TIỂU LUẬN:
Một số biện pháp giải quyết lao động dôi
dư và vấn đề thiếu lao động có trình độ,
tay nghề tại Công ty Xe đạp VIHA
Lời mở đầu
Trong cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Các doanh nghiệp trong
nước đã và đang có những chiến lược nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí
kinh doanh nhằm giành chiến thắng trên thị trường. Để làm được điều đó các doanh
nghiệp phải giải quyết tốt các yếu tố cơ bản của sản xuất. Lao động là một trong
những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Nó quyết định sự tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp. Khi thực hiện các chiến lược sản xuất, lao động
sẽ là một trong những yếu tố cần giải quyết hàng đầu. Khi tiến hành đầu tư mở rộng
sản xuất kinh doanh, làm thay đổi nhiều yếu tố trong doanh nghiệp, đã ảnh hưởng
không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Vấn đề làm các nhà quản trị đau đầu,
đó là những vấn đề về lao động. Vì lao động là nhân tố chủ thể trong mọi công
việc.Với máy móc công nghê mới nhiều lao động đã không thể có đủ trình độ đáp
suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước.
1.2. Công việc và việc làm.
+ Công việc :
Công việc là một đơn vị nhỏ nhất được chia ra từ những hoạt động của một
doanh nghiệp. Những công việc tương tự như nhau được thực hiện
(-Ap lại thành một hoạt động”. Một phần của công việc được thực hiện bởi một
người lao động riêng được gọi là một vị trí.
Công việc chỉ rõ những hoạt động của tổ chức mà một người lao động phải
thực hiện. Công việc cung cấp những cơ sở để phân chia và phân công quyền hạn và
trách nhiệm mà những quyền hạn và trách nhiệm đó phải được thực hiện bởi những
người có bổn phận về công việc. Hơn nữa, công việc còn là cơ sở để lựa chọn và
đào tạo người lao động.
+ Việc làm:
Trên giác độ luật việc làm được định nghĩa: Mọi hoạt động lao động tạo ra
nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm. Vấn đề
giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có
việc làm là trách nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp và của toàn xã hội.
1.3. Định mức lao động. Định mức lao động là lượng lao động hao phí lớn nhất được quy định để chế
tạo một sản phẩm hay hoàn thành một công việc nào đó đúng tiêu chuẩn chất lượng
trong các điều kiện tổ chức, kỹ thuật, tâm sinh lý, kinh tế và xã hội nhất định.
* Định mức lao động khoa học là định mức được nghiên cứu và được xây
dựng để doanh nghiệp áp dụng để đánh giá và sử dụng lao động một cách hợp lý
nhất. Nó thoả mãn các điều kiện sau:
Thứ nhất: Về mặt kỹ thuật-công nghệ. Định mức lao động khoa học phải
đảm bảo sử dụng có hiệu quả máy móc thiết bị sản xuất trên cơ sở trình độ tổ chức
sản xuất và tổ chức lao động tiên tiến, khai thác được tiềm năng vốn có của người
lao động.
được tiến hành sau khi đã báo cho cơ quan lao đông địa phương biết.
+ Các doanh nghiệp phải lập quỹ về trợ cấp mất việc làm theo quy định của
chính phủ để kịp thời trợ cấp cho lao động trong doanh nghiệp.
1.6. Tuyển chọn nhân lực.
+ Là một quá trình bao gồm, các công việc phân tích và thiết kế công việc;
xác định nguồn nhân lực; tổ chức kiểm tra và tuyển chọn lao động theo đúng yêu
cầu công việc đã thiết kế; bồi dưỡng hoặc bổ túc kiến thức tối thiểu cần thiết cho
người lao động để họ có đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ ở vị trí được phân công.
+ Người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức
dịch vụ việc làm để tuyển chọn lao động, có quyền tăn giảm lao động hợp với nhu
cầu sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật.
+ Hợp đồng lao động.
Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng
lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi
bên trong quan hệ lao động.
