Tiểu luận môn Kinh tế phát triển Vai trò của nguồn lao động với sự phát triển kinh tế xã hội nước ta - Pdf 24

Phần I: Mở đầu
Xã hội loài người tồn tại và phát triển dựa vào hai nguồn tài nguyên là: Thiên
nhiên và con người. Cái quý nhất trong nguồn tài nguyên con người là trí tuệ. Mọi
nguồn tài nguyên thiên nhiên đều có hạn và đều có thể bị khai thác cạn kiệt. Song, sự
hiểu biết của con người đã, đang và sẽ không bao giờ chịu dừng lại, nghĩa là nguồn tài
nguyên trí tuệ không có giới hạn, trí tuệ con người là nguồn lực vô tận của sự phát triển
xã hội.
Sau khi gia nhập WTO, nguồn lao động nước ngoài sẽ đổ vào Việt Nam, đồng
thời các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam sẽ có chính sách thu hút lao động mạnh
mẽ hơn. Điều đó chắc chắn tạo ra nhiều sức ép về việc làm cho lao động trong nước.
Cùng với việc gia nhập WTO, Việt Nam đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa và
hiện đại hóa đất nước, các khu công nghiệp, khu kinh tế phát triển với tốc độ cao nên
tình trạng di dân đến các khu công nghiệp đã gia tăng, phần lớn là số người trong độ
tuổi lao động. Tình trạng thiếu hụt lao động ở tất cả các trình độ, ở tất cả các bộ ngành.
Câu chuyên ngành nhân lực đã trở thành tâm điểm kéo theo sự chú ý của xã hội đặc
biệt với các doanh nghiệp. Việt Nam thiếu trầm trọng lao động kỹ thuật trình độ cao và
lao động dịch vụ cao cấp trong các ngành tài chính, ngân hàng, du lịch, bán hàng nên
nhiều nghề và công việc phải thuê lao động nước ngoài trong khi lao động xuất khẩu đa
phần có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp hoặc mới chỉ qua giáo dục định hướng.
Trước tình hình đó em đã tiến hành tìm hiểu về: “Vai trò của nguồn lao động với sự
phát triển kinh tế - xã hội nước ta”.
Phần II: Nội dung
2.1. Khái niệm, lí luận liên quan đến nguồn lao động.
Nguồn lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của
pháp luật có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động ( trên độ tuổi
lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân.
Lực lượng lao động là bộ phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những
người thất nghiệp. Theo cách hiểu này thì lực lượng lao động chình là bộ phận dân số
hoạt động kinh tế( tích cực) và nó phản ánh khả năng thực tế về cung ứng lao động của
xã hội.
Nguồn nhân lực là một bộ phận của dân số, bao gồm những người trong độ tuổi

kết quả và chất lượng lao động, sự hài lòng và không hài lòng của các bên tham gia hợp
đồng lao động.
Trong nền kinh tế thị trường, tính chất lao động của người lao động có nhiều
thay đổi như: quan hệ giữa chủ lao động – người lao động, lao động ngày một chuyên
môn hóa; kiến thức, kỹ năng, sử dụng công nghệ cao ngày một nhiều; phải có thái độ
lao động nghiêm túc, kỷ luật, đãi ngộ lao động ngày một tốt… Những người lao động
2
ngại thay đổi, chậm tiến bộ đều bị tụt hậu, thất thế trong cạnh tranh và nhanh chóng bị
đào thải khỏi thị trường lao động.
Trong xã hội ngày một gia tăng các ngành nghề chuyên biệt nhau với chuyên
môn riêng biệt. Các nhà quản lý cũng phân hóa, tách công đoạn để điều hành, quản lý
công việc hiệu quả tốt nhất. Vì vậy, nguồn lao động cũng đòi hỏi phải có chuyên môn,
kỹ năng kiến thức giỏi ứng với một hay một vài chuyên ngành nào đó và phù hợp về
quy mô tổ chức, quy trình riêng biệt của từng ngành, nguồn lao động phải am hiểu tất
cả các lĩnh vực có liên quan để lao động hiệu quả, ít sai sót. Có nghĩa là mặt bằng tri
thức, kỹ năng của người lao động đòi hỏi ngày một cao cả về bề sâu lẫn bề rộng.
