CHƯƠNG II ĐẤT ĐAI DIỆN TÍCH MẶT NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ THÂM CANH TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN. - Pdf 66

CHƯƠNG II
ĐẤT ĐAI DIỆN TÍCH MẶT NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ THÂM
CANH TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN.
Đất đai là gì? hiểu thế nào là đất đai diện tích mặt nước? Theo quan điểm của nhà
kinh tế học Các- mác:” Đất đai hiểu theo nghĩa rộng danh từ này bao hàm cả nước“. Như
vậy đất đai bao gồm:
- Phần lục địa bao gồm: Đất nông nghiệp, đất rừng và các loại đất khác.
- Phần mặt nước bao gồm: Nước ngọt, nước lợ, nước mặn.
Diện tích mặt nước hiểu theo nghĩa rộng nó bao gồm:
- Đất, nước, các chất dinh dưỡng (NPK) chứa đựng trong đó.
- Quần thể sinh vật sống trong đó (thực vật phù du, động vật phù du, thực vật thủy
sinh, động vật đáy)
- Của cải ẩn náu trong lòng nó (mỏ quặng, dầu khí…)
I. VỊ TRÍ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẤT ĐAI DIỆN TÍCH MẶT NƯỚC
Đất đai là cơ sở tự nhiên, là tiền đề trước tiên của mọi quá trình sản xuất. Nó tham
gia vào mọi quá trình sản xuất của xã hội nhưng tùy thuộc vào từng ngành cụ thể mà vai
trò của đất đai có sự khác nhau. Trong nuôi trồng thủy sản đất đai diện tích mặt nước
không chỉ tham gia với tư cách là yếu tố thông thường mà là yếu tố tích cực của sản xuất,
là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không thể thay thế được.
1. Đất đai diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất trong nuôi trồng thủy sản biểu hiện
nó vừa là tư liệu lao động vừa là đối tượng lao động
Trong quá trình sản xuất lao động của con người và các tư liệu sản xuất khác tác
động vào đối tượng nuôi trồng chủ yếu thông qua đất đai diện tích mặt nước qua hai giai
đoạn:
- Giai đoạn 1: Lao động con người đã dùng các yếu tố kỹ thuật, vật lý, hóa học,
sinh vật học tác động vào đất đai diện tích mặt nước. Ở giai đoạn này đất đai diện tích mặt
nước hoạt động với tư cách là đối tượng lao động.
+ Cải tạo ao: Cày, xới đáy ao làm cho đất tơi xốp tạo điều kiện cho vi sinh vật phát
triển
+ Bón phân (NPK): Nhằm bổ sung nguồn chất dinh dưỡng cho vùng nước.
+ Bón vôi: Nhằm diệt trùng, khử chua, làm vùng nước trở nên trung tính thích hợp

- Đất đai diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất không thể thay thế.
- Lao động của con người không tạo ra được vùng đất đai diện tích mặt nước hoàn
toàn mới.
- Nếu con người biết sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của đất đai diện tích mặt nước
không ngừng được nâng cao.
II. ĐỘ PHÌ NHIÊU CỦA ĐẤT ĐAI DIỆN TÍCH MẶT NƯỚC
Sự tác động của lao động và các tư liệu sản xuất khác lên đối tượng nuôi trồng chủ
yếu và căn bản thông qua đất đai diện tích mặt nước, thực chất phụ thuộc một phần vào độ
phì nhiêu của đất đai diện tích mặt nước. Vậy độ phì nhiêu của đất đai diện tích mặt nước
là gì ?
1. Khái niệm
- Xét về mặt kỹ thuật: độ phì nhiêu là khả năng cung cấp các chất dinh dưỡng (trực
tiếp hoặc gián tiếp) cho các đối tượng nuôi trồng.
- Xét về mặt kinh tế: độ phì nhiêu là khả năng của vùng nước của “lớp đất màu ”
cho phép thu hoạch một khối lượng sản phẩm nhất định trên một đơn vị diện tích nhất
định.
Đất đai diện tích mặt nước có nhiều thuộc tính trong đó độ phì nhiêu là thuộc tính
quan trọng nhất, phản ánh mặt chất lượng của đất đai diện tích mặt nước
Khối lượng sản phẩm = Diện tích mặt nước
×
Năng xuất đối tượng nuôi
21
Diện tích mặt nước có hạn vì vậy muốn tăng khối lượng sản phẩm sản xuất cần
tăng năng xuất đối tượng nuôi trồng (năng xuất đối tượng nuôi trồng phụ thuộc vào độ phì
nhiêu của đất đai diện tích mặt nước).
Độ phì nhiêu của đất đai diện tích mặt nước không phải là một phạm trù trừu
tượng, ngược lại nó là đại lượng hết sức xác định.
- Về mặt kỹ thuật nó được xác định bởi: dung lượng các chất dinh dưỡng có trong
đất và nước và tỷ lệ các chất dinh dưỡng có thể làm thức ăn (trực tiếp hoặc gián tiếp ) cho
các đối tượng nuôi trồng.