+ Các bước tuyển chọn lao động :
Phân tích công việc : có vị trí rất quan trọng trong tuyển chọn lao động và
xắp xếp lao động. Sử dụng bảng phân tích công việc giúp rất nhiều cho việc quản trị
lao động. Để xác định số lượng lao động mà doanh nghiệp cần có thể căn cứ vào
bảng :
Quá trình xác định cầu về lao động. Công việc
Yêu
c
ầu lao
đ
ộng
công việc và thiết kế công việc.
ii. tất yếu khách quan cần giải quyết vấn đề lao động dôi dư và thiếu lao
động có trình độ. 2.1. Chi phí lao động chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Chi phí cho lao động bao gồm mọi chí phí kinh doanh liên quan trực tiếp và
gián tiếp đến sử dung lao động. Đó là chi phí kinh doanh gắn với công việc tuyển
dụng lao động ; đào tạo, bồi dưỡng nghề nghiệp ; trả lương ;trả thưởng cho người
lao động ;trả bảo hiểm các loại theo luật định; chi phí kinh doanh cho nhà ăn, nhà
trẻ, cho các hoạt động văn hoá, thể thao, quà tặng trong các dịp lễ hội, chi phí kinh
doanh sử dụng lao động …Trong cạch tranh giá cả luôn là một trong những phương
pháp các doanh nghiệp thường áp dụng. Mà chi phí cho sản phẩm gồm hai nhân tố
chính là :” C” : các yếu tố thuộc về đất đai, vốn, máy móc. Yếu tố thứ hai là : “V”:
lao động. Tuỳ theo loại hàng sản xuất mà lao động chiếm tỷ trọng lớn hay nhỏ trong
chi phí. Có thể nói rằng dù sản xuất sản phẩm gì thì lao động là một khoản chi phí
không nhỏ trong doanh nghiệp, được chi trả một cách thường xuyên. Trong xu
hướng hội nhập, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật được thực hiện dễ dàng hơn. Do
đó, ở cùng điều kiện khoa học kỹ thuật các doanh nghiệp hướng tới giảm tối đa chi
phí sử dụng lao động. Điều này không có nghĩa là giảm biên chế một cách tối đa mà
phải sử dụng lao động có hiệu quả cao nhất. Chỉ sử dụng những lao động đáp ứng
tốt nhất yêu cầu công việc. Đối với những lao động không đáp ứng được yêu cầu
công việc, không những doanh nghiệp phải trả chi phí cho họ, mà còn chựu những
tổn thất như : sản phẩm sai hỏng, không đủ chất lượng, sản phẩm tồn không bán
được do chất lượng kém. Đó là những chi phí mà doanh nghiệp cần tính toán và
buộc phải có biện pháp với số lao động dôi dư thiếu trình độ này.Để đáp ứng công
việc một cách tốt nhất thì doanh nghiệp không thể chỉ sử dụng một số ít người lao
động thực hiện một công việc quá tải, nó chỉ là những giải pháp ngắn hạn như để
đáp ứng cho hợp đồng cấp bách ngưòi lao động có thể làm tăng thêm ca.Nhưng
quyết vấn đề lao động.
Trong môi trường kinh doanh đầy biến động, buộc các doanh nghiệp cũng
phải thay đổi sao cho phù hợp, đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển. Để đáp ứng
nhu cầu thị trường và cạnh tranh với các doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp tiến
hành các bước đầu tư nghiên cứu, sản xuất kinh doanh dẫn tới có những thay đổi
trong cơ cấu doanh nghiệp. Số lượng lao động ở các phòng ban, phân xưởng có sự
thay đổi. Việc chuyển đổi lao động giữa các phòng thường rất khó thực hiện, do trình độ và lĩnh vực chuyên môn khác nhau. Làm nảy sinh tình trạng thừa thiếu lao
động, để cơ cấu mới thực sự hoạt động hiệu quả thì buộc doanh nghiệp cần có giải
pháp xắp xếp lao động hợp lý, vào từng vị trí cộng việc với năng lực phù hợp, nên
tất yếu doanh nghiệp cần sử lý tình trạng lao động xuất hiện.
iii. Một số yếu tố ảnh hưởng tới lao động.
3.1. Khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Tiêu thụ sản phẩm là một trong sáu chức năng hoạt cơ bản của doanh nghiệp.
