Đề bài
Bằng kiến thức lý luận ,và vấn đề thực tiễn ,hãy làm rõ vấn đề quản lý của nhà nước đối
với cơ chế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Phần 1 :
Kinh tế thị trường (thực chất là tên gọi khác của kinh tế hàng hóa) là nền kinh tế dựa vào
thị trường để vận động và phát triển. Từ thế kỷ XIX Ph. Ăng-ghen đã dùng phạm trù
"kinh tế tiền tệ" để đối lập với kinh tế tự nhiên. Người viết: "Chính từ đó mà nền kinh tế
tiền tệ, đang phát triển, đã thâm nhập, giống như một chất a-xít ăn mòn, vào lối sống cổ
truyền của các cộng đồng nông thôn, dựa trên cơ sở nền kinh tế tự nhiên" (1). V.I. Lê-nin
cũng dùng phạm trù kinh tế tiền tệ để nói về một trong hai đặc trưng cơ bản của nền kinh
tế tư bản chủ nghĩa "một là, chế độ đó dựa vào kinh tế tiền tệ, hai là, dựa trên cơ sở mua
và bán sức lao động" (2). Như vậy, kinh tế thị trường hay kinh tế tiền tệ là phương thức
kinh tế đối lập với kinh tế tự nhiên, trong đó các sản phẩm xã hội được trao đổi thông qua
vật trung gian là tiền tệ. Nó là một hệ thống kinh tế tồn tại khách quan trên một trình độ
phát triển tương ứng của lực lượng sản xuất và trở thành một bộ phận quan trọng của
quan hệ sản xuất tương ứng. Nó không phải là một kiểu tổ chức kinh tế do con người tạo
ra bằng ý chí chủ quan của mình, mà hình thành một cách khách quan.
Cơ chế thị trường, hay cơ chế kinh tế thị trường không đồng nhất với kinh tế thị trường.
Cơ chế kinh tế thị trường hay cơ chế thị trường là guồng máy vận hành của nền kinh tế
thị trường. Cơ chế thị trường tuy phụ thuộc vào tính chất và yêu cầu khách quan của kinh
tế thị trường, song nó bị chi phối bởi yếu tố chủ quan, do con người thiết lập nên trên cơ
sở nắm bắt các quy luật phát triển khách quan. Nó phản ánh sự vận dụng của con người
bằng việc tổ chức ra guồng máy kinh tế "tự do" hay có điều tiết của nhà nước theo yêu
cầu vận động khách quan của nền kinh tế thị trường trong các giai đoạn phát triển khác
nhau. Cơ chế thị trường vận động có sự tham gia của nhiều yếu tố, trong đó nổi bật nhất
là quan hệ thị trường cung - cầu và giá cả. Bản chất sâu xa của cơ chế thị trường là cơ chế
vận hành theo sự chi phối của quy luật giá trị. Tuy vậy, trong một nền kinh tế hàng hóa
cụ thể, sự vận động chung còn tùy thuộc vào chế độ sở hữu thống trị, chịu sự tác động
qua lại với các quy luật kinh tế đặc thù của phương thức sản xuất chủ đạo, hơn nữa còn
chịu sự chi phối của quy luật kinh tế chủ đạo trong phương thức sản xuất đó.
(Theo tapchicongsan)
đổi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất bằng công hữu làm nẩy sinh chủ nghĩa xã hội. Chế
độ công hữu về tư liệu sản xuất là đặc trưng cơ bản của xã hội chủ nghĩa, do đó không thể
không có kế hoạch. Đó cũng là trừu tượng hoáchủ nghĩa xã hội.
b- Do điều kiện mỗi nước đi lên chủ nghĩa xã hội khác nhau, nên có nhiều hình thức áp
dụng cho một phạm trù kinh tế tuỳ theo điều kiện nước đó. Cho nên không nên lẫn lộn
giữa bản chất và hình thức và cũng không nên cố định hoá, đơn nhất hoá và tuyệt đối hoá
một hình thức thực hiện nào đó.
