Dự án quản lý
bền vững/ tài nguyên vùng
hạ lưu sông Mekong (SMRP)
Tổ công tác quốc gia
về lâm nghiệp cộng đồng Báo cáo chuyên đề
Xây dựng phương pháp và tiêu chí đánh giá các mô hình quản lý rừng làng/ bản
Người thực hiện: Tô Đình Mai
Thành viên tổ công tác quốc gia về lâm nghiệp cộng đồng Hà nội, tháng 10 năm 2002
C:HoaiLN/NA/BaocaochuyendeMK in 5/9/2002
1
Mục lục
Tóm tắt báo cáo : 3
Giới thiệu 5
Mục đích của chuyên đề: 6
Phương pháp tiếp cận và nghiên cứu 6
Nội dung báo cáo 8
1. Tổng quan về cơ sở lý luận và thực tiễn để nhận biết và phân tích về quản lý
rừng làng /bản . 9
1.1. Tính cộng đồng và làng/bản : 10
1.2. Vị trí pháp lý của cộng đồng dân cư làng/bản (thôn) 12
1.3. Chế độ sở hữu và quản lý các khu rừng cộng đồng có tính truyền thống :14
1.4. Sự biến động về rừng làng/bản có tính chất truyền thống : 16
Tóm tắt báo cáo :
Mục tiêu chính của báo cáo là : Nghiên cứu phương pháp và tiêu chí đánh giá
quản lý rừng làng/ bản ở Việt Nam.
Do những đặc đIểm lịch sử, nên hiện nay, ở Việt Nam có nhiều chủ thể quản lý rừng
khác nhau, trong đó có những chủ thể quản lý rừng có đặc đIểm phù hợp với cộng
đồng dân cư làng /bản. Tuy vậy, cho đến nay, đang tồn tạI nhiều khái niệm,nhiều cách
thống kê diện tích rừng làng/bản rất khác nhau. Do đó, không thể nghiên cứu được
phương pháp quản lý và tiêu chí đánh giá rừng làng/bản, nếu như không xác định
được rõ ràng rừng làng/bản là gì, và ở đâu ? Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn
phương pháp tiếp cận bao gồm những nội dung sau đây:
1/ Xác định tiêu chí để nhận biết rừng làng /bản
C:HoaiLN/NA/BaocaochuyendeMK in 5/9/2002
4
2/ Nghiên cứu phương pháp quản lý rừng làng/ bản ở 3 mô hình quản lý hiện đang tồn
tạI để phân tích những ưu đIểm, nhược đIểm của phương pháp quản lý rừng
làng/bảnhiện có.Từ đó,đề xuất nội dung, phương pháp quản lý rừng làng/bản phù
hợp với tình hình hiện tạI ở Việt Nam
3/ Xuất phát từ phương pháp ,nội dung quản lý rừng làng /bản đã đề xuất để xây dựng
tiêu chí đánh giá hiệu quả và trình độ quản lý rừng làng /bản phù hợp.
Báo cáo đã đề xuất 5 tiêu chí để nhận biết rừng cộng đồng.Từ đó, đã xác định nội
dung, ưu đIểm, nhược đIểm của phương pháp quản lý rừng đang áp dụng ở 3 loạI
hình rừng làng /bản đã được tác giả xếp loạI và đề xuất phương pháp quản lý rừng
làng /bản thích hợp với tình hình hiện nay và xu hướng phát triển trong tương lai.
Cuối cùng, báo cáo đã đề xuất khung tiêu chí để đánh giá trình độ và hiệu quả về
quản lý rừng làng/bản và giảI thích rõ nội dung của 8 tiêu chí đã đề xuất. Các tiêu
chí đã đề xuất có thể dùng để đánh giá trình độ và hiệu quả về quản lý rừng
làng/bản về cả 3 mặt : MôI trường (2tiêu chí), Xã hội (4 tiêu chí), Kinh tế (2 tiêu
chí)
để cùng tham gia quản lý các khu rừng thuộc sở hữu Nhà nước (đồng quản lý ),
C:HoaiLN/NA/BaocaochuyendeMK in 5/9/2002
6
nhưng được các chủ rừng Nhà nước (các tổ chức Nhà nước) giao khoán cho cộng
đồng quản lý có tính chất lâu dài theo hợp đồng (hoặc khế ước).