không phải tất cả đất đai diện tích mặt nước tự nhiên đều đưa vào nuôi trồng thủy sản được
mà tùy thuộc vào điều kiện địa hình và trình độ phát triển kinh tế của từng nước mà đạt tỷ
lệ phần trăm thích hợp. Như vậy đất đai diện tích mặt nước là có giới hạn, nhất là Việt
Nam –một nước đất chật người đông, bình quân đất đai diện tích mặt nước trên đầu người
quá thấp thì đất đai diện tích mặt nước lại vô cùng quí giá “Tấc đất tấc vàng”.Vì vậy cần
phải sử dụng hợp lý và tiết kiệm đất đai diện tích mặt nước. Măc dù đất đai diện tích mặt
nước bị giới hạn về mặt không gian, nhưng nhờ sức sản xuất của đất đai diện tích mặt
nước rất to lớn và không có giới hạn đã cho phép chúng ta khai thác chiều sâu của đất đai
diện tích mặt nước để trên một đơn vị diện tích ngày càng cho nhiều sản phẩm nuôi trồng
thủy sản phục vụ cho nhu cầu của con người.
2. Đất đai diện tích mặt nước có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều.
Các tư liệu sản xuất khác có thể di chuyển đến những nơi cần và đang thiếu, ngược
lại đất đai diện tích mặt nước có vị trí cố định gắn liền với điều kiện địa hình, khí hậu, thời
tiết và điều kiện kinh tế –xã hội của mỗi vùng. Để kết hợp đất đai diện tích mặt nước với
người lao động và các tư liệu sản xuất cho có hiệu quả cao. Một mặt phải quy hoạch các
vùng, các khu vực nuôi trồng thủy sản, mặt khác phải cải thiện điều kiện tự nhiên, xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và hệ thống kết cấu hạ tầng cơ sở cho các vùng nuôi trồng
thủy sản tập trung nhằm tạo điều kiện để sử dụng đất đai diện tích mặt nước có hiệu quả,
nâng cao đời sống của ngư dân và từng bước thay đổi bộ mặt của các vùng nông thôn ven
biển.
Đất đai diện tích mặt nước có chất lượng không đồng đều giữa các vùng trong
nước, giữa các khu vực trong huyện và tỉnh thậm trí ngay cả trên một cánh đồng, biểu hiện
ở chỗ: sự chênh lệch về dung lượng các chất dinh dưỡng cần thiết cho thực vật và các chất
dinh dưỡng có trong đất dễ tiêu hóa và có thể trực tiếp làm thức ăn cho các đối tượng nuôi
trồng đến mức độ nào. Đó là kết quả, một mặt do quá trình hình thành đất, mặt khác không
kém phần quan trọng là do quá trình canh tác của con người. Vì thế trong quá trình sử dụng
cần thiết phải khuyến khích các doanh nghiệp, các nông hộ tiến hành sản xuất kinh doanh
trên mọi diện tích mặt nước, có các biện pháp hợp lý đểû khai thác độ phì nhiêu tự nhiên.
Đồng thời có các biện phát nâng cao chất lượng của đất đai diện tích mặt nước, phải cải
tạo, bồi dưỡng, không ngừng nâng cao độ đồng đều của đất đai diện tích mặt nước để đạt

đường để phát triển nền nông nghiệp nói chung và ngành nuôi trồng thủy sản nói riêng, đó
là quảng canh và thâm canh.
Quảng canh là phương thức sản xuất chủ yếu dựa vào việc mở rộng diện tích và
khai thác độ phì nhiêu tự nhiên của đất đai để tăng thêm sản phẩm.
Thâm canh là phương thức sản xuất tiên tiến nhằm mục đích tăng thêm sản phẩm
trên 1 đơn vị diện tích mặt nước với giá thành hạ, bằng cách đầu tư thêm tư liệu sản xuất,
lao động, kỹ thuật một cách hợp lý trên 1 đơn vị diện tích mặt nước.
Sản lượng sản phẩm = Diện tích mặt nước x Năng xuất đối tượng nuôi
Nhu cầu về sản phẩm thủy sản ngày một tăng, do dân số trên thế giới ngày càng
tăng và do xã hội ngày càng phát triển dẫn tới nhu cầu của mỗi thành viên trong xã hội về
các loại sản phẩm thủy sản cũng tăng.
Thâm canh là một tất yếu khách quan do đặc điểm của đất đai là diện tích có hạn,
song khả năng sản xuất của nó lại không có giới hạn.
Sự khác nhau giữa thâm canh hay không thâm canh và trình độ thâm canh là sự
khác nhau về hao phí sản xuất và sản phẩm thu được trên một đơn vị diện tích mặt nước
Thâm canh phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: Điều kiện tự nhiên (đất đai diện tích
mặt nước, khí hậu, thời tiết …), điều kiện kinh tế (cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản, điều
kiện giao thông, trình độ cơ khí hóa, thủy lợi hóa, điện, nước …), điều kiện xã hội (trình
độ dân trí, các chính sách phát triển nuôi trồng thủy sản của Đảng và Nhà nước)
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status