Ngày nay, việc người lao động giao tiếp với nhiều người, làm cùng một lúc
nhiều việc, nhiều loại yêu cầu, thông tin phải tiếp nhận xử lý trong một thời gian eo hẹp
với hiệu quả chất lượng đòi hỏi ngày một cao… là chuyện bình thường. Vì vậy, người
lao động buộc phải có sức khỏe tốt, trong một đơn vị thời gian đảm bảo sản lượng và
chất lượng lao động tốt, có độ tập trung cao, chuyên môn giỏi, khai thác thế mạnh các
công cụ mới. Các dạng lao động thô sơ, đơn giản dần dần được máy móc và công nghệ
đảm nhiệm. Tỷ trọng lao động trí óc, sáng tạo ngày một cao để đáp ứng được tốc độ
phát triển. Vì thế, những phương pháp và công cụ lao động không ngừng được cải tiến,
có tính thiết yếu trong hiệu quả công việc của người lao động.
Người thất nghiệp cần phải hiểu là những người trong độ tuổi lao động, có khả
năng lao động, đang có nhu cầu tìm việc làm và nếu có việc làm là phải đi làm ngay.
Tuy nhiên, để đánh giá về tình hình lao động và việc làm trong nền kinh tế,
chúng ta cần biết thêm một tiêu chí khác là tỷ lệ lao động thiếu việc làm. Đây là tiêu chí
quan trọng được tính cho cả lao động ở khu vực nông thôn và thành thị nhưng chưa

Việt Nam được đánh giá là nước có lực lượng lao động đông, giá rẻ và rất tiềm
năng. Tuy nhiên, các doanh nghiệp vẫn rất vất vả tìm kiếm được người lao động đáp
ứng yêu cầu của mình. Lực lượng lao động đông là vậy mà các doanh nghiệp vẫn phải
cạnh tranh nhau và giành giật của nhau từng người lao động giỏi và luôn phải đau đầu
bởi doanh nghiệp đang có nhiều người lao động trình độ thấp. Điều này thường do
người lao động Việt Nam hiện nay còn thiếu rất nhiều yếu tố để đáp ứng được yêu cầu
của công việc hiện tại, đa số không đảm bảo các yêu cầu về lao động đúng như hợp
đồng lao động.
Lao động nước ta chủ yếu là lao động nông nghiệp nông thôn (chiếm trên 50%)
trong khi đó 20% lực lượng lao động trong khu vực này thiếu việc làm; lực lượng lao
động chưa qua đào tạo hơn 70%, trình độ chuyên môn, tay nghề chưa cao, ý thức tổ
chức kỷ luật, tác phong công nghiệp kém ; cơ cấu ngành, nghề được đào tạo chưa đáp
ứng yêu cầu của thị trường, thiếu lao động kỹ thuật cao.
Một bất cập khác là đến nay Việt Nam vẫn chưa có hệ thống thông tin thị
trường lao động, thiếu dự báo vĩ mô, dẫn đến trường đào tạo một đằng, doanh nghiệp
4
tuyển một nẻo, các vùng kinh tế trọng điểm thiếu lao động, trong khi vùng nông thôn
thì dư thừa.
Với nguồn nhân lực dồi dào, Việt Nam đang có những lợi thế nhất định về nhân
công. Người Việt Nam được đánh giá là cần cù, chịu khó và ham học hỏi. Tuy nhiên,
lao động Việt Nam có nhược điểm là ít dám chịu trách nhiệm, dẫn đến hạn chế tính chủ
động và sáng tạo.
Ở các nước đang phát triển, trong đó có nước ta lao động nhiều nhưng lại có
biểu hiện của sự dư thừa hay tình trạng thiếu việc làm. Lao động với năng suất thấp,
phần đóng góp của lao động trong tổng thu nhập còn hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu là
do kinh tế chậm phát triển, các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng việc
làm chậm được cải thiện, bổ sung thậm chí còn suy giảm ( như quỹ đất đai trong nông
nghiệp). Mặt khác quan hệ lao động và thị trường lao động, nhất là nông thôn chậm
phát triển cũng là nhân tố hạn chế vai trò của lao động.
Dân số Việt Nam trẻ, điều này đặc biệt có ý nghĩa ở hai lĩnh vực: tiêu dùng và

Lĩnh vực nông nghiệp vẫn đang thu hút nhiều lao động nhất (57%), tiếp đến là dịch vụ
(25%), công nghiệp (17%).
Nhìn chung, mức lương tối thiểu của người lao động trong các doanh nghiệp đã
cao hơn trước rất nhiều, đã làm cho chất lượng cuộc sống của người lao động được cải
thiện đáng kể, tuy nhiên vẫn có sự chênh lệch đó là mức lương tối thiểu ở miền Nam
thường cao hơn miền Bắc.
