TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI:
TRUNG QUỐC, HẬU QUẢ CỦA TĂNG
TRƯỞNG NÓNG VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Nhóm thực hiện
: Nhóm 8
Lớp
: KTE406.3_LT
Giáo viên hướng dẫn : Th.s Hoàng Bảo Trâm
Hà Nội, tháng 9 năm 2015
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM
STT
HỌ VÀ TÊN
MSSV
1
Nguyễn Thị Hải Tâm
1311110601
7
Đặng Xuân Chiến
1311110092
8
Đỗ Thu Trang
1311110717
9
Nguyễn Đỗ Thái Hưng
1211110269
10
Vũ Thị Thu Phương
1211110537
11
kịp thời sẽ dẫn đến việc suy thoái kinh tế một cách nhanh chóng và nặng nề.
Bên cạnh đó, Trung Quốc và Việt Nam là hai nước láng giếng gần gũi, có khá
nhiều điểm tương đồng về mọi măt: điều kiện tự nhiên, địa lý..; chung bối cảnh kinh tế
khu vực và quốc tế…Và cũng như Trung Quốc, Việt nam đang tiến hành đang tiến hành
đổi mối nền kinh tế sang nền kinh tế thị trường và đạt được những thành quả nhầt định.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng nhanh nhưng vẫn phát triển bền vững thì Việt Nam
cần phải tham khảo những bài học kinh nghiệm quý báu về tăng trường và phát triển
của Truong Quốc. Vì những lí do trên nhóm chúng em đã quyết định chọn đề tài: “
Trung quốc, hậu quả của tăng trưởng nóng và bài học cho Việt Nam” để nghiên cứu,
phân tich thực trạng “ nóng” của nền kinh tế Trung Quốc, nguyên nhân, hậu quả của
thực trạng này, từ đó chúng em cũng mạnh dạn xin đề xuất những bài học kinh nghiệm
để kinh tế Việt Nam vừa tăng trưởng nhanh nhưng vẫn đảm bảo tính bền vững và không
mắc phải tình trạng tăng trưởng quá “nóng”. Kết cấu của bài tiều luận gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về tình hình tăng trưởng “nóng” của Trung Quốc
Chương 2: Hậu quả của việc tăng trưởng “nóng”
Chương 3: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Vì do thời gian nghiên cứu còn hạn chế và đây là một để tài nan giải nên bài tiều
luận không tránh khói những sai sót. Chúng em rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ
cô và các bạn để bài tiêu luận của chúng em được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn !
NỘI DUNG
Chương1: Tổng quan về tình hình tăng trưởng nóng của Trung Quốc
1. Khái niệm tăng trưởng nóng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng
sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu
Biểu đồ 1: Tốc độ tăng Trưởng GDP của Trung Quốc từ năm 2000-2014
Nguồn: NBS Trung Quốc và IMF (10/2013)
Nhận xét: Từ tháng 11 năm 2002 đến nay, tốc độ tăng trưởng trung bình của nền
kinh tế là 10,6%. Từ năm 2003 đến 2007, tốc độ tăng trưởng hàng năm luôn giữ ở mức
2 con số và đạt đỉnh 14,2% vào năm 2007.Đây là tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ chưa
từng thấy kể từ đầu những năm 1990. Kinh tế Trung Quốc tăng trưởng rất nhanh và
“không thể” kiềm chế được.Cũng giống như phần còn lại của thế giới, Trung Quốc bị
ảnh hưởng bởi khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và phải chứng kiến tốc độ
giảm xuống còn 9,6% vào năm 2008. Kể từ đó đến 2011, tốc độ tăng trưởng trung bình
là trên 9%. Đây vẫn được coi là tốc độ tăng trưởng cao so với quốc gia có thu nhập bình
quân đầu người lớn như Trung Quốc.
