CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH ƯU TIÊN TRONG QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN VÙNG BỜ - Pdf 43

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
*****

TRẦN THÙY DUNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG
CÁC CHƯƠNG TRÌNH ƯU TIÊN TRONG QUẢN LÝ
TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN VÙNG BỜ

HÀ NỘI, 2017


TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
*****

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG
CÁC CHƯƠNG TRÌNH ƯU TIÊN TRONG QUẢN LÝ
TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN VÙNG BỜ

Chuyên ngành: Quản lý biển
Mã ngành:
Sinh viên thực hiện: Trần Thùy Dung
Giảng viên hướng dẫn: TS. Lưu Văn Huyền

HÀ NỘI, 2017



DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT.................................................................................v
DANH MỤC CÁC BẢNG.......................................................................................vi
MỞ ĐẦU................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN......................................................................................3
1.1 Tổng quan về quản lý tổng hợp vùng bờ..........................................................3
1.1.1 Tổng quan về vùng bờ..............................................................................3
1.1.2 Tài nguyên vùng bờ..................................................................................9
1.1.3 Quản lý tổng hợp vùng bờ......................................................................10
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới.................................................................15
1.3 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam..................................................................17
1.3.1 Điều kiện đại lý tự nhiên của vùng bờ Việt Nam....................................17
1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam tính đến hiện tại................................26
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU........................30
2.1 Đối tượng nghiên cứu....................................................................................30
2.2 Phương pháp nghiên cứu...............................................................................30
2.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu, thông tin.................................................30
2.2.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu, dữ liệu, thông tin...............30
2.2.3 Phương pháp kế thừa..............................................................................31
2.2.4 Phương pháp chuyên gia.........................................................................31
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU................................................................32
3.1 Cách tiếp cận trong quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ.............................32
3.1.1 Tiếp cận dựa vào chính sách pháp luật và công ước quốc tế...................32
3.1.2 Tiếp cận phân tích hệ thống trong giải quyết các vấn đề vùng ven bờ....37
3.1.3 Tiếp cận dựa vào hệ sinh thái..................................................................39
3.1.4 Tiếp cận phát triển bền vững...................................................................41
3.1.5 Tiếp cận thích ứng với biến đổi khí hậu.................................................42
3.2 Phương pháp xây dựng chương trình ưu tiên trong quản lý tổng hợp tài
nguyên vùng bờ...................................................................................................43



QLTTVBB
IMO
PEMSEA

Nguyên nghĩa
Hệ sinh thái
Phát triển bền vững
Biến đổi khí hậu
Tổng sản phẩm quốc nội
Quản lý tổng hợp vùng bờ biển
Tổ chức Hàng hải quốc tế
Tổ chức đối tác về quản lý môi trường

8

IUCN

các biển Đông Á
Tổ Chức Bảo Tồn Thiên nhiên Quốc tế

9

FAO

Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp
Liên Hiệp Quốc


DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT.................................................................................v

vùng bờ............................................................................................................43
3.2.2 Lựa chọn vấn đề quản lý cho chương trình QLTH đới bờ biển Việt Nam
......................................................................................................................... 43
3.2.2 Các vấn đề quản lý ưu tiên cho các VBB và toàn đới bờ biển Việt Nam 46
3.2.3. Phân kỳ ưu tiên trong quá trình quản lý tổng hợp..................................47
3.2.4 Nhận xét chung.......................................................................................49
3.3 Tổ chức thực hiện chương trình quản lý tổng hợp.........................................51
3.4 Giải pháp và công cụ thực hiện QLTH...........................................................52
3.5 Giám sát thực hiện quản lý............................................................................52
3.6 Đánh giá và triển khai mở rộng mô hình........................................................52
KẾT LUẬN.............................................................................................................52
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................55


