Tiểu luận môn các đảng chính trị trên thế giới sự hình thành và phát triển của đảng dân chủ và xã hội ở vương quốc đan mạch - Pdf 43

A MỞ ĐẦU
Đảng Cộng sản Việt Nam trong vai trò là đảng cầm quyền, đảng duy nhất
lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trong những năm qua đã luôn luôn đổi mới, tìm
tòi những bước đi thích hợp nhất nhằm đưa đất nước tiến nhanh trên con đường
xã hội chủ nghĩa. Thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hoá, đa
phương hoá các quan hệ quốc tế, Đảng ta đã và đang lãnh đạo nhà nước và các tổ
chức xã hội nước ta tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với các quốc gia, các
tổ chức quốc tế và các đảng chính trị, trên cơ sở nguyên tắc độc lập tự chủ, cùng
có lợi. Trong khi duy trì và phát triển quan hệ với các đảng cộng sản và các
nước xã hội chủ nghĩa, Đảng và nhà nước ta cũng đã có quan hệ với nhiều đảng
cầm quyền ở các nước theo những chế độ chính trị khác nhau. Việc nghiên cứu
về các đảng cầm quyền ở những nước này có ý nghĩa thực tiễn và lý luận sâu sắc.
Trước chủ trương thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ
đa phương hóa các quan hệ quốc tế hiện nay. Chúng ta nên mở rộng quan hệ với
các nước bạn bè. Mở rộng hơn nữa quan hệ giữa các đảng chính trị, không chỉ
là quan hệ với các đảng cộng sản của các nước mà còn cần tìm hiểu, học tập
them kinh nghiệm của các đảng cầm quyền của các nước trên thế giới
Ở nước Đan Mạch, cuộc bầu cử năm 2011, đảng Dân chủ xã hội đã đạt
được 44 ghế trong quốc hội tuy đạt được số phiếu thấp chưa đủ để tự mình
thành lập một chính phủ riêng. Tuy nhiên đảng đã liên minh với 2 đảng khác
thành công là Đảng Xã hội nhân dân và đảng Xã hội-Tự do để thành lập một
chính phủ. Đảng Dân chủ xã hội cũng là một Đảng có đóng góp to lớn cho đất
nước Đan Mạch phát triển các nguồn lợi từ phúc lợi của nhà nước đối với nhân
dân.
Chính vì vậy tôi chọn đề tài: “sự hình thành và phát triển của Đảng
Dân chủ và xã hội ở vương quốc Đan Mạch” làm tiểu luận kết thúc môn học
của mình.

1




chính trị theo quan điểm chính trị Mác xít, từ điểm bách khoa triết học (Liên
Xô) định nghĩa. Đảng chính trị là tổ chức chính trị thể hiện những lợi ích của
một giai cấp hay của một tầng lớp xã hội, liên kết những đại diện ưu tú nhất
của giai cấp để lãnh đạo giai cấp đạt tới những mục đích và lý tưởng nhất định.
Có nhiều lý do khiến các đảng phải liên kết lại trong hoạt động chính trị
và nắm chính quyền. Trước hết, do chế độ bầu cử Tổng thống và các cuộc bầu
cử quan trọng khác (như bầu cử Quốc hội, Hội đồng) theo nguyên tắc phổ thông
đầu phiếu với đa số phiếu qua hai vòng bầu cử đã buộc các đảng ít có hy vọng
thắng cử phải liên kết với các đảng lớn để có cơ hội giành thắng lợi cho ứng cử
viên chung của họ, và tránh bị gạt ra khỏi trường chính trị sau này vì tỷ lệ phiếu
bầu thu được quá ít. Một lý do nữa là, các nguyên tắc hoạt động của các thể chế
Nhà nước buộc các đảng phái phải tập hợp lại với nhau để bảo vệ quyền lợi của
mình (đối với phe đa số nắm quyền) hoặc để chống đối, gây cản trở cho chính
quyền hoạt động (đối với phe đối lập). Nhũng buổi thảo luận tại Quốc hội,
thượng nghị viện, thông qua các đạo luật, bỏ phiếu tín nhiệm hay không tín
nhiệm Chính phủ... đều cho thấy rõ quan điểm đối lập giữa 2 phe và sự tập hợp
lực lượng của mỗi phe thể hiện qua tiếng nói chung của nhóm nghị sĩ đại diện.
Trong xã hội dân chủ, đảng chính trị phải là đảng hợp pháp, được pháp
luật thừa nhận vì tổ chức và được hoạt động chính trị theo khuôn khổ của pháp
luật. Từ những đặc trưng trên của đảng chính trị có thể đưa ra một quan niệm
chung về đảng chính trị như sau: Đảng chính trị hay còn gọi là chính đảng, là
một tổ chức chính trị đại diện của một giai cấp, một lực lượng xã hội, có (hoặc
không có) tư cách pháp nhân, gồm những người có cùng chứng kiến, tự nguyện
tham gia hoạt động liên tục, nhằm thực hiện mục tiêu giành, giữ và thực thi
quyền lực nhà nước.
1.2. Lý luận chung về Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo.
Theo cách hiểu phổ biến trên thế giới hiện nay: Đảng cầm quyền (ruling
party) là đảng giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử dân chủ và cạnh tranh.
3