Năm 2012 tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc bắt đầu có dấu hiệu chững lại. Với
các số liệu thống kê, năm 2012, tốc độ tăng trưởng GDP chỉ đạt 7,8%; năm 2013 đạt
7,7% và năm 2014 đạt 7,4% thấp nhất kể từ năm 1990. Nguyên nhân do hai trụ cột của
nền kinh tế là địa ốc và xuất khẩu đình trệ, tiêu thụ nội địa chưa thực sự cất cánh để tạo
đà cho tăng trưởng, nợ công và nợ của tư nhân cao… Tuy nhiên, GDP năm 2014 của
Trung Quốc lần đầu vượt mốc 10.000 tỉ đô la Mỹ đã cho thấy qui mô kinh tế ngày càng
lớn của Trung Quốc nhờ vào việc tăng trưởng nóng.
2.1.2Xuất nhập khẩu & dự trữ ngoại tệ
Kinh tế Trung Quốc ngày càng hướng ngoại, mức độ phụ thuộc vào thị trường
nước ngoài tăng rất nhanh. Tỷ lệ của xuất khẩu trong tổng sản phẩm trong nước (GDP)
vào nửa đầu thập niên 1980 chỉ mới là 6-7% nhưng đến năm 2004 đã lên tới gần 30%
Kim ngạch xuất và nhập khẩu của Trung Quốc năm 2004 đã lên tới 1.155 tỷ
USD, lần đầu tiên vượt Nhật Bản trở thành cường quốc ngoại thương thứ ba (năm 2000
xếp thứ tám) trên thế giới (sau Mỹ và Đức).
Năm 2005, dự trữ ngoại tệ vượt mức 800 tỷ USD, hơn gấp đôi mức năm 2003 và
trong tháng 11 năm 2006, Trung Hoa đại lục trở thành nước có dự trữ ngoại hối lớn nhất
đầu tư xã hội của Trung Quốc năm 2013 là 5511,8 NDT, tăng 26.7% so với năm 2002
và tăng mạnh trong các năm tiếp theo. Đầu tư công nghiệp chiếm chủ yếu trong tăng
trưởng đầu tư tài sản cố định. Đồng thời chính phủ cũng cũng đã nâng cao tỷ lệ vốn đầu
tư quy định vào các ngành như sắt thép, xi măng, điện giải nhôm, nhà đất… Đầu tư tài
sản cố định tăng cao do chính quyền các địa phương đặt trọng điểm công tác vào xây
dựng các dự án đầu tư nhằm làm cho nền kinh tế địa phương phát triển mạnh.
Ngoài việc đầu tư trong nước, Trung Quốc còn đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư
nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Sở dĩ kinh tế Trung Quốc vẫn giữ được tốc độ cao là do tổng vốn huy động cho
đầu tư cao, quý I/2000 đạt 27 tỷ USD tăng 8,5%, nguồn FDI tăng 24,6% đạt 24,17 tỷ
USD, công suất sử dụng máy móc đạt tỷ lệ 90-95% do đó sản lượng công nghiệp tăng
10,7% so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ của FDI trong tổng vốn đầu tư cố định ở Trung Quốc tăng từ 4% năm 1991
lên tới 15% năm 2002
Các công ty FDI vào năm 1991 mới đóng 5,7% vào tổng kim ngạch sản xuất
công nghiệp của Trung Quốc nhưng tỷ lệ này đã tăng lên 27% vào năm 2000 (riêng tỷ lệ
này vào năm 2000 tại tỉnh Quảng Đông là 58%, Phúc Kiến 61%, Thiên Tân 46%,
Thượng Hải 55% và Bắc Kinh 45%) (7). Năm 2004 FDI chiếm trên 50% kim ngạch
xuất khẩu hàng công nghiệp của Trung Quốc. Một nền kinh tế lớn như Trung Quốc mà
vai trò của FDI cao như vậy quả là rất đặc biệt.
Năm 2006, Trung Hoa đại lục thu hút được 69,47 tỷ USD đầu tư trực tiếp nước
ngoài.
Có thể nói, khác với trước đây, đầu tư quá nóng của Trung Quốc hiện nay là do
kết cấu tiêu dùng của người dân thành phố đã nâng lên, tiến trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nhanh hơn, đầu tư xã hội và đầu tư từ nước ngoài tăng nhiều và ngày càng sôi
động.
