Nghiên cứu chế tạo màng phủ chậm cháy ứng dụng bảo vệ bề mặt vật liệu xốp polystyren - Pdf 43

LUẬN VĂN THẠC SĨ

VŨ NGỌC QUÍ

MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển về kinh tế và sự tăng dân số ở các đô thị lớn, các công
trình như khách sạn, tòa nhà, khu chung cư được xây dựng ngày càng nhiều. Đi kèm
với việc phát triển về mật độ xây dựng, các vụ cháy lớn xảy ra tăng lên một cách rõ
rệt. Khi xảy ra cháy nổ những đồ dùng bằng xốp, gỗ, nhựa, vải là loại vật liệu dễ bắt
lửa nhất, sẽ sản sinh lượng nhiệt cao làm duy trì và phát triển đám cháy, ngoài ra
còn tạo ra lượng khói lớn gây ngạt khí và giảm tầm nhìn làm cho người bị nạn khó
thoát ra ngoài được. Với tình hình cháy nổ xảy ra ngày càng tăng như hiện nay, đặc
biệt thường xảy ra ở những tòa nhà cao tầng, các cửa hàng, siêu thị, quán xá, nhà
máy … cùng với công tác chữa cháy đang gặp rất nhiều khó khăn cả về người và
phương tiện, thì biện pháp cấp bách được đề cao là công tác phòng cháy, vì đó là
biện pháp tích cực, chủ động, cơ bản và hiệu quả nhất.
Theo thống kê của Cục Cảnh sát PCCC và CNCH, trong năm 2014 cả nước xảy
ra 2.375 vụ cháy (trong đó có 2.025 vụ cháy tại các cơ sở, nhà dân, phương tiện
giao thông và 350 vụ cháy rừng). Đặc biệt là ở các công trình nhà hàng karaoke,
quán bar thì lượng xốp cách nhiệt sử dụng nhiều, thêm nữa là hệ thống thiết bị điện
chằng chịt thì nguy cơ cháy là rất lớn và khả năng dập tắt đám cháy ở ngay giai
đoạn đầu của đám cháy là không cao do tính bắt cháy và lan cháy mạnh của xốp,
gỗ, vải. Qua các vụ cháy ở nhà hàng karaoke có thể nhận thấy khi lực lượng PCCC
có mặt thì đám cháy đã thiêu rụi toàn bộ các đồ đạc bên trong, gây nguy hiểm tới
tính mạng con người. Nguyên nhân chính gây ra tử vong cho con người trong các
vụ cháy là khí và khói. Do những tác hại nghiêm trọng gây ra mà từ lâu hỏa hoạn đã
được xếp vào một trong bốn đại họa của loài người. Vì vậy, việc sử dụng các vật
liệu chống cháy ở các địa điểm có nguy cơ cháy cao là rất cần thiết, đảm bảo
nguyên tắc phòng hơn tránh do các thiệt hại lớn mà cháy nổ gây ra.
Tuy việc phòng cháy triệt để là phải loại trừ được toàn bộ các nguồn gốc gây
cháy ra khỏi các hoạt động của con người, nhưng thực tế người ta vẫn chưa làm



LUẬN VĂN THẠC SĨ



VŨ NGỌC QUÍ

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu chế tạo và đưa ra được qui trình công nghệ chế tạo màng phủ chậm
cháy thân thiện môi trường để phủ lên bề mặt xốp Polystyren. Sản phẩm nghiên cứu
cần đạt được một số chỉ tiêu chất lượng như trong bảng sau:
Chỉ tiêu chất lượng cần đạt của dung dịch màng phủ chậm cháy
TT

Chỉ tiêu chất lượng

Đơn vị

Mức chất lượng

Tiêu chuẩn áp dụng

-

6÷8

TCVN 8826:2011



Độ bám dính

Điểm

1

TCVN 2097:1993

-

25 ÷ 40

TCVN 2101:2008

o

5

Độ bóng, góc 60

6

Hàm lượng chất rắn

%

 25

TCVN 2093 - 1993

ISO 9772:2012

 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
 Nghiên cứu lựa chọn hệ chất tạo màng để chế tạo màng phủ bảo vệ;
 Nghiên cứu lựa chọn các thành phần phụ gia chậm cháy;
 Nghiên cứu lựa chọn các thành phần phụ gia cải thiện tính chất màng phủ;
 Nghiên cứu lựa chọn các điều kiện công nghệ để phân tán các chất phụ gia
chậm cháy vào trong chất tạo màng;
 Nghiên cứu cấp phối chế tạo màng phủ;
 Nghiên cứu qui trình công nghệ chế tạo màng phủ;
 Ứng dụng thử nghiệm khả năng chống cháy theo tiêu chuẩn ISO 9772:2012.