MỞ ĐẦU
Việt Nam có đường bờ biển dài khoảng 3260 km và có hơn 3000 hòn đảo lớn
nhỏ nằm dọc chiều dài bờ biển từ Bắc đến Nam. Vùng bờ của Việt Nam có vai trò
quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trong những
năm vừa qua, tốc độ phát triển của các ngành kinh tế dọc bờ biển nước ta ngày
càng cao và GDP của kinh tế biển và vùng đới bờ đóng góp trong GDP của cả nước
ngày một tăng lên. Theo ước tính, quy mô kinh tế (GDP) biển và vùng ven biển Việt
Nam bình quân đạt khoảng 47- 48% GDP cả nước, trong đó GDP của kinh tế “thuần
biển” đạt khoảng 20-22% tổng GDP cả nước. Trong các ngành kinh tế biển, đóng
góp của các ngành kinh tế diễn ra trên biển chiếm tới 98%, chủ yếu là khai thác dầu
khí, hải sản, hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển), du lịch biển. Các ngành
kinh tế có liên quan trực tiếp tới khai thác biển như đóng và sửa chữa tàu biển, chế
biến dầu khí, chế biến thủy hải sản, thông tin liên lạc,...bước đầu phát triển, nhưng
hiện tại quy mô còn rất nhỏ bé (chỉ chiếm khoảng 2% kinh tế biển và 0,4% tổng
GDP cả nước), song trong tương lai sẽ có mức gia tăng nhanh hơn. Các ngành kinh
tế biển quan trọng như dầu khí, hàng hải, thuỷ sản, du lịch biển đều tăng với nhịp độ

lúc còn chưa hiệu quả để có một định hướng quản lý chung, bền vững cho các hoạt
động tại vùng đới bờ. Do vậy, cần áp dụng một hình thức quản lý tổng hợp, có sự
tham gia đa ngành và với cộng đồng để quản lý hiệu quả các hoạt động tại vùng đới
bờ, đảm bảo bảo vệ môi trường, tài nguyên, và phát triển bền vững. Đề tài:“Cách
tiếp cận và phương pháp xây dựng các chương trình ưu tiên trong quản lý tổng
hợp tài nguyên vùng bờ” nhằm giải quyết các vấn đề trên.

2


CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về quản lý tổng hợp vùng bờ
1.1.1 Tổng quan về vùng bờ
1.1.1.1 Khái niệm
Vùng bờ biển (gọi tắt là vùng bờ) là một đơn vị nằm trong đới bờ, có hình
dạng không đều và có kích thước bất kỳ. Tuy nhiên, vùng này cũng bao gồm hai
phần: vùng đất ven biển (vùng ven biển) và vùng biển ven bờ (vùng ven bờ). Vùng
này cũng có những đặc tính tương tự như đới bờ. Qui mô to nhỏ của vùng bờ tuỳ
thuộc vào nhu cầu và khả năng quản lý (Nguyễn Chu Hồi). Như vậy, khái niệm đới
bờ chứa đựng thông tin đầy đủ về mặt bản chất tự nhiên, còn khái niệm vùng bờ gắn
liền với hoạt động quản lý cụ thể.
Vùng bờ luôn chịu tác động tương tác giữa quá trình lục địa (chủ yếu là
sông) và biển (chủ yếu là sóng, dòng chảy và thuỷ triều), giữa các hệ thống tự nhiên
(natural system) và hệ nhân văn (tâm điểm là hoạt động của con người), giữa các
ngành và những người sử dụng tài nguyên vùng bờ (hoặc tài nguyên bờ - coastal
resources) theo cả cấu trúc dọc (trung ương xuống địa phương) và cấu trúc ngang
(các bên liên quan trên cùng địa bàn), giữa cộng đồng dân địa phương với các thành
phần kinh tế khác. Vì thế, vùng bờ còn được gọi là đới tương tác, và các hệ sinh thái
trong vùng này tồn tại và phát triển thông qua các mối liên kết sinh thái chặt chẽ.
Thế nhưng trong thực tiễn quản lý vùng bờ, người ta (các nhà quản lý và người dân)

khai thác dầu khí đem lại
Phát triển công nghiệp, nông nghiệp: Đới bờ là nơi sinh sống lý tưởng cho
con người và vì thế nơi đây cũng là môi trường tốt để phát triển các ngành công
nghiệp, nông nghiệp. Đối với các ngành công nghiệp có thể kể đến là khai khoáng,
dầu khí, đóng sử tàu thuyền. Đây là các ngành mang lại lợi ích kinh tế rất lớn cho
các quốc gia có biển. Bên cạnh đó, đới bờ cũng là môi trường tốt để phát triển các
ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, việc phát triển của các nganh này luôn có sự cạnh
tranh lẫn nhau và tác động tiêu cực đến môi trường ven bờ rất lớn.
Thủy sản: Đới bờ có nhiều thế mạnh để phát triển, trong đó ngành thủy sản
không thể tồn tại và phát triển nếu không có đới bờ. Ngành thủy sản đóng góp một
phần quan trọng trong phát triển kinh tế của mỗi quốc gia có biển, cũng như cung
cấp lượng thực phẩm dinh dưỡng và protein cần thiết cho con người. Việc khai thác,