2.4 Cán cân thương mại
1.1 Kinh tế
1.1.1. Khủng hoảng thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là một kênh huy động vốn cho các doanh nghiệp. Tại
Trung Quốc có hai sàn chứng khoán nằm trong top 10 sàn lớn nhất Thế giới. Thống kê
ngày 31/12/2014, Sàn giao dịch Shanghai Stock Exchange là sàn giao dịch chứng khoán
lớn thứ hai ở Trung Quốc và lớn thứ 3 ở châu Á, có giá trị vốn hóa 2.547 tỷ USD. Hong
Kong Stock Exchange có giá trị vốn hóa 2.831 tỷ USD, đây là sàn lớn nhất ở Trung
Quốc và lớn thứ 6 thế giới. Chỉ trong 12 tháng tính đến tháng 6/2015, chỉ số chứng
khoán Trung Quốc tăng 190% và trở thành một hoạt động kinh tế hấp dẫn, thu hút đến
hơn 90 triệu nhà đầu tư vào thị trường chứng khoán Thượng Hải và Thâm Quyến. Riêng
trong năm 2014, chứng khoán đã tạo cơ hội cho hơn 1 triệu người trở thành triệu phú
(bằng đồng nhân dân tệ), mức độ tăng trưởng tuyệt đối của thị trường chứng khoán
Trung Quốc tính bằng USD trong một năm qua vượt mặt mọi thị trường khác trong lịch
sử.
Thị trường chứng khoán Trung Quốc sau khi chứng kiến 1 đợt sóng tăng trưởng
mạnh mẽ lên đến 190% trong vòng 1 năm và chạm đỉnh vào giữa tháng 6/2015 ở mức
5166,35 điểm thì chứng khoán nước này đã liên tục mất điểm trong những ngày gần
đây.
Tình hình này đã gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho các nhà đầu tư và cho cả
người dân Trung Quốc. Kể từ ngày 12/6/2015, các nhà đầu tư Trung Quốc bán tháo cổ
phiếu với tốc độ nhanh chóng, dẫn tới việc sụt giá và làm mất đi khoảng 30% giá trị thị
trường. Đây có thể ví như đợt sụp đổ nặng nề nhất trên thị trường chứng khoán của Mỹ
năm 1929, dấu hiệu của thời kỳ Đại suy thoái.
Đến tháng 7, sự sụt giảm còn đáng lo ngại hơn nữa, cả thế giới được chứng kiến
một cơn lốc bất ngờ tràn qua thị trường chứng khoán Trung Quốc, "cuốn theo chiều gió"
hơn 3.000 tỷ USD. Trung Quốc đã cho phép hơn 1.400 công ty ngừng giao dịch cùng
trở lại là điều còn rất xa vời”. .
1.1.3. Bong bóng bất động sản
Bất động sản là một trong những động lực chủ chốt góp phần vào sự phát triển
thần tốc của kinh tế Trung Quốc trong một thập kỷ qua. Giá nhà ở các thành phố thương
mại và đông dân ở Trung Quốc hiện nay gần ngang bằng với các thành phố được cho là
đắt đỏ nhất thế giới như khu Manhatan ở New York, Paris, London… trong khi thu nhập
trung bình theo đầu người của Trung Quốc còn kém xa các quốc gia giàu có. Tình trạng
các thành phố ma có thể nhận thấy khắp nơi ở Trung Quốc. Điển hình là một khu đô thị
mô phỏng khu Manhatan của New York nhưng rộng hơn ở thành phố Thiên Tân đã gần
hoàn thành nhưng không một bóng người. Chính phủ Trung Quốc hiện phải tính đến
một kế hoạch di dời chính phủ, buộc các Công ty nhà nước và nhân viên phải di chuyển
đến đó để làm việc và sinh sống.