3


LUẬN VĂN THẠC SĨ

VŨ NGỌC QUÍ

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Giới thiệu chung về quá trình cháy
Diễn biến cháy của một vật liệu được xác định bởi các điều kiện bên ngoài như:
- Nhiệt độ
- Nguồn cháy (cường độ cháy)
- Nguồn cấp oxy
- Độ dày của lớp nền và hình dạng các bộ phận cấu thành
- Ảnh hưởng của các vật liệu đặt cạnh nhau
Các đặc tính nguyên bản như được nêu bên dưới cũng có ảnh hưởng lớn đối với
diễn biến cháy:
- Nhiệt độ phân hủy (bắt đầu nhiệt phân)

Bảng 1.1: Quá trình cháy trong pha khí và pha rắn
Trạng thái đầu
Pha khí
Pha đặc
Cân bằng
năng lượng

Bắt đầu cháy

Cháy lan

Oxi trong
không khí

Khí cháy và khí không cháy

Oxi hóa và cháy
tới 1200 0C

Polymer  Nhiệt

Chất lỏng cháy

Cháy tàn và cháy

phân ở 250 0C

Hình thành nên các cặn than âm ỉ ở 500 0C
Thu nhiệt (-Q1)


hủy nhiệt
 Nguồn nhiệt: được cung cấp bởi quá trình oxy hóa tỏa nhiệt của nhiên liệu
và không khí
 Oxy: được cung cấp bởi không khí
Đối với vật liệu rắn như các polyme tự nhiên hoặc tổng hợp có thể bắt cháy khi
tiếp xúc với nguồn nhiệt bên ngoài. Về cơ bản quá trình cháy của một polyme tự
nhiên hoặc tổng hợp bao gồm 4 giai đoạn: sấy, phân hủy, mồi lửa đốt cháy và lan
truyền. Quá trình sấy là việc gia nhiệt cho vật liệu bằng một nguồn nhiệt bên ngoài,
điều này làm tăng nhiệt độ và phụ thuộc vào cường độ gia nhiệt của nguồn nhiệt, độ
dẫn nhiệt của vật liệu, nhiệt dung riêng, nhiệt ẩn của quá trình nóng chảy hoặc bay
hơi của vật liệu. Khi bị nung nóng đến một giới hạn, vật liệu bắt đầu bị phân hủy
nhiệt, nghĩa là nó mất dần tính chất ban đầu do các liên kết yếu bắt đầu bị phá vỡ.
Các sản phẩm cháy bắt đầu hình thành, tỷ lệ phụ thuộc vào cường độ nhiệt bên
ngoài, nhiệt độ phân hủy và tỷ lệ phân hủy. Nồng độ khí dễ cháy tăng dần lên đến
khi đạt một mức độ cho phép quá trình oxy hóa bền vững. Nguồn mồi lửa và khí
6


LUẬN VĂN THẠC SĨ

VŨ NGỌC QUÍ

oxy là hai yếu tố quan trọng trong bất kỳ quá trình bắt cháy nào. Sau khi bắt cháy,
quá trình đốt cháy trở nên tự lan truyền nếu đủ nhiệt tạo ra và bức xạ trở lại vật liệu
để tiếp tục quá trình phân hủy. Quá trình đốt cháy là quá trình bị chi phối bởi nhiều
yếu tố như tỷ lệ sinh nhiệt, tốc độ lan truyền, diện tích bề mặt, tỷ lệ phân hủy [5].