bằng tiền bạc, hàng hóa… và thu được lợi qua các quỹ hỗ trợ của các tổ chức;
4


quy định thời gian vận động tranh cử ngắn hơn so với các nước Âu Mỹ, cấm
ứng cử viên đến từng gia đình vận động tranh cử, tuy có cho phép vận động trên
phương tiện thông tin đại chúng nhưng theo mức độ đã được quy định và hạn
chế tuyên truyền trên sách báo, ngôn luận, do đó hoạt động chính trị của các
Đảng không đi vào quần chúng, cản trở sự tích cực của nhân dân trong việc
tham gia vào hoạt động chính trị thông qua hoạt động bầu cử…
Ở các nước có từ hai Đảng trở lên, bầu cử là cuộc đấu tranh giành giật
quyền lực rất gay gắt giữa các Đảng chính trị. Sau cuộc tổng tuyển cử, Đảng
cầm quyền – là Đảng chiếm đa số ghế trong nghị viện và ứng cử viên của mình
thắng cử trong cuộc bầu cử – có quyền đứng ra thành lập Chính phủ và các
thành viên hoạt động tích cực trong chiến dịch vận động bầu cử của Đảng sẽ
được bổ nhiệm vào các chức vụ trong chính quyền. Mọi hoạt động của Chính
phủ phải thể hiện ý chí của Đảng cầm quyền thông qua ý chí của người lãnh đạo.
Để trở thành Đảng cầm quyền, Đảng chính trị cần phải:
- Có tổ chức, hệ tư tưởng đủ mạnh và tuyên truyền, giáo dục hệ tư tưởng,
đường lối của Đảng mình cho thành viên và công chúng để có khả năng thu hút
lực lượng về mình và nhận được sự ủng hộ cũng như bảo vệ của các lực lượng
xã hội.
- Bảo đảm số ứng cử viên là thành viên của Đảng thắng cử tham gia vào
cơ quan nhà nước và có khả năng thực hiện lợi ích của Đảng.
- Tuyển chọn và bố trí nhân sự vào bộ máy cơ quan quyền lực nhà nước.
Đảng nắm chính quyền thông qua đội ngũ Đảng viên là công chức trong các cơ
quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.
- Xây dựng chủ trương, cương lĩnh, chính sách của Đảng đúng đắn, phù
hợp, phản ảnh và thỏa mãn nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân và cam kết
thực hiện nếu thắng cử và lập được Chính phủ.

đã kiểm soát cửa ngõ vào biển Baltic. Trước khi có kênh đào Kiel, nước chảy
vào biển Baltic qua ba eo biển được gọi là những eo biển Đan Mạch.
Đan Mạch là một vùng đất thấp được hình thành do băng trượt kéo theo
đất đá. Chỉ khu vực đảo Bơn- hôm ở vùng biển Ban-tích có bề mặt đá cổ. Đỉnh
núi cao nhất là I-đinh Xcốp-vơ-hoi, 173m, ở bán đảo Giút-len. Các hòn đảo phía
đông vùng Giút-len chiếm gần 1/3 diện tích Đan Mạch.
Đan mạch có khí hậu ôn hoà và ẩm. Mùa hạ mát mẻ (16 0C). Mùa đông
lạnh (00C). Vùng Bơn-hôm ở phía đông Đam Mạch có khí hậu khắc nghiệt hơn.
Đan Mạch có 14 hạt và 2 cộng đồng là những đơn vị hành chính trực
thuộc Trung ương. Đảo Grơn-len và quần đảo Pha-rô là các vùng lãnh thổ tự trị
phụ thuộc.
Vương quốc Đan mạch là nước Quân chủ nghị viện (từ năm 1953).
Hiến pháp đầu tiên được ban hành năm 1849, được sửa lại toàn bộ và
được ban hành ngày 5 tháng Sáu năm 1953.
Nghị viện gồm 179 thành viên được bầu bằng tuyển cử phổ thông đầu
phiếu theo chế độ đại diện tỷ lệ, nhiệm kỳ 4 năm. Mỗi khu vực tự trị phụ thuộc
bầu ra hai thành viên. Vua bổ nhiệm Thủ tướng. Thủ tướng điều hành đa số các
thành viên của Nghị viện. Nghị viện bổ nhiệm các thành viên của Hội đồng Nhà
nước (Nội các). Hội đồng Nhà nước chịu trách nhiệm trước Nghị viện.
6


