ÁP DỤNG KỸ THUẬT LÂM SINH ĐỂ GIẢM THIỂU THIỆT HẠI DO BỆNH
PHẤN HỒNG GÂY RA TRÊN RỪNG TRỒNG KEO LAI
Nguyễn Thị Lề, Phạm Thế Dũng
Phân viện Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Trong những năm gần đây năng suất rừng trồng keo lai (giống lai tự nhiên) giữa
keo tai tượng (Acacia mangium) và keo lá tràm (Acacia auriculiformis) có rất
nhiều triển vọng và đang khẳng định được vai trò của loài cây này trong cơ cấu
cây trồng chính làm nguyên liệu giấy. Do có các đặc điểm ưu việt về tỷ lệ sống
cao, khả năng sinh trưởng nhanh, chu kỳ kinh doanh ngắn (7-8 năm), tính thích
nghi cũng như tác dụng cải thiện độ phì đất cao, keo lai đã và đang mang lại hiệu
quả về giá trị kinh tế và sinh thái môi trường. Tuy nhiên, một số khu rừng trồng
keo lai có mật độ trồng từ 1100 –1600cây/ha, cây sinh trưởng tốt trong những năm
đầu, nhưng khi 3 – 4 năm tuổi, rừng bắt đầu khép tán, bệnh hại đã bắt đầu xuất
hiện làm ảnh hưởng xấu đến năng suất rừng trồng. Để có cơ sở khoa học cho việc
khuyến cáo áp dụng những biện pháp lâm sinh nhằm giảm thiểu thiệt hại gây ra
trên rừng trồng keo lai, chúng tôi tiến hành điều tra tỷ lệ hại trên khu thí nghiệm
mật độ rừng trồng.
Khu vực nghiên cứu tại Trạm thực nghiệm Lâm nghiệp Tân Lập, huyện Đồng Phú,
tỉnh Bình Phước, và được tiến hành từ tháng 6 -12 năm 2003.
Khí hậu của vùng là nhiệt đới nóng ẩm với nhiệt độ trung bình hàng năm 27,3°C
với độ ẩm trung bình hàng năm 81,2% với biến động theo mùa nhỏ. Tổng lượng
mưa trung bình hàng năm là 2.686mm (từ 2333 đến 2900mm), tổng lượng bốc hơi
hàng năm 28 mm. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến
tháng 4.
1. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Xác định tác nhân gây bệnh rừng trồng keo lai.
- Xác định ảnh hưởng của mật độ trồng keo lai đến tỷ lệ bệnh hại của hai dòng keo
lai tuyển chọn.
- Thử nghiệm một số loại thuốc nhằm giảm thiểu tác hại của bệnh.
2. NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
triệu chứng bệnh hại ngoài hiện trường. Quan sát và mô tả tổ chức bệnh
trong phòng thí nghiệm bằng kính lúp cầm tay. Thu thập mẫu điển hình quan
sát sợi nấm, cơ quan sinh sản của nấm tại phòng thí nghiệm bằng kính hiển vi
soi nổi và kính hiển vi quang học.
- Thực hiện nội dung NC 2: Sử dụng phương pháp điều tra tỷ lệ bệnh hại trên thí
nghiệm về mật độ trồng rừng cho hai dòng keo lai là PVO3, TBO6. Diện tích khu
vực thí nghiệm là 12.960m
2
(240 x 54 m). Mỗi dòng có diện tích 6.480m
2
. Diện
tích ô tiêu chuẩn khảo sát 450m
2
đối với mật độ 1111c/ha và 350m
2
đối với mật độ
1428cây/ha. Số cây điều tra có trong ô tiêu chuẩn là 50 cây. Thí nghiệm lặp lại 3
lần. Thu thập số liệu 3 lần vào các tháng 7; 9; và 12.