Hình 1.2: Mô hình cháy vật rắn

1.2. Phân loại vật liệu cháy và cơ chế ngăn quá trình cháy

dựng, nhưng yêu cầu đối với công trình cao tầng thì cần chặt chẽ hơn và chất lượng
áp dụng phải đạt vật liệu nhóm B1 đối với các vật liệu đó (như lớp trát thô, ống
PVC, ván sàn bằng gỗ sồi) thì phần lớn được yêu cầu. Nhiều hạng mục (như giao
thông, kỹ thuật điện, đồ nội thất, đồ trang trí) có yêu cầu riêng, hầu như các quốc
gia đều có các nguyên tắc thử khác nhau. Một tiêu chuẩn quan trọng mà phương
pháp thử được sử dụng rộng rãi là UL94V “Đánh giá khả năng bắt lửa của Tổ chức
phòng thí nghiệm an toàn (USA)”, mẫu được treo tự do ở trạng thái đứng, góc bên
dưới đặt 1 đèn đốt Busen trong vòng 10 s và sau đó phân loại nhóm vật liệu bắt
cháy thông qua diễn biến cháy của chúng:
Thời gian cháy hoàn toàn

Thời gian cháy tàn

Cháy nhỏ giọt

94V-0

≤5s

≤ 30 s

Ko

94V-1

≤ 25 s

≤ 60 s

Ko

Một hệ chậm cháy là một hợp chất hoặc một hỗn hợp phụ gia được đưa vào vật
liệu có tác dụng tăng cường khả năng kháng cháy cho vật liệu, có tác dụng ức chế,
ngăn chặn hoặc trì hoãn sự phát sinh ngọn lửa nhằm ngăn chặn sự lây lan của đám
cháy. Hệ chậm cháy có thể được thêm vào vật liệu trong quá trình sản xuất như sản
xuất gỗ nhân tạo, các sản phẩm polyme, hoặc trong quá trình tạo hình sản phẩm như
sản xuất các đồ dùng bằng nhựa, hoặc đưa vào vật liệu hoàn thiện như sơn và màng
phủ. Một chất chậm cháy hiệu quả cần phải ngăn cản được tối thiểu một trong ba
yếu tố chính đảm bảo sự cháy trong tam giác cháy Emman. Do quá trình tự đốt cháy
xảy ra trên cả hai pha khí và pha rắn, nên việc sử dụng chất chậm cháy có tác dụng
phá vỡ quá trình tự đốt cháy bằng cách tác động đến quá trình vật lý và hóa học xảy
ra trong cả hai pha khí và pha rắn. Tùy theo tính chất, phụ gia chậm cháy có thể
tương tác hóa học hoặc vật lý ở thể rắn, lỏng hoặc khí. Chúng cũng có thể can thiệp
vào các giai đoạn cụ thể của quá trình đốt cháy [5].
Cách thức làm chậm cháy là gây nhiễu cho quá trình cháy, tùy phụ thuộc vào
dạng cơ chế của chúng (vật lý hoặc hóa học) và pha hoạt động (pha rắn hoặc khí).
Bảng 1.2 đưa ra khái quát các nguyên lý khác nhau để ức chế sự cháy.
Bảng 1.2: Cách thức hoạt động của chất chậm cháy
Dạng hoạt động
Vật lý
Hóa học
(A) Pha loãng khối cháy
(B) Thu nhiệt để phân hủy