Đan Mạch đã tổ chức bầu cử lại Quốc hội vào ngày 13 tháng Mười một
năm 2007 và kết quả cuộc bầu cử Quốc hội đã được công bố: Liên minh Trung
hữu do đảng Tự do (LP) đứng đầu đã giành được 36.7% số phiếu bầu 64/179
ghế; đảng Dân chủ xã hội giành 225.5% số phiếu 45/179 ghế; đảng Nhân dân
Đan Mạch 13.9% số phiếu 25/179 ghế, đảng Xã hội Nhân dân 13.0% số phiếu
với 23/179 ghế; đảng xã hội Tự do Đan Mạch 5.1% số phiếu bầu và 9 ghế; đảng
Liên minh Mới 2.8% số phiếu 4 ghế và đảng Dân chủ Thiên chúa giáo 0.9% số
phiếu và không được ghế nào. Từ ngày 23/11/2007 đến 05/4/2009 Anders Fogh

Ăng-lô Đan Mạch, nhưng chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn. Trong thời kỳ
Trung Cổ, Đan Mạch chìm ngập trong các cuộc chiến tranh lãnh thổ và rối loạn
triều chính. Cho đến năm 1660, Đan Mạch vẫn duy trì nền quân chủ. Năm 1380,
Đan Mạch chiếm Na Uy. Năm 1397, theo thoả ước Kan-mơ, Hoàng hậu Mácgơ-rét I đã thống nhất cả bư vương quốc Xcăng-đi-na-vơ (Đan Mạch, Na Uy và
Thuỵ Điển ngày nay). Nhưng vào năm 1583, Thuỵ Điển đã khẳng định lại nền
độc lập của mình. Giáo Phái Lu Thơ trở thành tôn giáo chính thống. Sang thế kỷ
XVII, Đan Mạch chịu lép vế trước Thuỵ Điển trong cuộc cạnh tranh để kiểm
soát cửa ngõ vào biển Ban-tích. Đan Mạch bị thất bại trong cuộc chiến tranh 30
năm (1618 - 1648), tuy nhiên, sau những năm 1660, Thuỵ Điển suy yếu đã tạo
cơ hội cho Đan Mạch khẳng định lại sức mạnh của mình.
Các cuộc phiêu lưu tìm kiếm thuộc địa, trong thế kỷ XVIII, của Đan
Mạch đã mang lại sự phồn vinh, song liên minh giữa Đan Mạch và nước Pháp
của Na-pô-lê-ông lại mang tai hoạ. Năm 1815, Đan Mạch mất Na Uy cho Thuỵ
Điển. Các công quốc Sơ-lê-uých và Hôn-xtên phía Nam trở thành chủ đề tranh
chấp phức tạp với Phổ. Sau một cuộc chiến tranh ngắn với Phổ và áo (1864),
Đan Mạch phải nhường lại các công quốc này. Tuy vậy, Bắc Sơ-lê-uých đã được
trao lại cho Đan Mạch năm 1920 theo Hoà ước Véc-xây (1919). Sang thế kỷ
XX, các thuộc địa cuối cùng của Đan Mạch hoặc là bị bán đi (như Viếc-gin Ailen bán cho Mỹ năm 1917), hoặc được độc lập (như Ai-xơ-len, 1944), hoặc được
trao quyền tự trị (Pha-rô, 1948; Grin-len, 1979). Trong những năm 1940-1945,
8


Đan Mạch bị Đức quốc xã chiếm và sau đó là thành viên của Liên minh phương
Tây. Từ những năm 1960, các mối quan hệ kinh tế và chính trị của Đan Mạch
với Mỹ và Anh trở nên gắn bó hơn so với Na Uy và với Thuỵ Điển. Năm 1973,
Đan Mạch gia nhập khối cộng đồng châu Âu, mặc dù việc gia nhập Khối thị
trường chung đã khiến cho các đảng chính trị trong nước thêm chia rẽ.