Mặt khác, cũng cần thấy sự hác biệt giữa hình thức thực hiện hiện nay và hình thức thực
hiện tương lai để tránh coi hình thức thực hiện hiện nay là vấn đề của tương lai hoặc
ngược lại lấy hình thức chỉ có thể thực hiện phổ biến trong tương lai áp dụng phổ biến
cho trước mắt. Hai cách làm đó đều dẫn đến sai lầm.
c- Có những phạm trù kinh tế tồn tại trong nhiều chế độ xã hội, mỗi xã hội đều áp dụng
nó không nhất thiết phải làm thêm cái đuôi xã hội chủ nghĩa mới là có lập trường bởi vì
cho đến nay không ai nói quy luật giá trị xã hội chủ nghĩa cả, thế thì cần gì phải nói thị
trường xã hội chủ nghĩa vì thị trường đó cũng chỉ là vận dụng quy luật giá trị chung thôi
còn hướng tồn đọng của nó do nhà nước tác động.
Từ cách đặt vấn đề nói trên, hãy xem xét sự khác nhau giữa cơ chế thị trường trong nền
kinh tế tư bản chủ nghĩa và cơ chế thị trường trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa hay đúng
hơn là nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
ews.asp?ID=660
phần 3 Thị trường và vai trò quản lý của nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Tham khảo
TS. Nông phú Bình
Học viện Hành chính quốc gia
Thị trường là phạm trù kinh tế - xã hội phức tạp, một lĩnh vực khoa học vẫn đang có sự
trao đổi, nghiên cứu nhằm đạt được sự thống nhất về lý luận và thực tiễn, trên cơ sở đó
tìm ra những biện pháp quản lý, khai thác những tiềm năng của nó phục vụ cho mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội.
Nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch, tập trung, bao cấp trước kia (có tác giả gọi nó là nền
kinh tế nhà nước 1 để phân biệt với kinh tế thị trường), thị trường được xem xét, nhìn
các doanh nghiệp, tạo động lực phát triển mạnh mẽ cho nền kinh tế.
Nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch tập trung, bao cấp trước kia đã tuyệt đối hoá vai trò
quản lý của Nhà nước, phủ nhận vai trò tự điều tiết của thị trường. Từ quản lý vĩ mô đến
quản lý vi mô đều do bàn tay của Nhà nước điều hành thông qua cơ chế kế hoạch hóa tập
trung cao độ từ trung ương đến địa phương và các đơn vị cơ sở bằng hệ thống các chỉ tiêu
kế hoạch pháp lệnh cứng nhắc. Cơ chế tập trung bao cấp đã sinh ra bộ máy quản lý nhà
nước cồng kềnh và hàng nghìn doanh nghiệp quốc doanh luôn dựa vào sự bao cấp của
Nhà nước, dẫn đến hậu qủa là sản xuất kinh doanh không có lãi, thị trường không phát
triển.
Nhận thức sớm được những mặt hạn chế của cơ chế cũ, Đảng và Nhà nước đã kịp thời
chuyển đổi nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường theo tinh thần nội dung của
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII là: "Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước".
Chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường là bước đi
đúng đắn, kịp thời của Đảng và Nhà nước ta. Song điều đáng chú ý ở đây là chúng ta vẫn
giữ vững vai trò "Quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN" chứ không phải theo
cơ chế thị trường tự do với sự tuyệt đối hóa vai trò tự điều tiết của thị trường như các học
thuyết kinh tế học cổ điển và lý thuyết "Bàn tay vô hình" mà A. Smith đã nêu ra.
Thực tế phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta trong những năm qua cho thấy "nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của
Nhà nước " là một mô hình phát triển hợp lý, vì nó có sự kết hợp giữa "Thị trường" với
"Nhà nước", tức là có sự kết hợp giữa "Bàn tay vô hình" với "Bàn tay hữu hình" của Nhà
nước để tạo nên một thể chế quản lý mới có tính hiệu quả cao hơn.
Vấn đề cần nghiên cứu, trao đổi ở đây là vai trò quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế
theo cơ chế thị trường hiện nay được thể hiện như thế nào, Nhà nước cần và không cần
can thiệp vào lĩnh vực nào của thị trường? Đây là một vấn đề có thể còn có nhiều cách
giải đáp theo những cách tiếp cận khác nhau. Nhưng, từ thực tế quản lý đã rút ra được
trong những năm qua, kết hợp với những bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới
đã cho thấy vai trò quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường được thể hiện ở
triển .