×
×

(C) Hình thành các lớp than
(D) Giải phóng các gốc tự do

×

hợp khí cháy thấp hơn giới hạn cháy của hỗn hợp.
 Tương tác hóa học: Xảy ra một số phản ứng hóa học can thiệp vào quá
trình đốt cháy pha rắn hoặc khí. Đối với pha khí - các gốc tự do của quá trình đốt
cháy diễn ra trong pha khí bị gián đoạn do chất chậm cháy. Do đó các quá trình tỏa
nhiệt bị ngăn lại, vật liệu được làm mát xuống và việc cung cấp khí dễ cháy cũng bị
giảm thiểu dẫn đến quá trình cháy bị dập tắt. Đối với pha rắn có thể xảy ra hai loại
phản ứng. Thứ nhất sự bẻ gẫy của các polyme có thể được tăng tốc bằng tác nhân
chậm cháy gây ra sự chảy của polyme do đó tránh khỏi phạm vi ảnh hưởng của
ngọn lửa nên thoát khỏi nguy cơ cháy. Thứ hai, chất chậm cháy có thể sinh ra một
lớp các bon trên bề mặt vật liệu. Điều này có thể xảy ra thông qua sự khử nước của
tác nhân chậm cháy sinh ra liên kết đôi trong polyme tạo ra liên kết vòng hoặc liên
kết ngang trong lớp cacbon hóa.
Khả năng chậm cháy cũng có thể được cải thiện bằng cách sử dụng tác nhân
chậm cháy tạo ra một lớp màng hoặc một bề mặt có độ dẫn nhiệt thấp hoặc phản xạ
nhiệt cao, làm giảm tốc gia nhiệt đến vật liệu bảo vệ. Mặt khác cũng có thể được cải
thiện bằng cách sử dụng tác nhân chậm cháy có tác dụng tản nhiệt bằng cách ưu tiên
phân hủy ở nhiệt độ thấp. Có thể sử dụng một màng phủ trương phồng chậm cháy,
khi tiếp xúc với nhiệt màng phủ trương phồng tạo thành một bề mặt xốp có tính dẫn
nhiệt thấp. Có thể sử dụng những phụ gia làm thay đổi sự phân hủy hóa học của sản
phẩm, làm nồng độ khí cháy thấp dẫn đến ít tỏa nhiệt hơn và có thể dẫn đến làm tự
dập tắt ngọn lửa.
10


LUẬN VĂN THẠC SĨ

VŨ NGỌC QUÍ

Các tác nhân chậm cháy xảy ra trong cả hai pha như pha hơi (bằng cách can thiệp
vào quá trình oxy hóa thông qua việc loại bỏ các gốc tự do) và trong pha rắn (than


LUẬN VĂN THẠC SĨ

VŨ NGỌC QUÍ

Năng lượng Qd sử dụng được lấy từ quá trình cháy; cái này thấp hơn lượng nhiệt
cháy Qc mà có thể đã được sử dụng để nhiệt phân lớp nền (quá trình tỏa nhiệt khác,
tiêu thụ Qp). Kết quả là ΔQ trong cân bằng năng lượng Qc - Qp - Qd = ΔQ thấp
xuống dưới 0, kéo theo lớp nền không thể duy trì quá trình cháy, vật liệu tuy dễ bắt
cháy nhưng sẽ tự dập tắt. Trong trường hợp này, ngọn lửa có thể lan chỉ nếu có
thêm năng lượng bên ngoài tiếp tục bổ xung thêm vào khối cháy.
Đại diện tiêu biểu của chất chậm cháy này là nhôm trihydroxit (ATH), nó sẽ sản
sinh ra nước và hấp thu nhiệt mạnh (Qd = 298 kJ.mol-1):
2Al(OH)3  Al2O3 + H2O ở 180 đến 200 0C
Hình thành than
Nếu lớp nền chứa các chất có xu hướng hình thành than, như hợp chất thơm hoặc
các chất hữu cơ có cấu trúc giàu liên kết đôi C=C hoặc các nhóm hydroxyl, phản
ứng cốc hóa có thể xuất hiện trên bề mặt của pha đặc thành lớp ngăn lửa. Lớp than
với tính cháy thấp, phủ lên lớp nền như cái chụp hoặc lớp phủ ngoài làm chậm cháy
hơn theo 2 cách: cản trở sự trao đổi nhiệt trên lớp nền và tạo rào chắn do vậy cản trở
quá trình nhiệt phân tiến vào lớp sâu hơn của nền và là màng chắn chuyển tiếp của
sản phẩm nhiệt phân từ pha đặc tới pha khí, vì vậy hạn chế cung cấp vật liệu cháy
vào trong ngọn lửa.
Hợp chất hữu cơ giàu nhóm hydroxyl, phản ứng than hóa xảy ra theo 2 bước:
Đầu tiên lớp nền chứa nhóm hydroxyl được loại nước bởi các axit xúc tác và liên
kết đôi C=C được hình thành:
Quá trình này chuyển đổi nhiệt phát ra thành các lớp liên kết ngang giàu cacbon.
Axit Photphoric và este photphoric trải qua các quá trình tương tự, để phân hủy
trong axit và tổ hợp nên liên kết đôi C=C:
Dẫn xuất Axit photphoric vì vậy được hình thành như tác nhân khử nước và có

cháy chữa cháy quốc gia Mỹ được công bố năm 2011 cho thấy, nhóm người có
nguy cơ tử vong cao nhất trong các vụ cháy là trẻ em dưới 5 tuổi và người già trên
65 tuổi [6].