9


gọi là sau đó, có hai thành viên đầu tiên của quốc hội được
bầu, P. Holm và Chr. Hørdum.
Trong năm 1924 cuộc bầu cử quốc hội đảng dân chủ xã hội giành được đa
số với 36,6 phần trăm số phiếu, và chính phủ đầu tiên của nó đã được đưa ra
với Thorvald Stauning làm Thủ tướng. Cũng trong năm đó ông được bổ nhiệm
của thế giới nữ bộ trưởng đầu tiên Nina Bang, chín năm sau khi quyền bầu cử
của phụ nữ đã được đưa ra ở Đan Mạch. Stauning ở lại quyền lực cho đến khi
ông qua đời vào năm 1942, đảng của ông đặt nền móng cho Đan Mạch nhà nước
phúc lợi, dựa trên sự hợp tác chặt chẽ giữa các công đoàn lao động và các chính
phủ.
Năm 1933 chính phủ Stauning của nhập vào những gì sau đó đã được giải
quyết sâu rộng nhất chưa vào chính trị của Đan Mạch - những cư
Kanslergade(Đan Mạch: Kanslergadeforliget). Việc giải quyết, được đặt tên sau
khi căn hộ Stauning trong Kanslergade ở Copenhagen , bao gồm trợ cấp nông
nghiệp mở rộng và cải cách pháp luật và hành chính trong lĩnh vực xã hội.
Năm 1935, Stauning đã tái đắc cử . Nhiệm kỳ thứ hai của Stauning kéo
dài cho đến khi Đức Quốc xã chiếm đóng của Đan Mạch vào năm 1940, khi nội
các đã được mở rộng để bao gồm tất cả các đảng phái chính trị, được gọi là Nội
các Thorvald Stauning III, và chính phủ Đan Mạch đã theo đuổi một chính sách
hợp tác với những kẻ chiếm đóng của Đức.
Thời hoàng kim và suy giảm
Đảng Dân chủ xã hội có chính quyền không bị gián đoạn 1953-1968 theo
một số thủ tướng mạnh mẽ và khác biệt của ông HedtoftÕs, HC Hansen, Viggo
Kampmann vàJens Otto Krag. Trong thời gian này, các nhà nước phúc lợi mở
rộng đáng kể, và các bên đã đạt được các kết quả bầu cử tốt nhất trong thời kỳ
hậu chiến. Sự thịnh vượng ngày càng tăng và thương mại hóa văn hóa đã nảy,
tuy nhiên, các truyền thống giai cấp công nhân và văn hóa làm việc tan
rã. Thành viên của Đảng Dân chủ Xã hội bắt đầu giảm và trong năm 2007 đã
11


12


lượng lao động giảm, bằng cách giảm thuế đối với tiền lương và dần dần hạ thấp
chi trả phúc lợi cho người bên ngoài của thị trường lao động để tăng lợi ích kinh
tế tương đối làm việc để nhận được phúc lợi.
Vì tình trạng thiểu số của chính phủ và vì sự phụ thuộc vào sự hỗ trợ của
đảng Tự do, chính phủ đã phải vứt bỏ nhiều chính sách mà đảng Dân chủ Xã hội
- Nhân dân Xã hội chủ nghĩa đảng liên minh đã được đưa ra trong chiến
dịch. Mặc dù các nhà phê bình đã cáo buộc chính phủ phá vỡ lời hứa của mình,
các nghiên cứu khác cho rằng nó đã hoàn thành nửa số bàn thắng đã đề ra, đổ lỗi
cho chiến lược quan hệ công chúng thay vì người nghèo cho công chúng hình
ảnh ngày càng tiêu cực của nó.
Chính phủ đã theo đuổi một chương trình nghị sự thỏa hiệp trung dung,
xây dựng một số cải cách với sự hỗ trợ từ cả hai mặt của quốc hội. Điều này đã
gây ra ma sát với sự hỗ trợ Red-Green Alliance, mà đã được lưu giữ bên ngoài
ảnh hưởng.
Đảng Dân chủ Xã hội 'chính sách xã hội thông qua năm 1990 và tiếp tục
trong thế kỷ 21 liên quan đến một ý nghĩa phân phối lại thu nhập và việc duy trì
một bộ máy nhà nước lớn với tài chung cốt lõi dịch vụ công như y tế
công cộng, giáo dục và cơ sở hạ tầng.
Chính phủ liên minh xã hội đảng Dân chủ lãnh đạo (các tủ của Poul
Nyrup