4


sử dụng nguồn lợi sinh vật biển ngày càng tăng góp phần tăng trưởng kinh tế quốc
gia, nâng cao đời sống, tăng thu nhập và giải quyết công ăn việc làm cho đa phần
dân cư ven biển. Vùng ven bờ là nơi rất thích hợp cho việc nuôi trồng các loài thủy
sản biển cũng như các loài nước lợ và nước ngọt. Việc nuôi trồng thủy sản có ý
nghĩa lớn trong việc cung cấp protein và giảm thiểu đói nghèo cho người dân sống
vùng ven bờ. Tuy nhiên, các hoạt động khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản đã
và đang tác động đến môi trường theo chiều hướng tiêu cực. Bên cạnh đó, các hoạt
động này cũng đang thể hiện nhiều mâu thuẫn với các ngành khác như du lịch, khai
thác cảng biển, khai thác khoáng sản.
Du lịch và giải trí: Ngành công nghiệp du lịch quốc tế và nội địa không
ngừng tăng trưởng và phần lớn tập trung vào khu vực ven bờ. Du lịch thế giới tăng
260% khi so sánh giữa 1970 và 1990, với mức tăng trưởng hàng năm khoảng 2%
đến 4.5% (Brandon, 1996). Ước tính năm 1995 cho thấy du lịch chiếm 10.9% toàn
bộ GDP thế giới và thu hút 10.6% lực lượng lao động toàn cầu. (Hội đồng du lịch

xuất nông nghiệp, ngư nghiệp, vận tải, cầu cảng, v.v là nguyên nhân dẫn đến sự biến
mất của nhiều môi trường sống chẳng hạn như cỏ biển hay lại gia tăng nhiều loài
không hề mong muốn như tảo độc vốn chịu trách nhiệm về việc giảm sút chủng
quần cá và đe doạ du lịch. Sự ô nhiễm nguồn nước cũng liên quan đến nước và rác
thải từ các tàu thuyền, đặc biệt ở các vũng vịnh kín và vùng cửa sông. Các sự cố
tràn dầu cũng là nguyên nhân chủ yếu đe doạ môi trường biển.
Các nguồn ô nhiễm có nguồn gốc từ đất liền được qui trách nhiệm cho hơn
ba phần tư ô nhiễm vùng biển ven bờ qua đường sông, rác thải trực tiếp và bầu khí
quyển. Tác động của các hoạt động trên đất liền có thể kể đến thuốc trừ sâu, kim
loại nặng, độ đục do phù sa và những rác thải công nghiệp độc hại khác. Thêm vào
đó ô nhiễm môi trường do các hoạt động thăm quan, du lịch, nghỉ mát tại các bãi
tắm và các như nghỉ mát cũng là một trong những vấn đề đối với vùng biển này.
(2) Suy thoái tài nguyên: Suy thoái tài nguyên chính là sự làm thay đổi chất
lượng và số lượng của tài nguyên, gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người
sinh vật và thiên nhiên. Trong đó, tài nguyên thành phần được hiểu là: không khí,
nước, đất, âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, rừng, sông, hồ biển, sinh vật, các hệ
sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên
nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác.

6


Đối với tài nguyên không phục hồi như các loại khoáng sản, dầu mỏ, v.v suy
thoái là do khai thác quá mức, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên này.
Đối với tài nguyên phục hồi như sóng biển, thủy triều, gió, năng lượng mặt
trời, v.v suy thoái có hai nguyên nhân là khách quan (như biến đổi khí hậu làm thay
đổi toàn bộ hay bộ phận của các môi trường hay tài nguyên thành phần) và nguyên
nhân chủ quan (hay là do con người khai thác không đúng mức, không đúng quy
trình, làm thay đổi chất lượng và số lượng của tài nguyên này).
Đối với tài nguyên có thể phục hồi như không khí, nước, đất, tài nguyên sinh

