã là thực hiện các hoạt động CSSKBĐ cho nhân dân.


12

Trong những năm gần đây, Nhà n-ớc và ngành y tế đã triển khai việc
thực hiện một số chủ tr-ơng nhằm tăng c-ờng chất l-ợng hoạt động của trạm
y tế xã và bổ sung thêm nguồn lực cho trạm y tế xã. Một trong những chủ
tr-ơng đúng và có hiệu quả đó là chủ tr-ơng đ-a bác sĩ về công tác tại trạm y
tế xã. Bác sĩ về công tác tại trạm y tế xã sẽ làm tăng c-ờng chất l-ợng hoạt

90,4% dân số trong toàn quốc sống ở những xã, ph-ờng có ban chăm sóc sức
khoẻ ban đầu hoạt động. Các vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông
Cửu Long và bắc Trung Bộ có tỷ lệ các xã ph-ờng có ban CSSKBĐ cao nhất
(khoảng 95%), Trong khi ở vùng Tây nguyên tỷ lệ này thấp nhất là 72,3%.
Trong cả n-ớc mới có 75,1 xã ph-ờng có loa truyền thanh đ-ợc sử dụng để
truyên truyền cho nhân dân, cao nhất ở đồng bằng sông Hồng (98%), đồng
bằng sông Cửu Long (94%), thấp nhất ở vùng Đông Bắc (47,5%) và Tây Bắc
(41,9%). Tỷ lệ trạm có nhân viên tuyên truyền DS/KHHGĐ trong cả n-ớc là
72%. Tỷ lệ trạm có nhân viên tuyên truyền nuôi dậy trẻ trong cả n-ớc là 72%,
khu vực thành thị cao hơn ở nông thôn. Tỷ lệ trạm có nhân viên tuyên truyền
vệ sinh môi tr-ờng trong cả n-ớc là 82,5%, vùng có tỷ lệ thấp nhất là Đông
Nam Bộ ( 64,2%) và cao nhất là Bắc Trung Bộ (95,6%). Tỷ lệ hộ gia đình hiểu
biết về biểu đồ tăng tr-ởng trẻ em rất thấp (40,8%), ngay ở vùng ven biển,
đồng bằng, trung du tỷ lệ này cũng ch-a đến 50%, ở vùng núi cao chỉ đạt
20,7%. Tỷ lệ hộ dân đ-ợc tuyên truyền về vitamin A, tiêm chủng mở rộng đạt
tỷ lệ rất cao trên 90% ở tất cả các vùng. Tỷ lệ hộ dân đ-ợc tuyên truyền về
cách nuôi con, phòng chống bệnh tiêu chảy đều đạt trên 60% (trừ vùng núi
cao là 46,2%) [15], [39], [42], [60].
Theo Bộ Y tế (2001), tỷ lệ hộ có nhà tiêu là 72,6%, tỷ lệ hộ không có nhà
tiêu là 11,2%, tỷ lệ hộ có nhà tiêu chung là 16,2%. Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng
nhà tiêu hợp vệ sinh là 41,6%. Số hộ gia đình đ-ợc xe gom rác chiếm tỷ lệ
nhỏ (21,9%), khu vực thành thị nơi đổ rác là xe gom rác (71%), ở nông thôn
đốt rác là cách giải quyết chủ yếu (63%) [7], [33].


14

Qua điều tra cho thấy trong toàn quốc chỉ có 60% trạm y tế xã/ph-ờng có
trồng cây thuốc nam, 5,5% trạm y tế có cán bộ y học cổ truyền, 40,7 trạm y tế
có điều trị bằng châm cứu, 10,6% khám chữa bệnh qua bắt mạch [15]. Tỷ lệ