2.3. Cơ hội và thách thức của nguồn lao động.
2.3.1. Cơ hội của nguồn lao động.
Theo ghi nhận tình hình tuyển dụng gần đây cho thấy công nghệ và kỹ thuật cao
vẫn đang là ngành “hot” thu hút nhiều lao động. Đáng ghi nhận nhất là môt bộ phận lớn
các lao động bị mất việc trong đợt khủng hoảng vừa qua đã tìm được những công việc
phù hợp. Hiện nay, để giảm chi phí, đã có xu hướng “Nội địa hoá” nhân lực quản lý.
Nhiều doanh nghiệp đã tuyển dụng các cấp quản lý là người Việt Nam thay thế cho lao
động nước ngoài. Xu hướng này giúp cho những người có kinh nghiệm, kỹ năng điều
hành đang được săn đón.
Theo số liệu mới nhất của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, dự báo trong
năm 2009, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế sẽ có khoảng 300.000 người lao động bị
mất việc làm. Tuy nhiên, tình hình lao động mất việc hiện không quá căng thẳng, bởi
dấu hiệu đáng mừng là ngày càng có nhiều doanh nghiệp đã khôi phục sản xuất, kinh
doanh, tìm kiếm được thị trường mới và đang có nhu cầu tuyển dụng lao động trở lại.
Đến thời điểm này, mặc dù tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vẫn
còn gặp khó khăn, nhưng nhiều doanh nghiệp cũng đã phục hồi trở lại, theo đó sẽ hút
một lượng lao động vào những tháng cuối năm. Thêm vào đó, nhiều doanh nghiệp mới
thành lập cũng cần tuyển dụng lao động, việc làm thời vụ cuối năm cũng giải quyết
6
được một số lượng việc làm lớn. Do vậy, tình hình lao động bị mất việc và thiếu việc
làm của doanh nghiệp sẽ tiếp tục giảm.
Hơn nữa, do đặc thù của lao động Việt Nam, nhất là lao động phổ thông, khi
mất việc tại các thành phố lớn thường quay trở về quê làm nông nghiệp, nên đa số lực
lượng lao động này vẫn tính có việc làm và thu nhập, góp phần giảm bớt lo ngại về tình

văn phòng, nhưng chất lượng của họ không phải lúc nào cũng đáp ứng. Đặc biệt, nhân
sự cao cấp, các chuyên gia có kinh nghiệm và khả năng quản lý đang ở trong tình trạng
cung thấp xa so với cầu. Lĩnh vực thiếu hụt nhân sự nghiêm trọng nhất là công nghệ
thông tin, tài chính, kiểm toán, luật cũng như các chuyên gia thực thụ trong hầu hết các
ngành công nghiệp. Ngoài ra, nhiều người lao động chưa có trình độ ngoại ngữ đủ để
làm việc. Trên thực tế, tình trạng này thời gian qua đã có những tiến bộ nhất định thông
qua việc ngày càng có nhiều người nước ngoài đến Việt Nam và ngày càng có nhiều
người Việt Nam ở nước ngoài trở lại quê hương.
Vấn đề nguồn lực, cái quyết định nhất là con người, khi chúng ta mở cửa vấn đề
cạnh tranh giành nguồn lực này rất khốc liệt. Khi các doanh nghiệp nước ngoài vào, các
cuộc cạnh tranh sẽ diễn ra, các doanh nghiệp sẽ dùng lương để thu hút người lao động
giỏi, cho nên chúng ta, một mặt, cũng phải có chiến lược đào tạo, giữ những người có
năng lực làm cho mình, giữ như thế nào tùy vào từng doanh nghiệp, không có bài toán
chung cho tất cả. Có nhiều cách khác nhau để giữ người, cổ phần nhất định, lương cao,
đối xử, tình cảm, Muốn hay không Nhà nước phải có chính sách để đào tạo, đào tạo
lại người lao động
Một thách thức không nhỏ đối với chúng ta là dự báo năm 2009 sẽ có thêm
300.000 người thất nghiệp. Kiểm soát vấn đề thất nghiệp, hạn chế nó ở mức thấp nhất
sẽ tác động rất lớn đến sự ổn định, giảm thiểu các tệ nạn xã hội và, nhất là, giúp cho
hàng ngàn gia đình nghèo khó đỡ khổ hơn. tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam hiện nay là
4,65%, tăng 0,01% so với năm 2007. Trong khi đó, tỷ lệ lao động thiếu việc làm hiện
nay là 5,1%, tăng 0,2% so với năm 2007. Đáng chú ý, tỷ lệ thiếu việc làm nông thôn
lên tới 6,1%, trong khi tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 2,3%.