13


LUẬN VĂN THẠC SĨ

VŨ NGỌC QUÍ

Hình 1.3: Thời gian thoát hiểm khi không sử dụng và sử dụng chậm cháy
Do đó, phụ gia chậm cháy được sử dụng để tăng ngưỡng nhiệt độ đốt cháy của
vật liệu, giảm tỷ lệ vật liệu cháy, giảm thiểu sự lây lan của ngọn lửa (hình 1.3). Ba
loại vật liệu chính đòi hỏi cần bảo vệ chậm cháy bao gồm:
 Dây và cáp điện: Cấu trúc hiện đại ngày nay chứa một lượng lớn dây và
cáp điện từ điện thoại, máy tính đến hệ thống sưởi ấm, điều hòa và thang máy. Thiết
bị điện và thông tin liên lạc cung cấp cho các phòng khác nhau của một tòa nhà
thường được đi kèm với nhau và có thể chạy theo chiều dọc từ tầng trệt đến tầng
thượng, và thường nằm sâu bên trong tường của tòa nhà, nó có khả năng tăng nguy
cơ cháy do chập điện và các sự cố liên quan. Nếu một dây cháy nó có khả năng ảnh
hưởng đến tất cả những dây xung quanh. Ngoài ra, dây và cáp điện nằm ẩn trong
tường nên không thể dễ dàng kiểm tra một cách thường xuyên. Để giảm nguy cơ
cháy điện, các nhà xây dựng sử dụng vật liệu cách nhiệt bằng nhựa là loại vật liệu
rất dễ cháy, được xử lý hoặc phủ bảo vệ bằng chất chống cháy tạo lớp bảo vệ dây
và cáp điện.
 Vật liệu cách nhiệt: Hầu hết các chủ nhà đều biết những lợi ích của vật
liệu cách nhiệt mang lại. Ngoài việc duy trì nhiệt độ theo mong muốn, việc sử dụng
các vật liệu cách nhiệt trong nhà, văn phòng và các tòa nhà công cộng là điều rất
quan trọng bởi vì nó làm giảm chi phí năng lượng và liên quan tới các chính sách sử


15


LUẬN VĂN THẠC SĨ

VŨ NGỌC QUÍ

Theo những kết quả nghiên cứu thị trường về phụ gia chậm cháy tại các thị
trường Mỹ, Châu Âu, và Châu Á vào năm 2007 thì tổng sản lượng khoảng 1,8 triệu
tấn có giá trị khoảng 4,2 tỷ USD (năm 2011 là 4,8 tỷ USD), với tỷ lệ các hệ phụ gia
như hình 1.4 và hình 1.5. Theo đó thị trường chiếm tỷ trọng lớn là hệ phụ gia hệ
halogen và antimo oxit tập trung chủ yếu tiêu thụ tại thị trường Châu Á, trong đó
chủ yếu là hai thị trường lớn là Trung Quốc và Ấn độ [7].

Hình 1.5: Biểu đồ cơ cấu phụ gia chậm cháy toàn cầu theo khu vực năm 2007
Nhu cầu thế giới đối với phụ gia chậm cháy được dự báo sẽ tăng hơn 6 % mỗi
năm lên 2,2 triệu tấn vào năm 2014, theo nghiên cứu về ngành công nghiệp chậm
cháy thế giới, được xuất bản bởi tập đoàn Freedonia. Khu vực Châu Á / Thái Bình
Dương sẽ tiếp tục là thị trường lớn nhất và phát triển nhanh nhất về chất chậm cháy,
chiếm 49 % nhu cầu thế giới vào năm 2014, tiếp theo là Bắc Mỹ (23%), Tây Âu
(19%), và các khu vực khác (9%). Ngoài triển vọng kinh tế được cải thiện, nhu cầu
về chậm cháy cũng sẽ được hưởng lợi từ xu hướng, hướng tới các tiêu chuẩn
nghiêm ngặt hơn về an toàn cháy nổ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, và việc
sử dụng ngày càng tăng của các sản phẩm nhựa thay vì các vật liệu khó cháy.
Những lo ngại về tác động môi trường và sức khỏe có thể gây tổn hại đến nhu cầu
của chất chậm cháy halogen hóa đã bắt đầu gây ra một sự thay đổi đáng kể trong cơ
16