Nó đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Trong
cơ chế thị trường, mọi hoạt động của doanh nghiệp đều tuỳ thuộc vào khả năng tiêu
thụ, nhịp độ tiêu thụ quy định nhịp độ sản xuất. Người sản xuất chỉ có thể và phải
bán cái mà thị trường cần chứ không thể bán cái mà mình có. Để tăng hiệu quả kinh
doanh, các doanh nghiệp luôn chú ý giảm chi phí một cách tối đa. Do đó, số lượng
công nhân phụ thuộc vào khối lượng sản phẩm mà doanh nghiệp có thể tiêu thụ
được. Nếu doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng không tiêu thụ được sản phẩm và
chưa có giải pháp về thị trường, buộc doanh nghiệp phải nghĩ tới việc thu hẹp sản
xuất, sa thải công nhân, giảm chi phí cho lao động, nhằm tiếp tục duy trì sản xuất ở
quy mô nhỏ hơn. Đối với các doanh nghiệp đang phát triển, khả năng tiêu thụ tốt,
sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường, kế hoạch mở rộng sản xuất sẽ được các
nhà quản trị hướng tới. Đồng thời, đó là sự thay đổi về nhân sự, nguồn nhân lực
tăng lên đáp ứng quy mô sản xuất mới. Với nhu cầu ngày càng đa dạng, sản phẩm
đáp ứng nhu cầu cũng đa dạng hơn, các doanh nghiệp luôn có chiến lược đa dạng
3.3. Doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất.
Với những doanh nghiệp đang phát triển, các nhà quản trị luôn luôn xây
dựng cho mình một chiến lược mở rộng quy mô của doanh nghiệp nhằm tăng vị thế
của doanh nghiệp và mục đích cuối cùng là tăng lợi nhuận. Để thực hiện chiến lược
này buộc doanh nghiệp có kế hoạch chuẩn bị về mọi mặt, chuẩn bị đủ các yếu tố
cho sản xuất : lao động, vốn, máy móc….Khi thực hiện chiến lược mở rộng quy mô
sản xuất thì số lao động ở các phòng ban tăng lên, xuất hiện những phòng ban phân
xưởng mới, với nguồn lao động cũ buộc doanh nghiệp phải tuyển thêm lao động
mới thì mới đáp ứng được nhu cầu sản xuất.
3.4. Đổi mới máy móc, thiết bị, công nghệ. Khoa học - kỹ thuật phát triển làm cho kỹ thuật công nghệ thay đổi thường
xuyên và nhanh chóng. Nền kinh tế mở, hội nhập dẫn đến việc tiếp thu nhanh chóng
các thành tựu khoa học công nghệ ở nhiều nước trên thế giơí. Điều này càng đẩy
mạnh tiến trình thay đổi kỹ thuật công nghệ ở mọi doanh nghiệp. Kỹ thuật công
nghệ thay đổi đòi hỏi thay đổi về yêu cầu nghề nghiệp cũng như kết cấu về nghề
nghiệp, nội dung tổ chức doanh nghiệp, đặc biệt có những biến động lớn trong
nguồn nhân lực để sử dụng máy móc công nghệ một cách hiệu quả nhất. Theo xu
hướng phát triển khoa học công nghệ chung, các doanh nghiệp phải tiến hành đầu tư
mua sắm thiết bị công nghệ mới nhằmsản xuất ra sản phẩm có sức cạnh tranh. Đồng
thời là những thay đổi của nguồn nhân lực.Khi đổi mới công nghệ xuất hiện tình
trạng nhiều lao động không đủ trình độ đáp ứng yêu cầu sản xuất, đưa doanh nghiệp
tới vấn đề thiếu lao động có trình độ đáp ứng công việc. Với việc nâng cao kỹ thuật
công nghệ, dẫn tới trình độ tự động hoá sản xuất ngày càng cao, sản xuất dây
chuyền được hình thành làm giảm số lượng lao động, tạo ra một lượng lao động dư
thừa trong doanh nghiệp.
3.5. Những thay đổi trong cơ chế quản lý.
Cơ chế quản lý là phương pháp, hành động được vận dụng trong các hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cụ thể, là hành động thói quen trong
Phần ii
Thực trạng lao động tại Công ty Xe đạp VIHA.
I. Qúa trình hình thành và phát triển của Công ty Xe đạp VIHA.
1.1. Giới thiệu chung về công ty.
Tên công ty: viha bicycle company
Tên giao dịch: vihabico
Tên giám đốc: Nguyễn Hữu Sơn
Địa điểm : Số 82 đường Nguyễn Tuân _ Quận Thanh Xuân _ Hà Nội
Điện thoại : 5580425-5580229
Tài khoản : 710A00105- Vietcombank - Số10 Tràng Thi - Hoàn Kiếm Hà
Nội
Công ty Xe đạp VIHA có hai địa điểm đóng tại : Số 10B Tràng Thi - Hoàn
Kiếm - Hà Nội
Tổng số vốn khi mới thành lập là: 4.293.580.000 VNĐ
Trong đó :
Vốn cố định là: 2.449.000.000 VNĐ
Vốn lưu động là: 1.562.000.000 VNĐ
Vốn khác: 282.000.000 VNĐ
Vốn lấy từ hai nguồn :
Vốn nhà nước : 70_ 80%
Còn lại là vốn vay với lãi xuất : 1_1,2%/ tháng.