Lao động xuất khẩu hết việc bị đưa về , do biến động thị trường kinh tế thế giới
nên nhiều cơ sở, xí nghiêp, công ty nước ngoài liên tục cắt giảm lao động, vì vậy lượng
người lao động xuất khẩu bị đưa về nước trước thời hạn gia tăng, điều này còn làm cho
tình trạng thất nghiệp trong nước trở nên trầm trọng hơn. Chỉ riêng ở Đài Loan, hơn
2.000 lao động Việt Nam phải về nước từ cuối năm 2008 đến gần cuối tháng 2.
Gia nhập WTO, nguy cơ đầu tiên mà người lao động Việt Nam phải đối đầu là
sẽ có nhiều người mất việc làm. Đó có thể là những lao động giản đơn, trình độ thấp

không ngừng nâng cao năng suất lao động, nghĩa là sử dụng gắn với phát triển NNL.
Hai là, quá trình sử dụng lao động gắn liền với quá trình phát triển kinh tế xã hội ở
nông thôn. Ba là, quá trình sử dụng lao động gắn với quá trình CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn. Từ đó cần tiến hành các giải pháp sau:
Thứ nhất: Giảm lượng cung lao động
Cần tiếp tục duy trì chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình. Việc đưa
chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình về nông thôn nhằm thực hiện chỉ tiêu tỷ
lệ tăng dân số tự nhiên là 1,1% vào 2010, từ đó giảm số lượng nguồn nhân lực. Muốn
thực hiện được thì trước hết phải hỗ trợ cho họ có thể tiếp cận được các phương tiện
truyền thông để họ hiểu được pháp lệnh dân số và biện pháp kế hoạch hóa gia đình.
Cần hỗ trợ cho họ các loại thuốc và dụng cụ tránh thai không phải trả tiền. Cần phải có
các chính sách về lợi ích vật chất, để khuyến khích họ sinh đẻ đúng kế hoạch.
Thứ hai: Phải sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nguồn lực đất đai
Cần hoàn thiện chính sách và pháp luật về quản lý đất đai, để biến đất đai thành
nguồn vốn quan trọng cho phát triển kinh tế và tạo thêm việc làm. Mỗi địa phương phải
9
xây dựng và thực hiện nghiêm túc quy hoạch dài hạn sử dụng đất. Trong nông nghiệp
phải thay đổi cơ cấu về diện tích cây trồng trên cơ sở lựa chọn đúng cơ cấu cây trồng
vật nuôi thích hợp, phải đẩy nhanh thâm canh tăng vụ, nâng cao hệ số sử dụng ruộng
đất, tăng nhanh giá trị sản lượng trên một đơn vị diện tích. Phải tiếp tục thực hiện giao
đất giao rừng cho nhân dân để gắn đất đai với lao động, đất rừng phải có chủ. Hoàn
thành giao đất cho những hộ dân không có đất sản xuất và kèm theo những điều kiện hỗ
trợ về khuyến nông để giúp họ sản xuất và khắc phục tình trạng sử dụng kém hiệu quả
đất đai của các doanh nghiệp nông lâm nghiệp. Trong xây dựng đô thị và kết cấu hạ
tầng quan trọng phải trên cơ sở quy hoạch tránh lãng phí. Tạo ra thị trường đất đai ở
khu vực nông thôn sẽ làm cho sự minh bạch về giá, giúp cho quá trình sử dụng nguồn
vốn này tốt hơn, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung đất đai, từ đó góp phần thực
hiện CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn.
Thứ ba: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Xác định chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,

tầng như cấp điện, giao thông, thông tin liên lạc, các trung tâm thương mại dịch vụ.
Khuyến khích dân cư nông thôn tự tạo việc làm ngay tại quê hương mình theo phương
châm "Li nông bất li hương”. Khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống.
Chẳng hạn trước đây số lao động trẻ của tỉnh Quảng Nam di chuyển đến các đô thị tìm
10
việc làm rất lớn thì hiện tại với chương trình khôi phục làng nghề truyền thống của tỉnh
đã thu hút rất nhiều lao động trẻ.