Khu vực miền núi, Tây Nguyên, biên giới, hải đảo
- Những xã d-ới 3000 dân đ-ợc bố trí 4 cán bộ y tế.
- Những xã trên 3000 dân đ-ợc bố trí 5-6 cán bộ y tế.
- ở vùng cao, vùng sâu, miền núi, nơi xa xôi hẻo lánh chỉ cần bố trí 1
hoặc 2 bác sỹ hay y sỹ th-ờng xuyên có mặt tại trạm y tế để làm nhiệm vụ
theo dõi, tổng hợp tình hình y tế trong xã, thực hiện các dịch vụ y tế cho nhân
dân tại các bản, buôn, làng gần cơ sở y tế và nhu cầu của nhân dân trong xã;
số cán bộ y tế còn lại đ-ợc phân công về công tác tại các bản, buôn, làng, ấp
và định kỳ tổ chức giao ban tại trạm.
Khu vực thành phố, thị xã, thị trấn
Các ph-ờng, thị trấn bố trí 2-3 ng-ời.
Theo Đơn vị chính sách - Vụ Kế hoạch Bộ Y tế nghiên cứu tại 28 xã
nông thôn Việt Nam trong 2 năm 2000-2001 thì số cán bộ y tế trung
bình/trạm y tế xã tại miền Bắc là 5,8, tại miền Trung là 4,4 và miền Nam là
6,4 với số dân trung bình/xã t-ơng ứng tại 3 miền là: 5768, 7570, 17104 [59].
Tính đến 31/12/2005 số cán bộ y tế tuyến xã trong cả n-ớc là 49589
trong đó có 2 thạc sỹ 6333 bác sỹ, 3 d-ợc sỹ đại học, 1 kỹ thuật viên y đại
học, 7 nữ hộ sinh đại học, 24402 y sỹ, 129 kỹ thuật viên cao đẳng và trung
học y, 564 d-ợc sỹ trung học, 6 kỹ thuật viên trung học d-ợc, 4471 y tá cao
đẳng và trung học, 6101 nữ hộ sinh cao đẳng và trung học, 1588 nữ hộ sinh sơ
học, 36 kỹ thuật viên sơ học y, 59 l-ơng y, 789 d-ợc tá và đ-ợc phân theo khu
vực nh- sau [34]:


16

Bảng 1.1. Tình hình cán bộ y tế xã phân theo khu vực [34]
Khu vực

Số xã có % số xã


Vùng Đông Bắc

1417

67,9

1929

92,4

Vùng Tây Bắc

140

23,4

478

79,9

Vùng Bắc Trung Bộ

1061

58,5

1720

94,8

94,4

Vùng đồng bằng sông
Cửu Long

1261

82,3

1460

95,3

Theo điều tra y tế năm 2001-2002 cho thấy tỷ lệ trạm y tế có đủ cơ cấu
cán bộ theo qui định là rất thấp, chỉ đạt 13% ở khu vực thành thị và 11,5% ở
khu vực nông thôn, còn 15% trạm y tế xã ch-a có cán bộ có chuyên môn về
sản. Tỷ lệ trạm có cán bộ y học cổ truyền chỉ đạt 5,6% [33]
1.2.5. Nguồn tài chính
Nguồn tài chính của trạm y tế xã
Để có thể hiểu đ-ợc những khó khăn và thuận lợi của việc khám chữa
bệnh tại trạm y tế xã thì những thông tin và cơ chế phân bổ ngân sách y tế cho
từng tuyến, đặc biệt là phân bổ cho trạm y tế xã đóng vai trò rất quan trọng
[46]. Sơ đồ d-ới đây minh hoạ cơ chế phân bổ ngân sách y tế cho từng tuyến y
tế.


17

Bộ Tài chính


hoạt động của các ch-ơng trình y tế chứ không hỗ trợ cho các hoạt động
khám chữa bệnh hàng ngày. Một số ch-ơng trình y tế hoặc các tổ chức
nhân đạo cũng trang bị cho trạm y tế những trang thiết bị y tế và các vật
liệu truyền thông.


18

- Nguồn kinh phí hỗ trợ từ UBND xã. Nguồn kinh phí này tuỳ thuộc vào
nguồn thu của UBND xã. Những xã giàu có thể hỗ trợ nhiều, các xã nghèo
hỗ trợ ít. Theo quy định của nhà n-ớc, UBND xã hỗ trợ mỗi trạm y tế xã từ
500000 đ đến 1000000 đ/tháng nh-ng trên thực tế không phải trạm y tế nào
cũng nhận đ-ợc nguồn kinh phí này [60].
- Nguồn thu từ khám chữa bệnh và bán thuốc. Nguồn thu này ở các
trạm y tế xã cũng rất hạn chế do số l-ợng ng-ời bệnh đến trạm y tế xã không
đông, mức thu thấp.
- Chủ tr-ơng khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT tại trạm y tế xã sẽ giải
quyết đ-ợc việc tăng ngân sách y tế cho trạm y tế xã, đồng thời nâng cao
đ-ợc chất l-ợng khám chữa bệnh tại xã. Theo báo cáo từ huyện Sóc Sơn mỗi
ng-ời bệnh có thẻ BHYT đến khám tại trạm y tế xã thì BHYT huyện sẽ trả
cho trạm y tế xã 1000 đ. Đó là ch-a kể các khoản kinh phí khác và các TTB
y tế [5].
1.2.6. Phân bố
Cho đến hết 31/12/2005 cả n-ớc có 10679 xã có trạm y tế đ-ợc phân bố
nh- sau [34]:
- Vùng đồng bằng sông Hồng có 2247 trạm y tế
- Vùng Đông Bắc có 2077 trạm y tế
- Vùng Tây Bắc có 589 trạm y tế
- Vùng Bắc Trung bộ có 1801 trạm y tế
- Vùng duyên hải Nam Trung bộ có 843 trạm y tế

100% xã ph-ờng đ-ợc khảo sát, đánh giá theo 10 chuẩn quốc gia về y tế xã.
Đến hết năm 2005, toàn tỉnh đã có 115/263 xã đạt chuẩn chiếm tỷ lệ 43,7%
[85].