VŨ NGỌC QUÍ

Người La mã từ những năm 200 trước công nguyên đã sử dụng hỗn hợp phèn và
giấm (Kali Aluminum Sunphat KAl(SO 4)2.12H2O hoặc Amoni Aluminum
Sulphat NH4Al(SO4)2.12H2O) để phủ và ngâm tẩm gỗ [10].
Năm 1638 Nikolas Sabbattini đề xuất một loại sơn chứa đất sét hoặc thạch cao để
phủ lên nhà hát ở Ý, và năm 1820 Fuchs đã sử dụng nattri silicat để phủ lên gỗ
trong nhà hát Munich [10].
Bằng sáng chế đầu tiên về vật liệu chậm cháy được công bố đầu tiên tại Anh
được cấp cho Obadiah Wyld vào năm 1735, ông đã sử dụng hỗn hợp phèn, sắt
sunphat và muối borat để giảm khả năng cháy cho vải dệt được sử dụng cho nhà hát
và các công trình công cộng. Năm 1783 phèn được sử dụng để giảm khả năng cháy
cho khinh khí cầu [11].
Trong chiến tranh thế giới thứ hai, các vải bạt quân đội sử dụng ngoài trời được
phủ bằng chất kết dính có chứa parafin clo hóa và một oxit kim loại được sử dụng
phổ biến là antimo oxit. Từ những năm 1900 nhiều hóa chất vô cơ khác trên cơ sở
các hợp chất silicat, sunphat, borat, photphat của kẽm, thiếc và canxi cũng đã được
sử dụng làm tác nhân chậm cháy trong xử lý vải sợi [12].
Trong những báo cáo từ những năm 1930 đến năm 1935, các nhà nghiên cứu tại
Phòng thí nghiệm Sản phẩm rừng USDA (Mỹ) đã nghiên cứu khoảng 130 công thức
xử lý chậm cháy của các hợp chất vô cơ khác nhau. Họ nhận thấy rằng diamino
photphat có hiệu quả nhất để giảm sự lây lan ngọn lửa và monoamino photphat,
amino clorua, amino sunphat, kẽm borat và kẽm clorua cũng là những hợp chất rất
hoạt động [13].
Hầu hết các sản phẩm và phụ gia chậm cháy sử dụng đã được phát minh từ
những năm 1950 đến năm 1980 [14]. Từ thời điểm đó, nhiều hệ sản phẩm mới đã
được phát minh và phát triển nhanh chóng góp phần vào sự phát triển các ngành
công nghiệp vật liệu, công nghiệp dệt may... Những hóa chất chậm cháy được phát
triển trong giai đoạn này chủ yếu là những sản phẩm trên cơ sở gốc halogen. Năm
1976, sau khi nhiều người dân ở Michigan ăn phải thịt bò nhiễm độc, sau đó các nhà

của pentaerythritol và melamine trong nền Polymer ở nhiệt độ thấp và sẽ trương nở
khi bị phân hủy nhiệt tạo thành một lớp than cách nhiệt tại nhiệt độ khoảng 280350oC. Lớp than này sẽ hoạt động như rào cản nhiệt và ngăn cản nhiệt cháy truyền
đến nền vật liệu được bảo vệ [17].
Từ những năm 1990, cùng với xu hướng không sử dụng phụ gia chậm cháy gốc
halogen trên thế giới nhằm đảm bảo an toàn cho con người và môi trường, việc sử
dụng những hệ phụ gia chậm cháy trên cơ sở gốc vô cơ và phosphate được gia tăng
nhanh chóng. Cùng với sự phát triển đó những nghiên cứu về các sản phẩm chậm
cháy cũng được chuyển hướng và tập trung vào các hệ chậm cháy trương phồng [18].
19