Trong hai mô hình nói trên, mô hình thứ nhất là mô hình rừng làng/ bản thật sự, vì
quyền sở hữu rừng và quyền sử dụng rừng hoàn toàn thuộc về cộng đồng dân cư làng/
bản. ở mô hình thứ hai, quyền sở hữu rừng thuộc về Nhà nước, còn quyền sử dụng
rừng có một phần thuộc về Nhà nước, còn một phần thuộc về cộng đồng dân cư ở làng
bản (tùy theo nội dung quy định ở từng hợp đồng hoặc khế ước). Tuy vậy, cả hai mô
hình này đều có điểm giống nhau là cộng đồng dân cư đều là chủ thể được giao nhiệm
vụ quản lý rừng trên địa phận hoặc gần địa phận cư trú của làng/ bản mình.
- Chính vì vậy, chuyên đề này nghiên cứu những tiêu chí xác định loạI rừng
làng/bản, phương pháp quản lý rừng làng/bản ở cả hai loại mô hình nói trên để tìm
ra những tiêu chí và phương pháp quản lý rừng phù hợp với chủ thể quản lý là cộng
đồng dân cư thôn bản.
Mục đích của chuyên đề:
Góp phần nghiên cứu các luận cứ khoa học về quản lý rừng làng/ bản trong quản lý
LNCĐ nói riêng và quản lý lâm nghiệp nói chung.
Xây dựng các tiêu chí để để nhận biết các loại hình rừng làng/ bản trong cơ cấu
quản lý nền lâm nghiệp nhiều thành phần.
Đề xuất các phương pháp quản lý và tiêu chí đánh giá về quản lý rừng làng/ bản.
Phương pháp tiếp cận và nghiên cứu.
Phương pháp tiếp cận :
C:HoaiLN/NA/BaocaochuyendeMK in 5/9/2002
7
Để đạt được mục đích nói trên, chúng tôI đã tiếp cận đối tượng nghiên cứu – Rừng
làng/bản - theo những nội dung sau đây :
quản lý LNCĐ
Lựa chọn
mô hình quản lý RLB
KháI ni
ệ
m
và tiêu chí RLB
Tiêu chí
quản lý RLB
Mục tiêu, nội dung
và phương pháp quản
lý RLB
C:HoaiLN/NA/BaocaochuyendeMK in 5/9/2002
9
Tiêu chí để nhận biết và xác định rừng làng/ bản.
Phương pháp quản lý rừng làng/bản.
Tiêu chí đánh giá quản lý rừng làng/ bản.
Khuyến nghị.
1. Tổng quan về cơ sở lý luận và thực tiễn để nhận biết và phân tích về quản lý
rừng làng /bản .
Rừng làng/ bản (rừng làng) là một thực tế đã tồn tại và có nhiều biến đổi tuỳ theo
chế độ sở hữu đất đai/rừng núi và các thể chế tổ chức sản xuất nông lâm nghiệp và
quản lý xã hội ở nông thôn. Hiện nay, trong quá trình chuyển đổi chiến lược phát
triển lâm nghiệp và xây dựng ngành lâm nghiệp trong cơ chế của nền kinh tế thị
phương, ở nhiều dân tộc (với nhiều tên gọi khác nhau như làng, bản, buôn, plây…).
C:HoaiLN/NA/BaocaochuyendeMK in 5/9/2002
11
Làng/bản là nơi liên kết những gia đình sống gần nhau, là một kiểu tổ chức cộng
đồng dân cư theo địa vực, là nơi sinh hoạt văn hoá cộng đồng. Trong xã hội truyền
thống của các dân tộc ở Việt Nam, làng/bản luôn được coi là đơn vị xã hội cơ sở.
Quản lý làng/bản ở Việt Nam đã có truyền thống từ lâu đời, được thực hiện bằng
luật pháp do Nhà nước Trung ương ban hành và bằng hương ước do các cư dân ở
làng/bản xây dựng và lưu truyền có tính chất truyền thống.
Khung 1 : Nội dung các hương ước
Các hương ước chủ yếu tập trung vào việc giải quyết các vấn đề dân sự trong nội bộ
làng/bản, trong đó có những vấn đề như : bảo vệ trị an ở làng, xóm; bảo về đồng ruộng;
bảo vệ rừng, được quy định rất chi tiết với các hình thức thưởng phạt rất rõ ràng, cụ
thể. Những hương ước ở các làng/ bản vùng bán sơn địa, trung du, những lệ tục ở các
dân tộc Ê - đê, Mường, H
/
Mông, Mơ-Nòng… đều có ghi đậm nét những quy định của
cộng đồng đối với những rừng làng/bản để bảo đảm hài hoà lợi ích của các thành viên
trong cộng đồng và vì lợi ích chung của cộng đồng.