Rasmussen I, II, III, IV)

thực

hiện



một thặng



thương

mại 30

tỷ kroner (USD 4,9 tỷ) biến thành một thâm hụt. Để chống lại điều này, chính
phủ đã tăng thuế, hạn chế tiêu dùng cá nhân. Các sáng kiến năm 1998, được
mệnh danh là Whitsun Packet (Đan Mạch: Pinsepakken) từ mùa giải đó đã được
ban hành, không phải là phổ phổ biến với các cử tri, mà có thể là một yếu tố
trong thất bại của đảng Dân chủ Xã hội 'trong cuộc bầu cử quốc hội năm 2001.
Sau khi bị đánh bại bởi các đảng Tự do trong cuộc bầu cử năm 2001, giữ
chức chủ tịch đảng đi đến cựu tài chính và ngoại trưởng Mogens Lykketoft. Sau
thất bại khác trong cuộc bầu cử tháng 1 năm 2005, Lykketoft tuyên bố từ chức
lãnh đạo đảng, và tại một đại hội bất thường vào ngày 12 tháng 3, nó đã được
quyết định rằng tất cả các thành viên của đảng sẽ bỏ phiếu trong một cuộc bầu
cử của một nhà lãnh đạo đảng mới. Hai ứng cử viên cho các lãnh đạo đại diện
cho hai cánh trong đảng, với Helle Thorning-Schmidt được xem là ôn
hòa và Frank Jensen được xem là nhẹ hơn cánh tả. Ngày ngày 12 tháng 4 năm
2005 Helle Thorning-Schmidt được bầu làm lãnh đạo mới.
Tại cuộc bầu cử năm 2011, đảng Dân chủ xã hội đã đạt được 44 ghế trong
quốc hội, số lượng thấp nhất kể từ năm 1953. Tuy nhiên đảng đã thành công
trong việc thành lập một chính phủ thiểu số với Đảng Xã hội nhân dân, và
các đảng Xã hội-Tự do.
Các liên minh trung hữu đương nhiệm dẫn dắt bởi các đảng Tự Do bị mất
quyền lực cho một liên minh trung tả do đảng Dân chủ Xã hội làm Helle
Thorning-Schmidt nữ đầu tiên của đất nước, Thủ tướng. Các Đảng Tự do Xã

Đảng Dân chủ xã hội đã theo đuổi một chương trình nghị sự thỏa hiệp
trung dung, xây dựng một số cải cách với sự hỗ trợ từ cả hai mặt của quốc
hội. Điều này đã gây ra ma sát với sự hỗ trợ Red-Green Alliance, mà đã được
lưu giữ bên ngoài ảnh hưởng.
Trong năm 2015 cuộc bầu cử, đảng Dân chủ Xã hội nhiều ghế và trở
thành đảng lớn nhất trong quốc hội một lần nữa, chưa bị mất nước vì các bên về
các Quyền đã có một đa số.

15


KẾT LUẬN
Mô hình tổ chức và hoạt động của đảng Đảng Dân chủ xã hội tuy còn
nhiều điểm hạn chế và yếu kém, nhưng nhìn chung so với các chính đảng ở Đan
Mạch và trên thế giới hiện nay, mô hình tổ chức này được xem là hiện đại và rất
hiệu quả.
Mô hình tổ chức của Đảng Dân chủ xã hội cho phép đảng này quản lý
được các tổ chức đảng cấp dưới một cách chặt chẽ cả trong hoạt động và tài
chính. Việc duy trì các tổ chức đảng hoạt động thường xuyên giúp cho đảng này
có thể huy động lực lượng của đảng bất cứ lúc nào cần mà không bị phân tán,
rời rạc như các đảng chính trị ở những quốc gia khác.
Về hoạt động, Đảng Dân chủ xã hội được xem là một trong hai đảng có
hoạt động tích cực và hiệu quả nhất ở Đan Mạch hiện nay. Hiện nay Đan Mạch
là một trong các quốc gia có quỹ phúc lợi giành cho người dân lớn trên thế giới.
Chính vì vậy Đảng Dân chủ xã hội vẫn được sự tin tưởng của nhân dân Đan
Mạch

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status