Thứ sáu: Nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực ở nông thôn
Cần thực hiện cơ chế nhà nước và nhân dân cùng làm để tăng cường đầu tư cho
giáo dục nâng cao trình độ văn hoá cho các vùng nông thôn, đặc biệt là vùng Tây
Nguyên, Tây Bắc và đồng bằng sông Cửu Long sớm phổ cập giáo dục cơ sở.
Điều chỉnh mạng lưới cơ sở đào tạo cho phù hợp với yêu cầu quy hoạch phát
triển kinh tế xã hội của từng vùng nông thôn. Xây dựng một số cơ sở sản xuất nông
nghiệp có trình độ kỹ thuật công nghệ cao trong các vùng nông nghiệp trọng điểm
nhằm kết hợp khuyến nông, đẩy mạnh hoạt động phổ biến chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
cho nông dân. Trong việc đào tạo nghề nông nghiệp cho nông dân cần chú ý cả phương
tiện kỹ thuật và kỹ năng quản lý, không chỉ chú trọng các loại hình chính quy trên cơ sở
phát triển hệ cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, mà đặc biệt quan tâm tới mô hình đào
tạo cộng đồng. Tăng cường đào tạo ngành nghề phi nông nghiệp cho nông dân.
Có chính sách khuyến khích và sử dụng tốt sinh viên học sinh tốt nghiệp các
trường đại học, cao đẳng, trung cấp về phục vụ ở nông thôn.
Phần III: Kết luận và kiến nghị
3.1. Kết luận.
Sau khi gia nhập WTO, những lao động trẻ, có sức khỏe, tay nghề cao sẽ có cơ
hội vươn lên, nhưng bên cạnh đó thị trường cũng sẽ đào thải, làm mất việc của một
lượng lớn lao động khác.Việc gia nhập WTO sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều
ngành kinh tế phát triển, đẩy nhanh hơn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
thôn, sẽ có một lượng lớn lao động nông nghiệp, thanh niên nông thôn nhàn rỗi, thiếu
việc làm tham gia vào hoạt động kinh tế trong các doanh nghiệp, các hộ gia đình, đơn
vị kinh doanh cá thể Điều này đồng nghĩa với mang lại nhiều cơ hội thay đổi công

đào tạo những nghề gắn với nhu cầu hội nhập, kết hợp với đào tạo ngoại ngữ, rèn luyện
ý thức tổ chức kỷ luật để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động trên cơ sở nâng cao
năng lực đào tạo tại các cơ sở đào tạo nghề.
Ba là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật lao động theo hướng
tiếp cận các tiêu chuẩn quốc tế và các nguyên tắc của thị trường. Cần phải xây dựng hệ
thống chính sách phù hợp với pháp luật lao động quốc tế, đáp ứng được yêu cầu hội
nhập. Tuy nhiên, một số vấn đề khác cần tiếp tục hoàn thiện như tiền lương tối thiểu, tổ
chức thực thi luật ở cơ sở
Bốn là, phát triển và hoàn thiện thị trường lao động, trước hết là hệ thống giao
dịch việc làm, thông tin thị trường lao động, các hoạt động để người lao động dễ dàng
tiếp cận với việc làm, tạo điều kiện kết nối cung - cầu lao động trong nước và ngoài
nước.
12
Tài liệu tham khảo:
1. http://vietbao.vn
2. Đỗ Thị Thanh Huyền, Bài giảng Kinh tế phát triển
3. GS.TS Vũ Thị Ngọc Phùng, Giáo trình Kinh tế phát triển, NXB Lao động –
xã hội, Hà Nội, 2006
4. Báo cáo kết quả điều tra lao động - việc làm của Bộ Lao động Thương binh
Xã hội, 1/7/2002.
5. Số liệu thống kê Lao động - việc làm 1996-2000 và 2002 của Bộ LĐ-
TBXH, NXB Thống kê, 2001 và NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội - 2003.
6. Đánh giá việc thực hiện chiến lược KT-XH, trang Web của Bộ Kế hoạch
Đầu tư http://www.mpioda.gov.vn/
7. Thực hiện mục tiêu chuyển dich cơ cấu ngành của của Bộ Kế hoạch Đầu tư,
trang Web của Bộ Kế hoạch Đầu tư http://www.mpi-oda.gov.vn/
8. Niên giám thông kê việt Nam, Tổng cục Thống Kê 1995, 1996, 1997, 2000,
2002.
13
Phần I: Mở đầu 1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status