Môi trường kinh doanh thuận lợi còn thể hiện ở sự lành mạnh, bình đẳng trong cạnh tranh
giữa các thành phần kinh tế, giữa các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân hoạt động trong
một không gian kinh tế. Bởi vì, kinh tế thị trường lấy cạnh tranh làm cơ sở, động lực thúc
đẩy sự phát triển của thị trường, Nhà nước cần tạo ra cơ chế khuyến khích cạnh tranh
lành mạnh. Nhưng muốn có cạnh tranh lành mạnh, trước hết phải hạn chế và chống độc
quyền, bởi vì độc quyền là "bản án tử hình" của cơ chế thị trường, dù đó là độc quyền nhà
nước hay độc quyền tư nhân.
Kinh nghiệm thực tiễn đã cho thấy, đối với những nền kinh tế đang trong thời kỳ chuyển
đổi như ở nước ta hiện nay, thì cạnh tranh chưa thực sự đi vào tiềm thức trong hoạt động
kinh tế, chưa trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển của thị trường. Trong khi đó, độc
quyền nhà nước vẫn đang ngự trị trên nhiều lĩnh vực của nền kinh tế.
Độc quyền nhà nước lại chủ yếu dựa trên quyền lực hành chính chứ không phải dựa trên
năng lực hoạt động kinh tế, bởi vì chính các doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước hoạt
động không có hiệu quả. Độc quyền dựa trên quyền lực hành chính được xem như rào
cản hành chính đối với cạnh tranh. Theo một số học giả Trung Quốc (là nước có môi
trường kinh tế gần giống với Việt Nam) thì có 2 hình thức độc quyền chủ yếu dựa trên
quyền lực hành chính là: độc quyền ngành và độc quyền địa phương.
Độc quyền ngành, hay còn gọi là độc quyền theo chiều dọc là độc quyền của các bộ quản
lý chuyên ngành, hoặc của các tổng công ty, các công ty, các tập đoàn kinh tế lớn (của
nhà nước) vừa có chức năng quản lý hành chính nhà nước, vừa là nhà sản xuất hoặc nhà
kinh doanh trên một lĩnh vực hay một số ngành hàng nào đó. Có thể xem họ là những chủ
thể Hành chính - Kinh tế, bởi vì họ vừa có quyền lực, vừa có nhiều lợi thế về vốn, về địa
vị pháp lý, lại luôn nhận được những ưu đãi đặc biệt từ phía chính phủ hoặc chính quyền
địa phương. Nhờ những lợi thế đó, cho nên trong hoạt động sản xuất kinh doanh, họ "tự
nhiên" có được thế mạnh trên thị trường. Một số ngành như: Bưu chính viễn thông, Điện
lực, các Tổng công ty 90, Tổng công ty 91 hiện nay chính là những hình mẫu của hình
thức độc quyền theo ngành.
Độc quyền địa phương còn gọi là độc quyền theo chiều ngang, là hình thức bảo hộ sản
xuất địa phương bằng những biện pháp hành chính nhằm ngăn cấm những hàng hoá, dịch
hướng ổn định đã góp phần quan trọng đặc biệt trong cải thiện và ổn định kinh tế vĩ mô,
đồng thời có tác động tích cực đến nhiều lĩnh vực và quá trình khác của nền kinh tế.
Những thành tựu cơ bản đã đạt được là: thúc đẩy cơ chế thị trường, tăng cường tối đa tính
tự điều tiết của thị trường, tạo môi trường tự do và thuận lợi cho đầu tư sản xuất kinh
doanh. Nói cách khác, nó tạo điều kiện cho các tác nhân độc lập hoạt động sản xuất, kinh
doanh tham gia thị trường trên cả phía cung và phía cầu, không chỉ có doanh nghiệp nhà
nước mà nhiều doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế khác; chuyển từ chế độ đơn
sở hữu sang chế độ đa sở hữu, mà bên cạnh chế độ sở hữu nhà nước cho phép sở hữu tư
nhân tồn tại, trên cái nền sở hữu ấy (Nhà nước và tư nhân) mà sở hữu hỗn hợp, sở hữu cổ
phần,…hình thành; chuyển đổi chế độ quản lý, từ chế độ quản lý tập trung của nhà nước
sang chế độ doanh nghiệp tự quản lý, tách quản lý doanh nghiệp với nhà nước; chuyển
chế độ phân phối đơn nhất sang chế độ phân phối đa dạng, không chỉ theo kết quả lao
động và hiệu quả kinh tế, mà còn theo vốn, sở hữu trí tuệ,…trong đó lợi nhuận đóng vai
trò quan trọng khuyến khích cá nhân và doanh nghiệp.
