Canh tác nương rẫy và vấn đề tham gia quản lý bảo vệ rừng tự nhiên của đồng bào
Bahnar ở huyện K’bang, tỉnh Gia Lai (1)
Trần Văn Con
Trung tâm Lâm nghiệp Nhiệt đới
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Tây Nguyên là một vùng còn nhiều rừng và tỷ lệ che phủ lớn nhất trong nước
(57%), nhưng đây cũng là vùng có tốc độ mất rừng lớn nhất. Có nhiều nguyên
nhân dẫn đến mất rừng, trong đó hai nguyên nhân chính thường được nói đến:
Rừng bị phá để sản xuất lương thực vì nhu cầu tồn tại của hàng triệu dân nghèo
sống trong và xung quanh rừng; rừng bị mất do các nhu cầu ngày càng tăng của
con người về gỗ, nhất là gỗ củi và các lâm sản khác.
Trong thời gian từ năm 1976-1990 diện tích rừng bị mất hàng năm ở Tây Nguyên
lên đến 30,4 nghìn ha, từ năm 1991-1995 tốc độ mất rừng có giảm nhưng vẫn ở
mức độ báo động với trung bình hàng năm là 25,2 nghìn ha (Viện Điều tra Qui
hoạch rừng, 1996). Những nguyên nhân mất rừng do khai thác lạm dụng, sai qui
trình, cháy rừng còn có thể hạn chế được bằng các biện pháp hành chính, nhưng
những nguyên nhân liên quan đến nhu cầu sinh tồn của những người dân nghèo
bản xứ thì mọi biện pháp bảo vệ rừng sẽ không có hiệu quả nếu không có các giải
pháp tạo sinh kế bền vững cho họ.
Dân tộc Bahnar với khoảng 13 vạn người là một trong những dân tộc bản địa lớn
nhất ở Tây Nguyên. Họ tập trung ở các huyện phía đông Gia Lai và Kon Tum,
trong đó huyện K’Bang với 44% tổng dân số, là một trong những trung tâm văn
hóa của người Bahnar. Nguồn sống chính của họ từ bao đời nay chỉ dựa vào hệ
canh tác nương rẫy đã trở thành tập quán và truyền thống, hệ canh tác này của
đồng bào Bahnar có quan hệ chặt chẽ đến việc quản lý, sử dụng và bảo vệ rừng tự
nhiên. Việc vận động đồng bào Bahnar tham gia quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng
là một vấn đề cực kỳ quan trọng và muốn đạt kết quả phải hiểu rõ các đặc trưng,
tập quán canh tác của họ để xây dựng những giải pháp thích hợp làm cho họ có ý
thức tham gia một cách tích cực và hiệu quả. Hiện tại họ đang sống bằng hệ canh
tác nương rẫy và được coi là những người phá rừng(?).
(Cox và Atkins, 1976), nhưng nó chỉ thích hợp với điều kiện dân số thấp (dưới 50
người/km2); trong nhiều trường hợp, phương thức canh tác nương rẫy du canh
truyền thống còn có tác dụng tích cực trong quá trình diễn thế và tái tạo của rừng
(Odum, 1971; Bodley, 1976).
Để tìm kiếm các giải pháp sử dụng đất thay thế cho hệ canh tác nương rẫy du
canh, người ta đã tiến hành hàng loạt nghiên cứu khảo nghiệm. Trong đó các hệ
canh tác nông lâm kết hợp (NLKH), các mô hình lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ)
tỏ ra có nhiều triển vọng nhất để giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực nông nghiệp
và sinh thái mà các nước đang phát triển phải đối mặt: (i) Bùng nổ dân số và đói
nghèo; (ii) Cạn kiệt tài nguyên rừng.