Trong lịch sử, làng/bản chẳng những là tổ chức nặng nề về dân sự, mà đã có những
thời kỳ làng/ bản được xem là một cấp chính quyền (như cấp thôn trong xã hội
phong kiến) hoặc có tính chất nửa chính quyền (từ sau cách mạng tháng 8/1945 đến
trước phong trào hợp tác xã nông nghiệp bậc cao.
C:HoaiLN/NA/BaocaochuyendeMK in 5/9/2002
12
- ở thôn/bản có thể thành lập các Ban hoà giải, Ban an ninh, Tổ bảo vệ sản xuất, Ban
kiến thiết….
- Chính phủ cũng giao cho UBND cấp tỉnh quy định chế độ phụ cấp cho Trưởng
thôn, và được chi trong ngân sách xã.
Như vậy, trên thực tế hiện nay, thôn bản và cộng đồng dân cư thôn bản có một vị
trí rõ ràng, thực tế và không thể phủ nhận được trong hệ thống tổ chức xã hội -
dân sự ở nông thôn.
Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có một khung pháp lý quy định đầy đủ về địa vị
pháp lý của cộng đồng dân cư thôn, bản và cấp quản lý cộng đồng để tạo điều
kiện giao đất lâm nghiệp đến cộng đồng dân cư làng/bản, đó là:
- Cộng đồng dân cư làng bản thuộc loại hình tổ chức nào? (xã hội dân sự, kinh tế, đại
diện chính quyền cấp xã…?)
C:HoaiLN/NA/BaocaochuyendeMK in 5/9/2002
14
- Cộng đồng dân cư làng bản có phải là pháp nhân có đủ quyền năng tham gia các
quan hệ pháp luật một cách độc lập hay không?
- Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trách nhiệm của cộng đồng dân cư làng bản và
người đại diện cộng đồng đó đối với các họat động của cộng đồng và các công tác
quản lý tài nguyên, dân cư, kinh tế…trên địa bàn như thế nào?…
Những tồn tạI về địa lý pháp lý của cộng đồng dân cư làng/bản đã có ảnh hưởng
đáng kể đến việc sử dụng cộng đồng dân cư làng/bản tham gia quản lý rừng, xác
lập quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền kinh doanh những khu rừng do cộng
đồng dân cư làng/bản quản lý.
1.3. Chế độ sở hữu và quản lý các khu rừng cộng đồng có tính truyền thống :
Các dân tộc ở Việt Nam, nhất là các dân tộc thiểu số ở miền núi đã từng có truyền
thống riêng về sở hữu và sử dụng đất đai - ở các dân tộc miền núi, chế độ sở hữu và
quản lý đất đai theo cộng đồng là một truyền thống có tính chất phổ biến. Ngoài loại
đất đai và rừng thuộc sở hữu cộng đồng, còn có các loại đất thuộc quyền sở hữu tư
nhân, hoặc loại đất không rõ ràng về quyền sở hữu.
làng/bản truyền thống). Rừng làng/bản còn tồn tạI phổ biến ở nhiều địa phương cho
đến trước năm 1960 (ở Miền Băc) và đến trước năm 1975 (ở Miền Nam)
C:HoaiLN/NA/BaocaochuyendeMK in 5/9/2002
16
1.4. Sự biến động về rừng làng/bản có tính chất truyền thống :
Từ năm 1945 đến nay, Nhà nước đã thực thi nhiều những chủ trương đó có tác động
khá mạnh mẽ đến địa vực cư trú của dân cư thôn bản, đến quan hệ cộng đồng và rừng
làng/bản. Các chủ trương đó được biểu thị tóm tắt ở khung 4.
Khung 4 : Những chủ trương có tác động đến rừng làng/bản
- Nhà nước thiết lập quyền sở hữu Nhà nước, sở hữu toàn dân về đất đai và rừng tự
nhiên.Trong hiến pháp, luật không quy định tồn tại loại rừng hoặc đất đai nào thuộc
quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của cộng đồng.
- Vị trí tổ chức cộng đồng làng/bản có nhiều thời kỳ bị mờ nhạt (cơ cấu tổ chức ở các
thôn/làng bị giảI thể, thay thế bằng hợp tác xã quy mô thôn, đội sản xuất).