Kể từ năm 2014, các hoạt động đầu tư vào BĐS tại Trung Quốc đã yếu dần. Các
số liệu được công bố cho thấy, tháng Giêng năm 2015 thị trường nhà đất Trung Quốc
chứng kiến giá nhà ở giảm kỷ lục. Ban đầu Chính phủ trước này áp dụng nhiều biện
pháp ngăn chặn việc mua nhà ở, nhưng không lâu sau lại phải nới rộng các biện pháp
này, ví dụ như hạ ngay mức đặt cọc mua nhà theo yêu cầu, hay giảm những hạn chế sở
hữu nhà thứ hai trở đi… Cho dù bằng cách nào đi nữa thì “bong bóng” BĐS ở Trung
Quốc vỡ chỉ là thời gian và mức độ tàn phá thế nào mà thôi.
Hiện nay, bất động sản chiếm 15% lượng tài sản đầu tư cố định và 15% nguồn
nhân công tại Trung Quốc. Các khoản cho vay bất động sản chiếm 20% tổng các khoản
cho vay của hệ thống ngân hàng Trung Quốc. Sức khỏe của lĩnh vực bất động sản có
mối liên hệ trực tiếp tới sự tăng trưởng của các ngành công nghiệp, dịch vụ, đồng thời
cũng là nhân tố quan trọng trong ngành tài chính.
Bất chấp việc cơ quan chức năng nới lỏng các hạn chế đối với tín dụng bất động
sản, đầu tư địa ốc của Trung Quốc chỉ tăng 8,5% trong quí 1-2015 - mức tăng thấp nhất
5 năm qua.
hàng chính sách, là 1,64% vào thời điểm cuối năm 2014.
Nợ xấu tất yếu trở thành gánh nặng dai dẳng cho khu vực ngân hàng. Khu vực
ngân hàng suy yếu sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng. Và tăng trưởng chậm lại làm mất
thêm cơ hội trang trải nợ, và nợ xấu sẽ lại tăng. Đó là một vòng luẩn quẩn nguy hiểm.
Nợ công cao vượt mức cho phép và nợ xấu luôn là hai triệu chứng nghiêm trọng
hàng đầu của một nền kinh tế, có thể gây ra đổ vỡ hay đứt mạch máu bất cứ lúc
nào. Nước Mỹ với hệ thống tài chính ngân hàng phát triển nhất thế giới còn không thể
trụ nổi cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007, thì với Trung Quốc nguy cơ đó còn lớn
hơn rất nhiều lần.
1.1.5. Hoạt động đầu tư yếu
Trong quí 1-2015, đầu tư tài sản cố định, một trong những động lực chính của
nền kinh tế Trung Quốc, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm ngoái - mức tăng hàng quý
thấp nhất 14 năm qua.
Như vậy những yếu tố bất ổn trên đã làm giảm tốc độ tăng trưởng GDP của
Trung Quốc trong năm nay. Ta có biểu đồ sau:
Biều đồ 3: Tốc độ tăng trường GDP giai đoạn 2000-2014
Đơn Vị : ( %)
Nguồn: World bank
Nhìn vào biểu đồ trên ta thấy càng về những năm gần đây đường biểu diễn tốc độ
GDP của Trung Quốc càng đi xuống. Đỉnh điểm của sự tăng trưởng nóng là năm 2007
với tốc độ tăng GDP 14,2 %, đến năm 2014 giảm xuống còn là 7,4%, và quý II-2015,
chỉ số này giảm còn 7%, thấp kỉ lục trong 15 năm, điều đáng nói là con số này có thể
còn nhiều sai sót và thực tế còn thấp hơn con số được công bố.