Nhờ đó, mở ra môi trường cho nhân dân được quyền tự do sản xuất-kinh doanh theo các
hình thức tổ chức pháp lý doanh nghiệp; các tổ chức này tự điều tiết lẫn nhau trên quan
hệ cung-cầu, và trên cơ sở điều tiết gián tiếp kinh tế vĩ mô của Nhà nước theo các mục
tiêu ổn định và tăng trưởng toàn cục.
Tuy đã có được một số thành tựu đáng kể, nhưng, cơ chế thị trường ở nước ta vẫn còn có
nhiều vấn đề tồn tại. Cơ chế và cách thức vận hành của nền kinh tế Việt nam vẫn đậm sự
đan xen của cơ chế cũ (kinh tế kế hoạch hoá tập trung) và cơ chế mới (kinh tế thị trường)
đi kèm với những căn bệnh mới xuất hiện: quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, buôn lậu,
coi thường và vi phạm pháp luật. Môi trường đầu tư và kinh doanh với doanh nghiệp
không được lành mạnh, thiếu sự rõ ràng dẫn đến không có được sự cạnh tranh thị trường
lành mạnh. Một loạt chỉ số vĩ mô có dấu hiệu xấu đi: tỷ lệ tiền tệ hoá nền kinh tế thấp, tỷ
lệ thâm hụt ngoại thương đi liền với tỷ lệ thâm hụt cán cân vãng lai cao và có xu hướng
tăng,… Khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn cồng kềnh, có hiệu quả thấp, kéo dài; bao
cấp của Nhà nước vẫn còn rất lớn, phổ biến là đất đai, bảo lãnh tín dụng, bao cấp lãi xuất
tín dụng, hỗ trợ giá; số lượng lao động quá lớn; quản lý doanh nghiệp yếu; cơ chế quản lý
giám sát của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả. Nền hành chính
sách nhà nước-chấm dứt thời kì Nhà nước can thiệp hành chính phi kinh tế, tôn trọng kỉ
luật thị trường và tôn trọng kỉ luậtkinh tế vĩ mô. Phát triển và hoàn thiện các loại thị
trường như thị trường tài chính, thị trường hàng tiêu ding,thị trường nguyên vật liệu cho
sản xuất, thị trường vốn, thị trường đất đai…
Cải cách doanh nghiệp Nhà nước. Nghị định 388-HĐBT (20/11/1991) của Hội đồng Bộ
trưởng ban hành Quy chế về thành lập và giải thể doanh nghiệp Nhà nước đã đánh dấu
một bước mới trong tư duy và cách tiếp cận chính sách. Chính phủ đã ban hành các quyết
định số 90/TTg, 91/TTg (7/3/1994) và chỉ thị 500/TTg (25/8/1995) để tiếp tục tái cơ cấu
lại khu vực doanh nghiệp nhà nước; đồng thời ban hành Luật doanh nghiệp nhà nước
(4/1995); hàng loạt công ty nhà nước lớn mang tính chất tập đoàn kinh tế đã được thành
lập góp phần nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, nhất là cạnh tranh với các công ty
nước ngoài, có điều kiện để tăng tiềm lực vốn và khả năng huy động vốn, đồng thời tách
các doanh nghiệp nhà nước ra khỏi các bộ hoặc cơ quan chủ quản của chúng.
Thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân, kể cả đầu tư nước ngoài trực tiếp. Hiến pháp năm
1992 chính thức công nhận cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu sở hữu tư nhân, khuyến khích tổ chức, cá nhân nước
ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam, bảo đảm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài không bị quốc hữu hoá. Kể từ đó trở đi khu vực tư nhân đã và đang dần dần được
hưởng các quyền binh đẳng như đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước (như Luật Thuế,
Luật Phá sản), các quyền về xuất, nhập khẩu….lần đầu tiên trong lịch sử của nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khu vực kinh tế tư nhân đã được chính thức được đưa
vào thống kê quốc gia và trở thành một đối tượng trong chính sách kinh tế của Nhà nước.
Đầu tư nước ngoài trực tiếp được coi là nguồn vốn quan trọng cho phát triển kinh tế ở
việt Nam.
Phát triển kết cấu hạ tầng vật chất-kỹ thuật. Ngân sách Nhà nước vẫn đóng vai trò chính
trong xây dựng kết câu hạ tầng song còn có sự tham gia đầu tư của khu vực kinh tế ngoài
Nhà nước. Chi cho phát triển kết cấu hạ tầng trở thành khoản chi chủ yếu và là phần chi
lớn nhất của chi phát triển ngân sách nhà nước. Căn cứ để lập kế hoạch và dự toán ngân
sách nhà nước dựa vào tín hiệu cung-cầu thị trường, không còn mang tính chủ quan, duy
ý chí; là một chất lượng mới của công tác điều hành nền kinh tế của Nhà nước. Phương
Tuy nhiên, sự quản lý kinh tế của nhà nước xã hội chủ nghĩa và sự quản lý kinh tế của
nhà nước tư bản có sự khác nhau cơ bản. Sự quản lý của nhà nước tư sản đối với nền kinh
tế thị trường nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho các tổ chức độc quyền. Nhà nước xã hội
chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản quản lý nền kinh tế thị trường nhằm mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; bảo đảm cho mọi người
có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở nước ta có những chức năng kinh tế sau:
Một là, Nhà nước bảo đảm sự ổn định chính trị, kinh tế, xã hội và thiết lập khuôn khổ luật
pháp để tạo điều kiện cần thiết cho hoạt động kinh tế, vì ổn định chính trị, xã hội là điều
kiện cần thiết để phát triển kinh tế. Nhà nước còn phải tạo ra hành lang luật pháp cho
hoạt động kinh tế bằng cách đặt ra các điều luật cơ bản về quyền sở hữu tài sản và hoạt
động thị trường, đặt những quy định chi tiết cho hoạt động của các doanh nghiệp. Khuôn
khổ luật pháp mà Nhà nước thiết lập có tác động sâu sắc tới các hành vi của chủ thể kinh
tế, điều chỉnh hành vi kinh tế của họ.
Hai là, Nhà nước định hướng cho sự phát triển kinh tế và thực hiện điều tiết các hoạt
động kinh tế để bảo đảm cho nền kinh tế thị trường tăng trưởng ổn định . Nhà nước xây
dựng các chiến lược và quy hoạch phát triển, trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực để dẫn
dắt nền kinh tế-xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế. Nền kinh tế thị trường khó
tránh khỏi những chấn động bởi các cuộc khủng hoảng kinh tế và lạm phát, Nhà nước
phải sử dụng chính sách tiện tệ để ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện cho
phát triển kinh tế.
Ba là, Nhà nước bảo đảm cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả. Các doanh nghiệp vì lợi
ích hẹp hòi của mình có thể lạm dụng tài nguyên của xã hội, gây ô nhiễm môi trường
sống của con người. Vì vậy, Nhà nước phải thực hiện những biện pháp nhằm ngăn chặn
những tác động bên ngoài để nâng cao hiệu quả kinh tế-xây hội. Sự xuất hiện độc quyền
cũng làm giảm tính hiệu quả của hoạt động thị trường, vì vậy Nhà nước có nhiệm vụ rất
cơ bản là bảo vệ cạnh tranh và chống độc quyền để nâng cao tính hiệu quả của hoạt động
thị trường.
Bốn là, Nhà nước cần hạn chế, khắc phục các mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, thực
hiện công bằng xã hội. Sự tác động của cơ chế thị trường có thể đưa lại hiệu quả kinh tế