- Trong phong trào hợp tác hoá nông nghiệp (ở miền Bắc trước năm 1975 và ở miền
Nam sau năm 1975) hầu hết là diện tích rừng làng/bản đều đã quốc hữu hoá hoặc
giao cho các hợp tác xã quản lý.
- Nhà nước thiết lập và phát triển rất nhiều nông trường lâm trường quốc doanh thực
hiện di dân xây dựng các khu kinh tế mới, thực hiện cuộc vận động định canh định
cư ở miền núi. Các nông lâm trường này đã quy hoạch, quản lý hầu hết rừng cây,
đồi núi đất chưa sử dụng ở vùng trung du và miền núi. Người dân cư trú lâu đời ở
các làng xã chỉ được quản lý, sử dụng ruộng nước, vườn thổ cư.
C:HoaiLN/NA/BaocaochuyendeMK in 5/9/2002
17Tất nhiên các chủ trương đó đã có nhiều tác động tích cực. Nhưng, mặt khác do những
không còn tồn tại nhiều. Hiện nay, loại hình rừng làng/bản truyền thống đang do cộng
đồng dân cư làng bản quản lý để phục vụ cho các mục đích trực tiếp của cộng đồng
như các khu rừng thiêng (vì mục đích tín ngưỡng), rừng ma (nghĩa địa), rừng đầu
nguồn nước của làng/bản… thường chỉ còn lại ở các cộng đồng thôn, bản của các vùng
dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc, thường là ở vùng sâu, vùng xa, nơi
không có nông trường, lâm trường quốc doanh.
1.5. Tác động của các chính sách lâm nghiệp đối với sự phát triển quản lý rừng
làng/ bản.
1.5.1. Tác động của các chính sách giao đất lâm nghiệp
C:HoaiLN/NA/BaocaochuyendeMK in 5/9/2002
19
GIao đất lâm nghiệp là một chính sách lớn của Nhà nước đã đề ra và thực hiện từ
1968 đến nay. Tuỳ theo đối tượng được giao đất, quy mô diện tích đất lâm nghiệp
được giao ,thời hạn được sử dụng đất…và tác động của nhiều chính sách lâm nghiệp
khác, nên trên thực tế đã hình thành nhiều chủ thể quản lý rừng khác nhau, trong
đó có cộng đồng dân cư thôn bản. (Xem khung 6) Khung 6 : Tình hình giao đất lâm nghiệp
Theo thống kê đến năm 2000, Nhà nước đã giao khoảng 7,9 triệu ha rừng và đất lâm
nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân quản lý và sử dụng. Trong đó, phần chủ
yếu là giao cho các tổ chức Nhà nước, có khoảng 2 triệu ha rừng và đất lâm nghiệp
được giao cho hộ gia đình và các đơn vị tập thể quản lý, sử dụng.
Như vậy, còn khoảng gần 3 triệu ha rừng và đất lâm nghiệp chưa được giao cho các
hộ gia đình, cá nhân, tổ chức quản lý sử dụng. Hiện nay số diện tích này được hiểu là
đang nằm trong quyền quản lý của lực lượng kiểm lâm và UBND cấp xã
của họ. Họ sẽ khai thác, quản lý bền vững rừng và quản lý tốt rừng khi được quyền sử
dụng hợp pháp, có vj trí chủ rừng rõ ràng và có thể đem lại lợi ích thiết thực và trực
tiếp cho họ.
C:HoaiLN/NA/BaocaochuyendeMK in 5/9/2002
21
Khoán bảo vệ rừng :
Trong số 7,9 triệu ha rừng đã giao có gần 6 triệu ha rừng đã giao cho các tổ chức Nhà
nước quản lý. Một phần diện tích này đã được các tổ chức Nhà nước gao khoán cho
các hộ gia đình (hoặc nhóm hộ gia đình) trực tiếp quản lý, bảo vệ theo hợp đồng
(khoảng 1,6 triệu ha). Trong diện tích này, một phần đáng kể được các tổ chức Nhà
nưốc khoán cho các hộ gia đình hoặc cộng đồng dân cư ở làng/bản cùng bảo vệ. Trên
thực tế, ở nhiều nơI dân cư ở các làng bản đã thực thi nhiệm vụ bảo vệ rừng như vị trí
và nhiệm vụ của một chủ thể quản lý rừng. Người nhận rừng được thù lao tiền công
bảo vệ rừng ( tối đa 50.000đ/ha/năm) và cùng hưởng lợi ích của rừng. Có nhiều mô
hình tổ chức quản lý bảo vệ rừng khác nhau (như nhóm hộ gia đình, nhóm đồng sở
thích, các tổ chức đoàn thể ở làng/bản…). Sở dĩ họ phải liên kết các hộ gia đình trên
cùng một địa vực hoặc một tổ chức tập thể hoặc một cộng đồng để bảo vệ rừng vì
những lý do đã phân tích trên.