Đứng trước sự giảm tốc nhanh chóng của nền kinh tế, việc điều chỉnh chính sách
Bất mãn chính trị
Điều Bắc Kinh lo ngại là khi thất nghiệp gia tăng, sự bất mãn về kinh tế sẽ
chuyển hóa thành bất mãn về chính trị. “Khế ước ngầm” giữa Đảng Cộng Sản và nhân
dân, đánh đổi các quyền dân chủ để có một đời sống kinh tế thịnh vượng, có thể sẽ bị
phá vỡ. Một quy luật bất thành văn ở Trung Quốc, sự độc tài về chính trị có thể được
xoa dịu bởi tốc độ tăng trưởng kinh tế. Khi kinh tế rơi vào suy thoái, như hiện nay, thì
chiến tranh là giải pháp tốt. Khi nền kinh tế chậm lai, khoảng cách giàu nghèo tăng lên,
các bất ổn trong xã hội Trung Quốc “trỗi dậy”, sẽ có hàng trăm triệu người Trung Quốc
sẽ đổ lỗi và tìm cách phán xét chính phủ, lãnh đạo Đảng. Để giữ được vị thế cầm quyền,
Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ có hai lựa chọn:Một là tiến hành một cuộc đàn áp chính
trị đẫm máu ngay bên trong. Hai là tiến hành một cuộc chiến tranh bên ngoài, để xoa
dịu những bất ổn bên trong, tức là sử dụng chiêu bài “nước lớn” – “chủ nghĩa dân tộc”.
Cả hai yếu tố nêu trên đều được Trung Quốc luân phiên sử dụng. Trung Quốc
thời Tập Cận Bình cũng không thoát ra khỏi lối đi đó, khi các cuộc loại bỏ quyền lực
Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đạo với chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” vẫn đang phân mảnh
thượng tầng kiến trúc nước này, vấn đề Tân Cương, Tây Tạng, Biển Đông, Hoa Đông
trở thành tâm điểm thu hút sự chú ý của người dân Trung Quốc. Hội đồng đối ngoại Mỹ
(CFR) dự báo trong năm 2015 Trung Quốc có nguy cơ đối mặt với bất ổn chính trị leo
thang ở Tân Cương, nơi người dân tộc Duy Ngô Nhĩ chiếm đa số. Trong năm 2014 đã
xảy ra hàng loạt vụ tấn công đẫm máu tại Tân Cương khiến hàng trăm người thiệt mạng
và bị thương. Chính quyền Trung Quốc đã bắt giữ hàng trăm nghi can và tử hình hàng
chục người.
Tập Cận Bình lên tiếng đòi “Châu Á của người Châu Á”, gây tranh chấp với
Nhật Bản tại biển Hoa Đông, tiến hành mở rộng, bồi lấp, quân sự hóa các đảo ở Biển
Đông. Đưa đến sự căng thẳng trong khu vực, trong đó có cả Việt Nam. Với Biển Đông,
bằng sự vô lý của mình từ bản đồ với yêu sách chủ quyền 9 đoạn, các tuyên bố “song
trong dân cư bởi các nhà máy hóa chất hoạt động gần đó.
1.4 Ô nhiêm môi trường
1.4.1 Không khí
Ô nhiễm không khí là một trong những vấn nạn đang đè nặng lên toàn bộ Trung
Quốc. Lượng lớn khói bụi gia tăng từng ngày trong và quanh các thành phố lớn quốc
gia này. Cả thế giới đã nhìn thấy sương mù dày đặc ra sao tại Thế vận hội Olympic Bắc
Kinh. Đó còn là sau khi chính quyền đã hạn chế khí thải bằng cách cho ngừng hoạt
động tại các nhà máy quanh khu vực diễn ra sự kiện. Để có bầu không khí trong lành
hơn, những công xưởng này phải đóng cửa cả tháng trước khi diễn ra Thế vận hội. Xe
cộ cũng bị cấm lưu thông. Khi tìm hiểu kỹ thêm sẽ thấy Bắc Kinh thậm chí còn chưa
thuộc danh sách những thành phố bị ô nhiễm nhất ở Trung Quốc, điều đó có thể giúp
một người hiểu được mức độ ô nhiễm tại quốc gia này nghiêm trọng như thế nào.