không ngừng về phạm vi diện tích, tác hại đến ngày càng nhiều người hơn, thiệt hại
đến kinh tế ngày càng to lớn hơn.
Như đã nói ở trên, đới bờ là nơi tập trung số lượng lớn dân cư, là nơi tập
trung phần lớn các hoạt động kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, nơi đây cũng tiềm ẩn nhiều
rủi ro do thiên tai. Theo khía cạnh tự nhiên, các hệ sinh thái ven bờ có khả năng
chống đỡ thiên tai rất lớn, nếu chúng ta phá hủy hay làm giảm các hệ sinh thái ven
bờ như rừng ngập mặn, rạn san hô, bờ cát, làm thay đổi chế độ thủy triều, v.v thì
khả năng chống đỡ của chúng sẽ giảm xuống. Mỗi khi khả năng tự chống đỡ của
chúng bị giảm hay mất hoàn toàn, thì hậu quả tất yếu là con người và chính các hệ
sinh thái đó bị tổn thương năng nề nhất. Đối hầu hết các nước trên thế giới, thiên tai
đều có khả năng đe dọa đến tính mạng, tài sản và tinh thần của con người cũng như
các loại sinh vật khác. Đối với con người, sau thiên tai là nghèo đói, dịch bệnh, tệ
nạn xã hội, v.v do thiên tai đã cướp đi mạng sống, cướp đi nhà cửa, kho tàng, bến
mãi, tài sản và cả tinh thần.
Theo các nhà khoa học, biện pháp phù hợp nhất đối với việc bảo tồn các tài
nguyên sinh thái chính là các biện pháp cần cho duy trì các hệ thống tự nhiên vốn
có chống lại thiên tai (như bão lũ, nước dâng, xói lở vùng đất ven bờ, v.v). Các hoạt
động của con người thường gây ra những thay đổi tại vung đất cần đượcbaor vệ,
như khai thác cat, san hô, sàn phẩng các cồn cát, phá hủy hay làm suy giảm rừng
ngập mặn. Do đó, làm giảm khả năng tự bảo vệ của bờ biển.
(4) Sự cố môi trường: Sự cố môi trường là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra
trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi bất thường của thiên nhiên,
gây suy thoái môi trường. Sự cố môi trường là một giai đoạn trong tai biến môi
trường. Tai biến môi trường được chia thành 3 giai đoạn, và giai đoạn cuối “sự cố
môi trường” là nguy hại nhất đối với con người và sinh vật.

8


- Giai đoạn nguy cơ (hay hiểm hoạ): Các yếu tố gây hại tồn tại trong hệ



tài nguyên không tái tạo); mức độ sử dụng (tài nguyên nguyên khai và tài nguyên bị
khai thác); bản chất khai thác (tài nguyên tiêu hao và tài nguyên không tiêu hao).
Tài nguyên sinh vật bao gồm các dạng sống của thế giới hữu sinh như tôm
cá, táo, động vật phù du... Tài nguyên sinh vật lại được chia ra đa dạng sinh học loài
và hệ sinh thái, nguồn lợi hải sản và tiềm năng nuôi trồng.
Ngược lại với tài nguyên sinh vật là tài nguyên phi sinh vật, bao gồm các
dạng vật chất của thế giới vô sinh như quặng kim loại, đất, đá, dầu khí... Tài nguyên
phi sinh vật như dầu khí, sa khoáng, vật liệu xây dựng, năng lượng biển, du lịch,
tiềm năng phát triển cảng, và tiềm năng vị thế.
Tài nguyên nhân văn bao gồm tất cả các nhân tố thuộc về con người và xã
hội, bao gồm cả môi trường sống của họ có tác dụng tích cực đến một mặt nào đó
như: kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, v.v. Ở trên toàn trái đất, ở đâu có con người
thì ở đó có tài nguyên nhân văn. Đối với đới bờ, tài nguyên nhân văn rất phong phú
và đa dạng nó gắn liền với lịch sử loài người, lao động và sản xuất. Ngày nay, con
người đã biết khai thác nguồn tài nguyên giá trị và mang tính chất vùng miền này
phục vụ cho sự phát triển kinh tế và chính cuộc sống của họ. Tài nguyên nhân văn
nó gắn liền với các hoạt động, kinh doanh du lịch, thể dục thể thao, lễ hội, v.v. Các
hoạt động đó gắn liền với biển, gắn liền với đới bờ. Quốc gia nào biết khai thác và
khai thác bền vững nguồn tài nguyên này sẽ có lợi thế cạnh tranh rất lớn đối với sự
phát triển kinh tế nói chung và các ngành đặc thù nói riêng.