Như vậy, từ chính sách giao đất lâm nghiệp, trong thực tế đã xuất hiện những chủ
thể quản lý rừng có tính chất cộng đồng hoặc tập thể. Để quản lý tốt, các chủ thể
quản lý rừng này thường là những tổ chức liên kết những người dân cùng sống trên địa
bàn làng/bản, sử dụng quan hệ cộng đồng để cùng quản lý, cùng hưởng lợi, (trong đó
có những lợi ích không phân chia được hoặc không tính toán cụ thể bằng tiền được).
1.5.2.Tác động của các chính sách hỗ trợ sản xuất lâm nghiệp đối với cộng đồng dân
cư làng/bản.
Trong thời kỳ đổi mới, ở Việt nam đã thực hiện nhiều chính sách vĩ mô có tác động rất
lớn đến các cộng đồng dân cư ở các làng/bản thuộc vùng lâm nghiệp như.
- Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, nhất là lương thực, tăng cường cơ sở hạ tầng
(nhất là đường, điện, trường học…)
để có cơ sở pháp lý tạo nguồn lực tàI chính góp phần vào quản lý rừng làng/bản.
1.5.4. Tác động của chính sách về quyền hưởng lợi đối với rừng
Từ trước đến nay, tư duy chung về chính sách lâm nghiệp thường nhấn mạnh: rừng
thuộc sở hữu Nhà nước, bảo vệ rừng là trách nhiệm và sự nghiệp của toàn dân, Nhà
nước giao đất lâm nghiệp đến hộ gia đình, tổ chức và cá nhân kinh doanh, phát triển
sản xuất hàng hoá… Những tư duy đó thường không nhấn mạnh đến những quyền
hưởng lợi cụ thể của người dân sống gần rừng đối với rừng (hiện có gần khoảng 30
triệu người). Trên thực tế, họ có trách nhiệm trực tiếp về bảo vệ rừng, tham gia vào sự
nghiệp toàn dân bảo vệ rừng, nhưng họ chưa được hưởng những lợi ích cụ thể, rõ ràng
và hợp pháp trong các chính sách lâm nghiệp đã ban hành, nên chưa tạo ra những
động lực mạnh mẽ về lợi ích để khuyến khích những người dân sống trên gần 30.000
làng/bản có rừng tham gia vào sự nghiệp bảo vệ rừng.
Vào cuối năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 178/QĐ-TTg
ngày 12/11/2001 về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân. Chính sách
này là một bước tiến đáng kể để động viên sự tham gia của người dân vào công tác
quản lý, bảo vệ rừng. Nhưng vì mới ban hành, nên chưa đánh giá được hiệu quả của
quá trình thực thi chính sách này. Tuy vậy, nếu không làm rõ vấn đề rừng làng bản và
quản lý rừng làng/ bản thì cộng đồng dân cư làng/bản chưa được xem là đối tượng
được giao đất lâm nghiệp một cách hợp pháp, và hậu quả của tình hình đó là cộng
đồng dân cư làng/bản cũng chưa thể trở thành đối tượng được hưởng lợi là từ rừng.
C:HoaiLN/NA/BaocaochuyendeMK in 5/9/2002
24
1.6. Tính tất yếu của việc hình thành rừng làng/bản ;
Tổng quát những điều đã trình bày trên, chúng ta có thể thấy :Sự tồn tại của các khu
rừng làng/bản theo các hình thức tổ chức quản lý phù hợp là một tất yếu lịch sử, vì
những lý do sau đây :
- Tính cộng đồng, quan hệ làng/bản và cơ cấu tổ chức làng/bản ở Việt nam là một cơ
sở thuận lợi để thực hiện quản lý rừng từ cộng đồng dân cư làng/bản.
- Mặc dù có nhiều biến động về chính sách đất đai, về quan hệ sản xuất, nhưng ở