Tổng diện tích mặt bằng : 22964 m
2
gồm xưởng và văn phòng làm việc.
Là công ty nhà nước, có nhiệm vụ :
Sản xuất kinh doanh, nhập khẩu xe đạp, các loại phụ tùng xe đạp và các sản
phẩm cơ khí.
Công ty liên doanh liên kết với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước để
đầu tư và mở rộng sản xuất kinh doanh. Công ty mở các đại lý, chi nhánh và các
cửa hàng để giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm. Công ty được phép thuê văn phòng đại
xuyên tiếp xúc, trao đổi với cấp lãnh đạo. Tạo ra môi trường hoà đồng, đảm bảo
quyền lợi cho người lao động.
1.2.2. Bộ máy quản trị
Giám Đốc
PGĐ.KD
PGĐ.KT
PGĐ.TKCơ
B
ản
P.SXKD PKTCL P. Kinh Tế
P. Tổng
H
ợp
PX.
Gia
Công
áp
Lực
PX.
Phụ
TùngPX.
cạnh tranh trên thị trường của công ty. trong thời gian qua công ty đã và đang thực
hiện rất tốt những vấn đề này, là cơ sở để tồn tại và có vị thế cạnh tranh trên thi
trường.
1.2.3. Hệ thống các phòng ban.
Trong quá trình phát triển, công ty luôn có sự thay đổi, đặc biệt trong tinh
giản số lượng các phòng quản trị, số nhân viên hành chính. Từ đó, công ty đã tăng
hiệu quả trong lao động hành chính, giảm được chi phí kinh doanh, tạo không khí
làm việc nhiệt tình của cán bộ công nhân viên trong công ty. Vào thởi điểm mới
thành lập công ty có bảy phòng ban, đến năm 1998 công ty đã xáp nhập các phòng
ban thành bốn phòng ban chính, với số lượng nhân viên phù hợp hơn.
+ Phòng hành chính tổng hợp.
Phòng hành chính tổng hợp có chức năng rất quan trọng, giúp giám đốc quản
lý và điều động nguồn nhân lực trong công ty. Phòng này, lên các kế hoạch điều
động và phân bổ lao động theo kế hoạch sản xuát của công ty, tổ chức tổng hợp
công điểm của lao động, để thực hiện trả lương và khen thưởng cho công nhân.
Thường xuyên đôn đốc công nhân trong lao động, sản xuất, cũng như thực hiện các
chế độ, chính sách của nhà nước. Đồng thời đảm bảo đời sống cho công nhân như: tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí, các cuộc thi tay nghề giỏi, cung cấp bữa ăn
trưa cho công nhân viên, tạo điều kiện cho mọi thành viên trong doanh có cơ hội
nâng cao tay nghề và trình độ của mình qua: tự đào tạo và được doanh nghiệp cử đi
đào tạo. Chựu trách nhiệm tuyển chọn và đào tạo lao động hàng năm theo kế hoạch
của công ty. Ngoài ra, phòng còn giúp giám đốc thực hiện các công việc hành chính
như : quản trị văn thư lưu trữ, soạn thảo các văn bản pháp quy, các công văn đối
nội, đối ngoại, tổ chức các buổi hội nghị, các cuộc gặp gỡ về những vấn đề chung
của công ty.
+ Phòng sản xuất kinh doanh.
Phòng sản xuất kinh doanh thực hiện điều tra nghiên cứu thị trường, về tình
khách hàng ở hiện tại và tương lai, tập trung nghiên cứu chế thử các sản phẩm mới
từ các ý tưởng để sẽ là công ty đầu tiên tung sản phẩm ra thị trường.
1.2.4. Một số chức vụ quản trị khác.
+ Quản đốc phân xưởng.