- Thực hiện nội dung NC 3: Khảo nghiệm hai loại thuốc trên hai khu trồng có mật
độ trồng và dòng keo lai khác nhau. Thu thập số liệu: theo dõi trước khi xử lý
thuốc 1 ngày sau khi xử lý thuốc 15 ngày; 1 tháng; và 2 tháng.
Thuốc Dethamin M–45 nồng độ sử dụng 9ml% phun xịt vòng quanh vết bệnh theo
hướng từ dưới lên.
Thuốc Bordeaux 1% (CuSO
4
:CaO:H
2
O = 1:2:10) quét vòng quanh vết bệnh bằng
chổi bông cỏ và quét từ dưới lên.
Chỉ tiêu đánh giá bệnh hại: Chỉ tiêu đánh giá bệnh hại là tỷ lệ bệnh hại trên các ô
T (%)
Các chỉ số thống kê
Dòng
Keo lai
Mật
độ,
cây/ha
Lặ
p
1
Lặ
p
2
Lặ
p
3
Tỷ lệ bị
bệnh
trung
bình
T (%)
S S,% Ftính P-value
F bảng
14
15
14.00 1.0000
7.14 13.72857
0.020741
7.7086
5
TB06
1428 19
26
28
24.33 4.7258
19.42Nhận xét :
* Qua kết quả điều tra ở hiện trường cho thấy:
- Dòng PVO3
+ Mật độ trồng: 1111cây/ha có tỷ lệ bệnh hại dao động từ 20 - 31%.
+ Mật độ trồng 1428 cây/ha có tỷ lệ bệnh dao động từ 27 – 38%.
Mật độ 1428 c/ha 14 21 24
Nhận xét:
Tỷ lệ bệnh hại đều gia tăng trong suốt mùa mưa trên cả hai yếu tố mật độ trồng và
dòng keo lai. Như vậy bệnh phấn hồng phát triển và lây lan nhanh trong điều kiện
ẩm độ cao. Về mùa khô ẩm độ thấp bệnh không phát triển và lây lan.
3.4. Ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ bệnh
Việc sử dụng thuốc hoá học làm giảm thiểu tác hại của bệnh đã được áp dụng rất
phổ biến trong trồng cây ăn quả, điều, tiêu và cây cao su ở các tỉnh miền Đông
Nam Bộ. Đối với cây lâm nghiệp, trong điều kiện thâm canh tăng năng suất, bên
cạnh việc sử dụng các dòng kháng bệnh, giải pháp sử dụng thuốc hoá học làm
giảm thiểu bệnh hại là hướng cần được quan tâm. Kết quả nghiên cứu sử dụng
thuốc trừ bệnh được trình bày trong biểu 3.
Biểu 3. Ảnh hưởng của sử dụng thuốc đến tỷ lệ bệnh hại (%) của hai dòng keo lai
trồng ở các mật độ khác nhau.
Thuốc Bordeaux 1%
Thuốc Dethamin M-45
1 %
Sau khi xử lý ( ngày) Sau khi xử lý ( ngày )
Dòng keo lai
Trước khi
xử lý
thuốc
(%)
15 30 60 15 30 60
PVO3
- Mật độ 1428 c/ha 32 28 30 30 38 38 40
- Mật độ 1111 c/ha 21 16 16 16 20 20 23
TBO6
Application of silvicultural techniques to reduce damage caused by pink
disease to acacia hybrid plantation
Summary
Acacia hybridusually suffers from pink disease in rainy season. Study on acacia
hybrid plantation in Tan Lap, Binh Phuoc shows that the ratio of diseased trees in
plantation of planting density 1111 trees/ha is smaller than that in plantation of
planting density 1428 trees/ha. The disease lasts through out the raining season
from July to December, ill-effecting the tree growth and sometimes breaks the
trees in severe cases. Bordeaux1% can reduce the ratio of diseased trees but the
effect of this fungicide does weaken with time. The use of Dethamin M-45 has not
been found effective. Of the two acacia hybrid clones tried, TB06 is more
resistant to the disease than PV03.