1.1.3 Quản lý tổng hợp vùng bờ
1.1.3.1 Khái niệm
Tại Hội nghị Quốc tế về Vùng bờ, QLTHVB được định nghĩa như sau:
QLTHVB bao gồm việc đánh giá toàn diện, đặt ra các mục tiêu, quy hoạch và quản
lý các hệ thống tài nguyên ven biển, có xét đến các yếu tố lịch sử, văn hóa và truyền
thống, và các lợi ích trong mâu thuẩn sử dụng; là quá trình liên tục tiến triển nhằm
đạt được sự phát triển bền vững. Quản lý tổng hợp vùng ven bờ là một cơ cấu để tập

khởi xướng, 2. lập kế hoạch và 3. thực thi, giám sát và đánh giá. Tuy nhiên nó cũng
phải hoạt động như một quy trình lặp lại trong đó việc lập kế hoạch và thực thi cần
phải được tiến hành xem xét đánh giá và điều chỉnh thường xuyên.
Một vấn đề nữa trong quản lý tổng hợp vùng ven bờ là tính toàn bộ. Đây là
một phần của mô hình bền vững bao gồm cả người dân, đặc biệt là người dân địa
phương. Điều này đã được nhận thấy trong hầu hết các bước khởi đầu thành công
về quản lý tổng hợp vùng ven bờ ở nhiều quốc gia, trong đó có sự tham gia nhiệt

11


tình của cộng đồng địa phương.
Rõ ràng là một chương trình quản lý vùng bờ miêu tả một số dạng hợp tác
giữa các cơ quan hoặc tổ chức khác nhau để cố gắng giải quyết những mâu thuẩn có
khả năng sinh ra. Cũng cần phải nhớ rằng các quốc gia khác nhau có các phương
pháp tiếp cận vùng ven bờ theo các đường lối khác nhau. Không có một cơ chế nào
phù hợp cho tất cả, do sự thành công của việc thực thi QLTHVB phụ thuộc vào các
điều kiện địa phương, kinh nghiệm, đặc điểm của hệ sinh thái, áp lực phát triển
cũng như vào các khung chính sách, pháp lý khu vực và quốc gia, cùng nhiều yếu tố
khác nữa. Điều đó có nghĩa rằng mỗi một vùng cần có một phương pháp tiếp cận
của chính mình. Không có một khuôn mẫu chung đối với tất cả các vùng khác nhau.
Tuy nhiên, kinh nghiệm trong thực thi QLTHVB cho đến nay, đã thấy có một số
nhân tố quan trọng cần phải được kết hợp chặt chẻ trong bất kỳ hoạt động nào của
QLTHVB để đạt được thành công. Chúng bao gồm:
- Đạt được sự thống nhất và hợp tác giữa các ban ngành chính phủ tại mọi
cấp độ khác nhau;
- Đảm bảo sự ủng hộ của các thể chế chính trị cho việc thực thi dự án;
- Đảm bảo sự tham gia và tham vấn đầy đủ của cộng đồng và các chủ thể địa
phương;
- Đạt được sự nhất trí trong việc quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên

triển mà phụ thuộc nhiều vào chất lương môi trường và tài nguyên thiên nhiên trong
việc bảo đảm an toàn thực phẩm, cũng như đối với các ngành kinh tế đã phát triển
với mô hình phát triển vùng ven bờ tiên tiến.
QLTHVB cũng là một công cụ để giải quyết các vấn đề quốc tế xuyên biên
giới như ô nhiễm biển, khai thác quá mức các nguồn tài nguyên chung và bảo vệ đa
dạng sinh học.
1.1.3.3 Các mục tiêu của quản lý tổng hợp vùng ven bờ
Mục tiêu chung của một chương trình quản lý tổng hợp vùng ven bờ là đảm
bảo sử dụng bền vững, tốt nhất các tài nguyên thiên nhiên vùng bờ và duy trì lợi ích
nhiều nhất từ môi trường tự nhiên. Về mặt thực tế, chương trình quản lý tổng hợp
vùng ven bờ hỗ trợ các mục tiêu quản lý thông qua việc đưa ra cơ sở cho việc sử
dụng bền vững các tài nguyên, bảo tồn đa dạng sinh học, ngăn ngừa thiên tai, kiểm
soát ô nhiễm, tăng cường lợi ích, phát triển bền vững nền kinh tế và tối ưu hóa việc
sử dụng đa mục tiêu.
Các mục tiêu cụ thể bao gồm: hỗ trợ ngành thủy sản, thu hút khách du lịch,