Đây là chức vụ do giám đốc bổ nhiệm, chựu trách nhiệm trước giám đốc,
quản lý toàn bộ hoạt động của phân xưởng. Đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ, kế
hoạch sản xuất theo đúng chất lượng và số lượng. Có nhiệm vụ, giám sát công nhân,
đảm bảo điều kiện tốt nhất cho họ lao động đạt kết quả cao nhất, đồng thời trực tiếp
điểm công gửi lên phòng tổng hợp, để tính lương và tiền thưởng cho công nhân
hàng tháng. Là người trực tiếp, luôn bên cạnh người công nhân nên người quản đốc
phân xưởng giữ vai trò rất quan trọng, hiểu và tạo điều kiện tốt nhất cho công nhân
hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, nâng cao năng xuất trong công ty, cũng là người đề
đạt nguyện vọng của công nhân lên cấp quản trị cao hơn.
+ Thủ quỹ.
Là người được giám đốc giao nhiệm vụ thu, chi tiền mặt trong công ty. Các
hoạt động tiến hành cần tới tiền mặt, có được tiến hành nhanh hay không đều do
khả năng của người thủ quỹ. Trong kinh doanh nhiều hoạt động bất thường cần gấp
tiền mặt, nếu người thủ quỹ quyết đoán, cơ hội giành chiến thắng trên thương
trường sẽ cao hơn.
+ Thủ kho.
Có nhiệm vụ xuất, nhập nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm và cất
giữ một số tài sản khấc của doanh nghiệp. Thường xuyên theo dõi, thống kê tình
hình kho bãi, tình hình hàg hoá, lập kế hoạch nâng cấp kho lưu trữ. Với nhiệm vụ hiện nay, khi doanh ngiệp đang tổ chức thực hiện ISO 9002, thủ kho đóng vai trò rất
quan trọng trong quản lý phiếu xuất nhập hàng hoá, cũng như nguyên vật liệu.
1.2.5. Hệ thống các phân xưởng.
Trong những năm đầu, doanh nghiệp có tám phân xưởng. sau đó, để thuận
lợi hơn cho quá trình sản xuất và quản lý, các phân xưởng đã được sáp nhập thành Quy trình công nghệ này, được thực hiện tại một nhà xưởng. Việc bố trí hợp
lý toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất trong một nhà xưởng, đã liên kết đựơc các
bước côngviệc với nhau một cách chặt chẽ, Do đó, sự luân chuyển các bước công
việc được tiến hành một cách thuận lợi, năng xuất công việc được tăng lên, các sản
phẩm có chất lượng cao hơn. Công nhân ở các bước công việc sẽ có nhiều cơ hội
hơn trong việc trao đổi, làm năng xuắt được nâng cao. Tuy vậy, do máy móc cũ nên
năng xuất của công nhân không cao. Thời gian tại các bước công việc không đồng
đều, có bước tốn nhiều thời gian như :”bước gia công”. Gây nên sự ứ đọng trong
công việc, các bán thành phẩm tồn nhiều hoặc tạo nên thời gian dỗi cho công nhân.
+ Dây chuyền sản xuất yên nhựa
Dây chuyền sản xuất xe đạp T
Sơn
đèo
hàng
Sản
xuất
phụ
tùng
S
ản xuất các loại
chi ti
ết
M
ặt yên nhựa
Mặt mút xốp cao
su
Bộ xương yên
b
ằng sắt
L
ắp ráp
Nh
ập kho
Với mặt bằng rộng, sát mặt đường tạo điều kiện tốt cho việc lưu thông vận
chuyển. Các dãy nhà đựơc xây dựng sát nhau, mặc dù giãy nhà giành cho bộ máy
quản trị bố trí tách riêng, nhưng mối liên hệ với khu sản xuất vẫn được thực hiện
một cách thuận lợi. Các phòng quản trị đựơc xây nối thông với nhau, bố trí theo chức năng hoạt động,trong mỗi phòng bố trí các ô ngăn, mỗi ô giành cho một phòng
ban, với diện tích thích hợp, mỗi nhân viên đều được bố trí nơi làm việc hợp lý. Với
việc bố trí đó, công ty vừa tiết kiệm được diện tích, tạo điều kiện cho các phòng có
thể đưa thông tin, liên hệ một cách nhanh tróng, thêm vào đó thúc đẩy mỗi nhân
viên phải cố hết sức mình trong công việc. Hệ thống các nhà xưởng sát nhau (gồm
sáu nhà ), với không gian rộng, tạo điều kiện cho công nhân làm việc một cách thoải
mái. Nhà xưởng với hệ thống thông gió tốt, đã làm giảm không khí bụi, bặm cho
quá trình sản xuất, do các nhà xưởng được bố chí sát nhau nên mối liên hệ giữa các
xưởng được diễn ra nhanh tróng. Thời gian cho việc vận chuyển sản phẩm giữa các
xưởng đựơc thực hiện nhanh, tiết kiệm được chi phí kho, bãi.