Tại địa bàn huyện K’Bang, tỉnh Gia Lai nơi mà diện tích rừng tự nhiên còn khá
nhiều và cũng đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi hệ canh tác nương rẫy của đồng
bào Bahnar bản địa; các hoạt động nghiên cứu đã cho thấy: Việc tham gia quản lý
bảo vệ rừng của cộng đồng dân địa phương có nhiều ưu điểm và trở ngại. Về ưu
điểm: dân địa phương có thể thay đổi tập quán canh tác và kìm hãm được sự tàn
phá rừng; họ thường xuyên làm ăn, đi lại trong rừng, cho nên có thể kiểm soát
được lửa rừng, ngăn chặn việc sử dụng bừa bãi tài nguyên rừng như chặt trộm gỗ,
săn bắn bừa bãi, khai thác khoáng sản tàn phá môi trường rừng Do vậy, những
người ở tại rừng và bên cạnh rừng có thể trở thành những người bảo vệ rừng tốt
nhất, họ sẽ là chìa khoá bảo vệ rừng nếu họ được hưởng các quyền lợi kinh tế từ
rừng. Mặt trở ngại: Để dân địa phương tham gia quản lý, bảo vệ rừng là vấn đề
khó và tốn kém thời gian; bởi vì cần phải có sự đào tạo, hướng dẫn và quan trọng
hơn là phải có sự tổ chức để họ có những khả năng cần thiết. Ngoài ra còn phải
tính đến các đặc trưng về phong tục tập quán của mỗi dân tộc, các tập tục và tín
ngưỡng của đồng bào địa phương có một vai trò quyết định trong việc đồng bào có
chấp nhận một công nghệ mới hay không. Và về phía chúng ta, cần hiểu rõ tập tục
và tín ngưỡng của đồng bào địa phương.
Tóm lại, sự thúc bách hiện nay đối với việc mở rộng và ứng dụng các hệ canh tác
tiến bộ và bền vững để thay thế dần các hệ thống sử dụng đất không hợp lý và
thiếu bền vững đã hướng mạnh tới các thế hệ công nghệ mới. Trong việc tìm kiếm
Khí hậu nhiệt đới gió mùa ôn hòa: nhiệt độ bình quân 22-25oC, lương mưa bình
quân năm 2.500mm, chia làm hai mùa rõ rệt.
Có nhiều loại đất khác nhau, nhưng có thể phân thành hai nhóm chính: (i) Các loại
đất phát triển trên đá mẹ granit và (ii) Các loại đất phát triển trên đá mẹ bazan. Nói
chung đất còn tốt, màu mỡ.
Diện tích rừng còn nhiều và tài nguyên sinh học rất phong phú, rất thuận lợi để
phát triển lâm nông nghiệp kết hợp. Từ trường hợp của hai xã nghiên cứu, có thể
đánh giá khái quát về môi trường vật lý của vùng nghiên cứu như sau:
Khó khăn: (1) Đây là vùng núi, địa hình chia cắt phức tạp; (2) Độ dốc lớn, nguy cơ
xói mòn đất rất cao; (3) Hệ thống giao thông và cơ sở vật chất, kỹ thuật kém phát
triển.
Thuận lợi:(1) Độ che phủ của rừng còn lớn với tài nguyên sinh học đa dạng và
phong phú; (2) Điều kiện đất đai và khí hậu thuận lợi cho phát triển sản xuất nông-
lâm nghiệp.
* Môi trường văn hóa - xã hội
Dân tộc Bahnar sống trên địa bàn huyện K’Bang chiếm đến 44,21% và họ là dân
bản địa còn các dân tộc khác đều di cư từ nơi khác đến, chủ yếu là sau ngày giải
phóng đến nay.
Mật độ dân số toàn tỉnh: 57,56 người/km2, của huyện K’Bang: 23,89 người/km2.
Xã Sơn Lang có tổng số hộ là 265 và 1321 nhân khẩu, trong đó người Bahnar có
206 hộ với 1.117 khẩu, người Kinh có 55 hộ với 183 khẩu và Tày có 4 hộ với 21
khẩu. Mật độ dân số trong xã khoảng 4 người/km2. Xã Sơ Pay có tổng số 669 hộ
và 3.604 nhân khẩu, trong đó người Bahnar có 101 hộ và 647 người, người Kinh
486 hộ và 2.577 người, người Tày 20 hộ và 90 người, người Nùng 32 hộ và 155
người và các dân tộc khác là 30 hộ và 135 người.
Bình quân số khẩu trong một hộ là 6 người. Namchiếm 52,9% trong cộng đồng.
+ Lao động: Tổng số lao động đang làm việc ở xã Sơn Lang là 628 người chiếm
46,7%, bình quân 2,4 lao động/ hộ. Xã Sơ Pay có 1.503 lao động chiếm 41,7%,
bình quân mỗi hộ có 2,2 lao động.
+ Học vấn: Trong tổng số 105 hộ điều tra ở 3 thôn của xã Sơn Lang có 637 người