Dưới đây là bảng so sánh mức độ ô nhiễm tại những thành phố có bầu khí quyển
kém trong lành nhất của Trung Quốc với nhóm đô thị tương đương của Mỹ:
Cuộc khủng hoảng môi trường của Trung Quốc là một trong thách thức lớn nhất
xuất phát từ nền công nghiệp hóa nhanh chóng của đất nước này. Trung Quốc là quốc
gia có lượng khí thải carbon lớn nhất thế giới. Trung Quốc có tới 16 trong 20 thành phố
ô nhiễm nhất trên thế giới.
Tuổi thọ trung bình của người dân ở miền Bắc Trung Quốc đã giảm đi 5,5 năm
do môi trường bị ô nhiễm. Theo Ngân hàng Thế giới, suy thoái môi trường ở Trung
Quốc đã làm suy giảm đi 9% tổng thu nhập quốc gia năm 2008, đồng nghĩa với việc làm
giảm sự phát triển của đất nước và hình ảnh Trung Quốc trong mắt bạn bè quốc tế.
Ô nhiễm không khí cũng đã khiến 1,2 triệu người dân Trung Quốc chết sớm
trong năm 2010. Cuối năm 2013, 1 cô bé 8 tuổi ở tỉnh Giang Tô đã trở thành bệnh nhân
Trong một vài năm đầu GDP duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh, đạt được mục tiêu của
Bắc Kinh. Tuy nhiên, hiện tại, gói kích thích kinh tế 4 nghìn tỷ NDT đã để lại một số
lượng lớn các dự án bất động sản bị bỏ hoang, dư thừa công suất sản xuất, các khoản nợ
rất lớn của chính quyền địa phương, v.v. GDP kích cầu này tương tự với giá trị sản
lượng sản phẩm không thể bán ra dưới hệ thống kinh tế chỉ huy.
Trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nếu Trung Quốc nắm lấy
cơ hội thực hiện điều chỉnh cơ cấu và nâng cấp ngành công nghiệp thì sẽ không có
những khó khăn như hiện nay. Nhưng Trung Quốc lại tung ra kế hoạch kích cầu kinh tế
4 nghìn tỷ nhân dân tệ (NDT), tuy tránh được một cuộc suy thoái nhưng cũng bỏ qua
một cơ hội rất tốt để chỉnh đốn nền kinh tế.
Việc chỉnh đốn nền kinh tế hiện nay khó khăn hơn nhiều so với việc thực hiện từ
năm 2008. Bốn nghìn tỷ NDT kích cầu kinh tế năm 2008 tiếp tục làm cho trình trạng
mất cân đối cơ cấu kinh tế vốn đã nghiêm trọng càng trở nên tệ hại. Nhiều doanh nghiệp
sản xuất truyền thống đối mặt với dư thừa công suất tại thời điểm đó. Những công nghệ
của họ đã lỗi thời. Họ không thể bán sản phẩm của họ, và họ phải thay thế các sản phẩm
cũ của họ bằng những cái mới.
Gói kích cầu lớn của chính phủ đã khiến các công nghệ và sản phẩm lạc hậu
lưu lại và thậm chí duy trì các doanh nghiệp này cho đến ngày nay. Tuy nhiên khi đà
tăng trưởng vốn có của nền kinh tế suy yếu, cần phải tăng cường sức khỏe của nó.
Nhưng Trung Quốc không những không loại trừ cấu trúc nội bộ nhiễm bệnh mà còn
thúc đẩy nó và cho phép năng lực sản xuất lạc hậu mở rộng. Trung Quốc đang che phủ
lên những bong bóng cũ về năng lực sản xuất bằng những bong bóng mới, và kết quả là
tạo ra những cái bong bóng lớn hơn. Trên thị trường vốn cũng có bong bóng, nhưng hầu
hết các bong bóng nằm trong nền kinh tế trong hình thức dư thừa công suất.
2.1.2 Nguyên nhân của khủng thị trường chứng khoán
Sau gần 7 năm đi ngang và tích lũy, thị trường chứng khoán Trung Quốc đã
chứng kiến một đợt khủng hoảng cực kỳ mạnh mẽ bắt đầu từ nửa cuối tháng 6/2014 và