13


nâng cao sức khỏe cộng đồng, tăng cường nhận thức cộng đồng, duy trì sản lượng
sản phẩm có được từ các vùng ngập mặn,... Tất cả các điều này đòi hỏi các hành
động của cộng đồng phải được điều phối tốt. Đó chính là cái mà quản lý tổng hợp
vùng ven bờ cần làm. Các mục tiêu cụ thể đó là:
- Hướng dẫn mức độ sử dụng và can thiệp đối với nguồn tài nguyên ven biển
để chúng không bị sử dụng hoặc can thiệp quá sức mang cho phép bằng cách phân
định ra các nguồn tài nguyên nào có thể khai thác mà không gây ra suy thoái hoặc
cạn kiệt, hay nguồn tài nguyên nào cần phải cải tạo hoặc khôi phục lại để cho những
mục đích sử dụng truyền thống và các mục đích khác sau này;
- Duy trì môi trường vùng bờ với chất lượng cao nhất, xác định và bảo vệ các
loài có giá trị, xác định và bảo tồn các sinh cảnh vùng bờ quan trọng;

mục tiêu, quy hoạch và quản lý hệ thống vùng bờ và tài nguyên, có xét đến các đặc
điểm lịch sử, văn hoá và truyền thống, mâu thuẫn lợi ích và sử dụng; đó là một quá
trình liên tục và tiến hoá nhằm đạt tới sự phát triển bền vững (UNCED, 1992).
QLTHVBB là một quá trình động và liên tục, nhờ đó các quyết định được đưa ra
nhằm sử dụng, phát triển bền vững và bảo vệ các khu vực và tài nguyên bờ và biển
(Biliana Cicin-Sain, 1993).
Về bản chất, QLTHVBB là quản lý nhà nước với cách thức quản lý tập trung.
Điều này xuất phát từ thực tế là hiện nay hầu hết các nền kinh tế vĩ mô trên thế giới
là nền kinh tế thị trường với cách thức quản lý phi tập trung. Trước đây, nền kinh tế
của các nước xã hội chủ nghĩa được quản lý theo kiểu tập trung và bao cấp, trên
thực tế chưa thành công và đã đổ vỡ. Tuy nhiên, nền kinh tế quản lý phi tập trung
cũng đã bộc lộ rõ những vấn đề phải đối mặt về suy giảm tài nguyên và suy thoái
môi trường, dẫn đến khả năng phát triển không bền vững, không chỉ về xã hội, môi
trường mà cò về kinh tế. Vì vậy, QLTHVBB được đặt ra như một tất yếu, nhưng
tiếp cận nó là cả một quãng đường dài từ nhận thức, lý luận đến thực tiễn, từ ý
tưởng đến thành công. Nó chỉ có thể đạt được mục tiêu với vai trò quản lý nhà nước
với cách thức quản lý tập trung. QLTHVBB được coi là quản lý đa ngành, đa mục
tiêu và đa lợi ích, là chìa khoá của phát triển bền vững vùng bờ biển.Tuy vậy, hiện
nay ý niệm này chưa phải đã được chấp nhận ở mọi nơi. Còn có những quan điểm
cho rằng quản lý vùng bờ biển không phải là cách quản lý tối ưu và chủ đạo, vì khó
có khả năng thành công do chính các nhược điểm từ cách thức quản lý tập trung,
khó có khả năng trở thành một quá trình tồn tại " tự mình". Ở đây, vai trò quản lý
vùng bờ biển phi tập trung giống như trong quản lý kinh tế được đề cao và đề xuất,

15


phát triển các mô hình chủ đạo kiểu "đồng quản lý" hay "quản lý dựa vào cộng
đồng".
Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên ban hành sắc lệnh quản lý vùng bờ biển vào năm


Trích đoạn Lựa chọn vấn đề quản lý cho chương trình QLTH đới bờ biển Việt Nam Các vấn đề quản lý ưu tiên cho các VBB và toàn đới bờ biển Việt Nam Tổ chức thực hiện chương trình quản lý tổng hợp Đánh giá và triển khai mở rộng mô hình
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status