20

1.3. Các giải pháp nâng cao chất l-ợng hoạt động của trạm y
tế xã

1.3.1. Các giải pháp đ-a cán bộ y tế về trạm y tế xã
Một trong các yêu cầu về chuẩn của của trạm y tế xã đó là chuẩn về
nhân lực:
+ Số l-ợng cán bộ : Đảm bảo định biên cán bộ theo quy định hiện hành.
+ Cơ cấu cán bộ:
1. Trạm y tế tối thiểu cần có:
- Bác sĩ hoặc y sĩ đa khoa (đồng bằng phải có bác sĩ )
- Nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi
- Y tá (đồng bằng phải có y tá trung học trở lên)
2. Đối với trạm y tế có từ 4 cán bộ trở lên, phải có 1 cán bộ y học cổ
truyền chuyên trách. Khi ch-a đủ 4 cán bộ trở lên, trạm y tế phải có cán bộ
đ-ợc bổ túc thêm về y học cổ truyền.
3. Trạm y tế phải có cán bộ có trình độ d-ợc tá (có thể kiêm nhiệm) để
quản lý thuốc trên địa bàn xã.
Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những xã đ-ợc tăng c-ờng nhân lực (có
bác sỹ, có đủ cơ cấu cán bộ theo tiêu chuẩn của bộ y tế, có mạng l-ới y tế
thôn bản, cán bộ trạm đ-ợc đào tạo về quản lý) đều có số l-ợt sử dụng dịch vụ
y tế cao hơn các xã khác. Tuy nhiên số l-ợt sử dụng dịch vụ cao hơn này chủ
yếu ở dịch vụ khám chữa bệnh, đặc biệt là ở những xã có bác sỹ (số l-ợt
DVKCB là 2,86 l-ợt/cán bộ/ ngày) [16].

cho những năm tiếp theo để phấn đấu đạt mục tiêu 100% số xã có bác sỹ,
100% số trạm có nữ hộ sinh (nữ hộ sinh sơ học đào tạo thành trung học, nữ hộ
sinh trung học đào tạo thành y sỹ sản nhi). Nguồn đào tạo cho cơ sở tốt nhất là
chọn những ng-ời tại địa ph-ơng, bồi d-ỡng thêm về kiến thức văn hoá và đào
tạo chuyên môn để khi ra tr-ờng họ công tác tại quê h-ơng và phục vụ nhân
dân địa ph-ơng. Vấn đề cần giải quyết là phải có định h-ớng về chiến l-ợc


22

đào tạo hợp lý giữa thi tuyển và cử tuyển, giữa đào tạo chung và đào tạo theo
địa chỉ, giữa đào tạo y tế chuyên sâu và đào tạo y tế cộng đồng...
- Về kinh phí đào tạo, kết hợp việc thực hiện xã hội hoá công tác giáo
dục theo ph-ơng châm Nhà n-ớc (Trung -ơng và địa ph-ơng) và nhân dân (cá
nhân và cộng đồng) cùng làm. Đối với vùng cao, miền núi, vùng dân tộc thiểu
số... kinh phí của Nhà n-ớc là chủ yếu; đối với vùng đô thị, kinh phí của nhân
dân là chính; đối với vùng đồng bằng, trung du, kinh phí của nhà n-ớc và của
nhân dân t-ơng đ-ơng nhau. Đồng thời nhà n-ớc phải có chính sách khuyến
khích đối với những bác sỹ tình nguyện đến công tác vùng cao, miền núi,
vùng dân tộc thiểu số, mặt khác có quy chế đối với những ng-ời sau khi đ-ợc
đào tạo phải cống hiến một số năm tr-ớc khi tự làm việc khác, nếu không phải
hoàn trả số kinh phí của nhà n-ớc chi cho đào tạo. Thực hiện tốt công tác đào
tạo bác sỹ, nữ hộ sinh... cho y tế cơ sở cũng là góp phần giải quyết vấn đề
ng-ời nghèo đi học và thực hiện công bằng trong đào tạo.
Các giải pháp đ-a bác sỹ về công tác tại trạm y tế xã:
Trong số cán bộ công tác tại trạm y tế xã thì lực l-ợng bác sỹ đóng một
vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất l-ợng dịch vụ y tế của trạm, cả
dịch vụ khám chữa bệnh, dịch vụ chăm sóc dự phòng và dịch vụ truyền thông
giáo dục sức khoẻ [29]. Nghị định 37/CP của chính phủ về Định h-ớng chiến
l-ợc công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân từ 1996-2000, xác định