Đặc biệt để nâng cao năng xuất và tạo môi trường làm việc tốt nhất cho công
nhân,năm 2001 công ty đã đầu tư cho xây lắp hệ thống nhà xưởng trị giá: 5143 trđ.
Trong đó:
+ Nhà sản xuất khẩu độ 30m
2
: Trị giá : 2769 Trđ.
+ Kỹ thuật hạ tầng nhà sản xuất khẩu độ 15m
2
và công trình phụ : trị giá :
1865 trđ
.
+ Cải tạo sửa chữa hai khu hàn, hiện có khẩu độ 24m
2
Quốc
Hỏng vòng bi, mất độ chính xác
4 C6200 Việt Nam Trượt dao mòn, trục khuỷu hàn lại
5 Máy tiện cắt tôn Ba lan Thay dây chở điện chở nhiều lần
6 Lò trở điện Liên Xô
Đ
ộ chính xác thấp, lực ép giảm, mất
đồng hồ.
7 Máy ép thuỷ lực Liên Xô Hỏng nặng
8
Máy ép phay n
ằm
ngang
Đức Hỏng điều khiển
Để luôn duy trì hoạt động của máy móc, công ty đã thực hiện chế độ kiểm tra
bảo dưỡng thường xuyên và định kỳ, giúp cho quá trình sản xuất được liên tục. Để
nâng cao chất lượng sản phẩm và năng xuất lao động, tháng 6 năm 2001 công ty có
đầu tư mua một số máy móc thiết bị : Trị giá : 961 trđ.
Trong đó :
+ Dây truyền thiết bị khung, phuốc : 563,9 trđ
+ Dây truyền thiết bị sơn tĩnh điện, dây truyền lắp ráp xe đạp: 397,2 trđ.
Bảng 2. Trủng loại máy móc trang thiết bị của công ty
TT Chủng loại Số lượng (chiếc)
Chất lượng (%)
1 Máy tiện các loại 24 50
2 Máy phay 3 50
Chất lượng (%)
24 Máy hàn điện 2 60
25 Máy hàn bấm 1 47
26 Máy dập 125 tấn 2 49
27 Máy nén khí 3 75
28 Máy đo độ cứng 1 60
29 Lò than di động 1 65
30 Ô tô DAEWOO LADA 2 70
31 Lò sấy phớt 2kw 1 47
32 Tổng số : 131
Công ty có 131 đơn vị máy móc với 31 chủng loại cho sản xuất. Máy móc đã
tương đối lạc hậu, nhiều máy đã khấu hao hết. Trung bình các máy còn 58,0916%.
Do tình trạng máy móc, nên công ty thực hiện việc kiểm tra và bảo dưỡng một các
thường xuyên, đã đảm bảo quá trình sản xuất liên tục.Để tiếp tục khẳng định vị thế
trên thị trường, hàng năm công ty có các kế hoạch mua sắm, cải tiến máy móc như :
Năm 2001 nhập dây truyền sản xuất xe đạp của Hàn Quốc, năm 2002 nhập dây
truyền phun sơn và nhiều cải tiến máy móc của cán bộ công nhân viên trong công
ty.
+ Thiết bị cho công tác quản trị.
Công ty trang bị một máy fax, sáu máy điện thoại, mỗi phòng một máy tính,
và một máy phô tô cho toàn công ty. Với trang bị đó, phần nào đã đáp ứng được
nhu cầu cho quá trình quản trị, nó thúc đẩy tốc độ công việc tăng lên rất nhiều. Để
đáp ứng cho tăng khả năng của từng cá nhân, cần có sự trang bị đầy đủ hơn nữa,như
mỗi ngưòi cần một máy tính, máy điện thoại, từ đó sẽ phát huy được năng lực của
từng cá nhân,giúp công ty tăng năng xuất, tiết kiệm được chi phí thuê nhân công.
1.2.7. Đặc điểm về tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ.
biến động về giá cả và sự khan hiếm, công ty đã nhập định kỳ một số lượng NVL.