LUẬN VĂN THẠC SĨ

VŨ NGỌC QUÍ

Bằng sáng chế của Feipeng Liu năm 2000 về màng phủ chậm cháy trương phồng
cho các sản phẩm gỗ sử dụng bột than chì trương nở với hàm lượng từ 20-95% khối
lượng thành phần rắn. Nhựa nền sử dụng là nhựa phenol formaldehyde từ 5-50%
khối lượng hợp phần. Kết quả nghiên cứu cho thấy hạt than chì trương nở do nhiệt
làm tăng hiệu quả chậm cháy cho vật liệu phủ, đồng thời làm giảm đáng kể hàm
lượng khói và thời gian dập tắt ngọn lửa của nhựa nền polyme mà không ảnh hưởng
xấu đến tính chất vật lý của các thành phần lớp phủ. Khả năng trương nở nhiệt của
hạt than chì bắt đầu từ nhiệt độ khoảng 130oC đến 500oC, và có khả năng trương nở
đáng kể khi tiếp xúc với nhiệt và lửa. Đặc biệt, thể tích có thể tăng đến 80 lần thể
tích ban đầu khi tiếp xúc trong vài giây [19].
Năm 2009, Chou và cộng sự công bố màng phủ chậm cháy trương phồng sử
dụng để phủ lên vật liệu gỗ trên cơ sở bột than chì nhân tạo và khoáng Sericit
(Al4(OH)4(Kal-Si3O10)2). Màng phủ trương phồng được nghiên cứu chứa 19,8% phụ
gia chậm cháy, 15% phụ gia tạo nước, 18% phụ gia nở xốp, 7,2% nhựa kết dính và
40% dung môi. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi hàm lượng khoáng Sericit lớn hơn

định hệ sol bằng cách tăng hàm lượng MPS và pha loãng bằng dung dịch
tripropylen glycol diacrylat (TPGDA). Sol phân tán được trộn hợp với màng hữu
cơ đóng rắn bằng UV tạo ra màng phủ lai tạo hữu cơ- vô cơ, cải thiện được tính
chất bảo vệ nhanh chóng và hiệu quả trong thử nghiệm cháy theo phương pháp
UL-94 [23].
1.4.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng màng phủ chậm cháy tại Việt Nam
Những nghiên cứu về vật liệu chống cháy và chậm cháy ở Việt Nam chủ yếu
hiện nay là sử dụng các tác nhân chống cháy trộn hợp vào vật liệu trong quá trình
sản xuất để bảo vệ vật liệu. Năm 2006, tác giả Phan Duy Hưng đã nghiên cứu chế
tạo ván gỗ ép chậm cháy sử dụng hỗn hợp axit boric (H3BO3) và muối borat
(Na2B4O7.10H2O) được pha trộn với tỷ lệ 1:1. Hỗn hợp được trộn hợp cùng hỗn
hợp keo dán sử dụng làm chất kết dính chế tạo ván gỗ ép. Kết quả thử chống cháy
sản phẩm được tiến hành theo phương pháp ASTM E69 -1988 thông qua chỉ tiêu tỷ
lệ tổn thất khối lượng. Kết quả thử nghiệm cho thấy, ván gỗ ép sử dụng tác nhân
chống cháy cho khả năng chống cháy khá tốt, tỷ lệ tổn thất khối lượng bằng ½ so
với mẫu đối chứng, bằng ¼ so với mẫu gỗ tự nhiên, và vẫn đảm bảo được các tính
chất cơ lý của sản phẩm [24].
21


LUẬN VĂN THẠC SĨ

VŨ NGỌC QUÍ

Năm 2012, tác giả Võ Thành Phong - Viện khoa học Vật liệu đã thành công
trong việc chế tạo và nghiên cứu tính chất vật liệu polyme compozit có chứa tổ hợp
chất chống cháy trên cơ sở hợp chất chứa Brom và photpho. Kết quả nghiên cứu của
nhóm tác giả cho thấy vật liệu polyme compozit trên cơ sở polyeste không no chứa
hỗn hợp 2% P và 6% Br cho mức chống cháy V-0, kết quả được xác định theo tiêu
chuẩn UL-94 [25].