Nhờ các giải pháp về chế độ, chính sách đối với cán bộ y tế công tác tại
trạm y tế cũng nh- các biện pháp tăng c-ờng đào tạo cán bộ cho trạm y tế, số
l-ợng cán bộ y tế tại tuyến xã đã tăng lên không ngừng cả về số l-ợng và chất
l-ợng. Năm 1996 tại tuyến xã cả n-ớc có 39670 cán bộ y tế, trong đó có 2119
bác sĩ, 21655 y sĩ, 38 kỹ thuật viên y, 1326 điều d-ỡng trung học, 2215 nữ hộ
sinh trung học. Năm 2000 toàn quốc đã có số cán bộ y tế tại tuyến xã là
44655, trong đó có 3959 bác sĩ, 24089 y sĩ, 85 kỹ thuật viên y, 2280 điều
d-ỡng trung học, 1 nữ hộ sinh đại học, 3893 nữ hộ sinh trung học. Tính đến


24

31/12/2004 cả n-ớc đã có số cán bộ y tế tại tuyến xã là 49358, trong đó có 1
thạc sỹ y, 6313 bác sĩ, 24264 y sĩ, 1 kỹ thuật viên y đại học, 146 kỹ thuật viên
y, 3962 điều d-ỡng cao đẳng và trung học, 5 nữ hộ sinh đại học, 5924 nữ hộ
sinh cao đẳng và trung học, 7275 xã có bác sĩ (chiếm 67,8%), 9986 số xã có y
sĩ sản nhi (chiếm 93%) đ-ợc phân theo các khu vực nh- sau: Số xã có bác sĩ
chiếm tỷ lệ cao tại các vùng Đông Nam Bộ, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng
đồng bằng sông Cửu Long. Vùng Tây Bắc có tỷ lệ xã có bác sỹ chiếm tỷ lệ rất
thấp (24,3%). Số xã có y sĩ sản nhi hoặc nữ hộ sinh chiếm tỷ lệ t-ơng đối cao,
riêng vùng Tây Bắc mới chỉ có 75,4% xã có y sĩ sản nhi hoặc nữ hộ sinh [8],
[9], [10], [11], [12]. Tính đến 31/12/2005 số cán bộ y tế tuyến xã trong cả
n-ớc là 49589 trong đó có 2 thạc sỹ 6333 bác sỹ, 3 d-ợc sỹ đại học, 1 kỹ thuật
viên y đại học, 7 nữ hộ sinh đại học, 24402 y sỹ, 129 kỹ thuật viên cao đẳng
và trung học y, 564 d-ợc sỹ trung học, 6 kỹ thuật viên trung học d-ợc, 4471 y tá
cao đẳng và trung học, 6101 nữ hộ sinh cao đẳng và trung học, 1588 nữ hộ sinh
sơ học, 36 kỹ thuật viên sơ học y, 59 l-ơng y, 789 d-ợc tá.
Tại Hải D-ơng số l-ợng và chất l-ợng cán bộ y tế tại trạm y tế xã cũng
không ngừng đ-ợc cải thiện. Năm 2000 có1089 cán bộ y tế, trong đó có 85
bác sĩ, 580 y sĩ, 217 điều d-ỡng trung học, 193 nữ hộ sinh trung học. Tính đến

do Bộ Y tế ban hành, với một số tiêu chí cơ bản sau:
1. Vị trí gần trục đ-ờng giao thông, ở khu trung tâm xã
2. Diện tích đất: Trung bình từ 500 m2 trở lên với khu vực nông thôn và
từ 150 m2 trở lên với khu vực thành thị
3. Tổng thể công trình bao gồm:
- Khối nhà chính, công trình phụ trợ.
- Sân phơi, v-ờn mẫu trồng cây thuốc.
- Cây xanh bóng mát chiếm trên 30% diện tích khu đất.
- Có hàng rào bảo vệ, có cổng và biển tên trạm.
4. Khối nhà chính:
- Cấp công trình: tối thiểu cấp III
- Diện tích tối thiểu: trung bình từ 90 m2 trở lên.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status