Hiện nay, chưa có một công trình nghiên cứu một cách đầy đủ và được công bố
nào về sơn và màng phủ chậm cháy ở Việt Nam. Đặc biệt trong lĩnh vực màng phủ
chậm cháy thân thiện môi trường ứng dụng cho các sản phẩm vật liệu gỗ.
Trên thị trường sơn chậm cháy Việt Nam hiện nay chủ yếu là các sản phẩm nước
ngoài như: Nullifire® (Anh), HR-Prof (Anh), Flame Control (Mỹ), Rhenocoll
(Đức), Hillti (Mỹ), NoFire (Mỹ)…, Các sản phẩm sơn chống cháy, chậm cháy tại
Việt Nam chủ yếu sử dụng trên cửa để tạo ra các sản phẩm cửa chống cháy cao cấp.
Một số các công trình chủ yếu là các tòa nhà, khách sạn sử dụng loại cửa được phủ
sơn chậm cháy như: Khách sạn JW Marriott Hà Nội, Parkson - Keangnam,
Vietsopetro Vũng Tàu, Tòa nhà VNPT, Khách sạn Mường Thanh, Chung cư Yên
Hòa, Chung cư La khê,…
Với tình hình cháy nổ xảy ra ngày càng tăng như hiện nay, đặc biệt thường xảy ra
ở những tòa nhà cao tầng, các cửa hàng, siêu thị, … cộng với công tác chữa cháy
đang gặp rất nhiều khó khăn về cả người và phương tiện, thì nhu cầu về các loại sơn
và màng phủ chậm cháy ở nước ta sẽ ngày càng cao. Hầu như chưa có công trình
nghiên cứu nào công bố ở Việt Nam chế tạo loại sơn này. Đặc biệt là sơn và màng
phủ chậm cháy thân thiện môi trường sử dụng để bảo vệ các kết cấu hoặc sản phẩm
xốp polystyren.

1.5. Cơ chế của quá trình phân hủy nhiệt Polystyren
1.5.1. Giới thiệu về Polystyren
1.5.1.1. Tính chất của monome Styren
Tính chất vật lý :
g/cm3

0,90458

Chiết suất ở 250c


o

34,0

Nhiệt độ bay hơi

o

86,9

Tỷ trọng

C
C
C
C
C

23


LUẬN VĂN THẠC SĨ

VŨ NGỌC QUÍ

Nhiệt cháy

Cal/g

10,04

giữa các gốc đang phát triển và các phân tử polyme tạo thành.
PS có thể có các dạng cấu trúc của mạch đại phân tử, đó là các dạng cấu trúc:
+ Isotactic: Là loại cấu trúc mà nhóm phenyl phân bố đều đặn về một phía của mạch
các bon. Loại cấu trúc này tạo ra PS tinh thể.
+ Atactic: Là loại cấu trúc mà nhóm phenyl phân bố lộn xộn không có trật tự về hai
phía của mạch các bon. Loại cấu trúc này tạo ra PS vô định hình.
+ Syndiotactic: Là loại cấu trúc mà nhóm phenyl phân bố xen kẽ về hai phía của
mạch các bon. Loại cấu trúc này tạo ra PS vô định hình.

H

C

H

C

H

C

H

C

H

C

H

H

C

H

H

C

H

C

H

C

H

H

C

H

H

C


H

C

H

H

Isotactic

C

H

C
C

H

H

C

H

H

C

H

: Mtb =50.000 - 120.000 (đvc).

+ Trùng hợp nhũ tương

: Mtb =70.000 - 120.000 (đvc).

* Độ hòa tan và trọng lượng phân tử
Styren hòa tan trong cacbua hydro thơm, cacbua hydro clo hóa, ete, xeton, sulphua
cacbon và piridin, không hòa tan vào cacbuahydro no mạch thẳng, rượu bậc thấp,
ete, phenol, axit axetic và nước.
Trọng lượng phân tử của polystyren được xác định bằng phương pháp độ nhớt theo
công thức sau :
[ŋ ] =K*.Má.[1.2-212]
Trong đó :
ç

: Độ nhớt của dung dịch.

M

: Khối lượng phân tử của polyme.

K,á

: Hằng số phụ thuộc vào điều kiện phản ứng .
K=2,4.10-5
á =0,77

* Tính chất cơ học
Phụ thuộc rất nhiều vào trọng lượng phân tử trung bình. Nhựa PS có độ bền va đập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status