DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chữ viết tắt
CNH, HĐH
FDI
(Foreign Direct Investment)
Khu chế xuất
Khu công nghiệp
Kinh tế - xã hội
Nhà xuất bản
Ủy ban nhân dân
KCX
KCN
KT - XH
Nxb
UBND
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CÁC KHU
CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ
- XÃ HỘI Ở TỈNH BẮC NINH
32
32
35
60
60
66
84
85
91
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khu công nghiệp là một loại hình tổ chức sản xuất công nghiệp đã phổ
biến trên thế giới, nhưng các KCN ở Việt Nam chỉ mới phát triển vài chục năm
gần đây. Có rất nhiều vấn đề lý luận về KCN đặt ra cần nghiên cứu như: loại
hình, phương thức, quy mô, giới hạn, đặc biệt là vai trò, tác động của KCN đối
với KT - XH, môi trường. Sự ra đời và phát triển của các KCN đã đóng góp to
lớn vào thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, góp phần đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước. Các KCN đã và đang trở thành nơi tập trung nguồn lực để
phát triển công nghiệp, đón nhận, chuyển giao tiến bộ khoa học - công nghệ,
thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế...
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng, nằm tiếp giáp
với Thủ đô Hà Nội, có vị trí quan trọng trong phát triển KT - XH của cả nước;
là tỉnh có địa hình bằng phẳng, do vậy có nhiều lợi thế để phát triển các KCN.
Từ khi tái lập tỉnh (năm 1997) đến nay, Bắc Ninh đã có 16 KCN được Chính
Với lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài :“Vai trò của các khu công nghiệp
đối với phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh” làm luận văn Cao học,
chuyên ngành kinh tế chính trị học.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Khu công nghiệp và vai trò của các KCN đối với phát triển KT - XH là vấn
đề đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cấp, ngành, nhiều nhà khoa học,
nhà quản lý dưới nhiều khía cạnh và phạm vi khác nhau. Đến nay đã có nhiều
công trình nghiên cứu về vấn đề này, nổi bật là các công trình tiêu biểu sau:
* Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến KCN nói chung.
Trần Minh Ngọc (2011), Phát triển các khu công nghiệp ở tỉnh Vĩnh
Phúc, Luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội. Luận văn đã trình bày những có sở lý luận và thực tiễn về phát
triển KCN nói chung, cụ thể trình bày quan niệm và đặc điểm KCN, từ đó rút
ra kinh nghiệm phát triển KCN ở một số tỉnh trong cả nước. Trên cơ sở thực
4
trạng phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, những đóng góp chủ
yếu và hạn chế của KCN từ năm 1998 đến năm 2010, tác giả đã trình bày các
định hướng và giải pháp phát triển KCN ở Vĩnh Phúc đến năm 2020.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2011), Hội nghị tổng kết 20 năm xây dựng và
phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế ở Việt Nam, Hà Nội.
Hội nghị đã đánh giá những thành tựu, hạn chế và chỉ ra kinh nghiệm xây
dựng, phát triển KCN, KCX, khu kinh tế ở nước ta; kiến nghị phương hướng
và giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển, nâng cao chất lượng hoạt động của các
KCN, KCX, khu kinh tế thời gian tới.
Nguyễn Thành Công (2012), Phát triển các khu công nghiệp trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn kinh tế chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác
giả đã phân tích những cơ sở lý luận về phát triển khu công nghiệp, đồng thời
tham khảo kinh nghiệm của một số địa phương về phát triển KCN. Đánh giá
văn thạc sĩ kinh tế chính trị, Học viện Chính trị, Hà Nội. Luận văn đã luận
giải cơ sở lý luận và thực trạng tác động của phát triển các KCN tập trung
đối với củng cố quốc phòng trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó đã đưa ra
một số quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm phát huy những mặt tích cực và
hạn chế những mặt tiêu cực của phát triển các KCN tập trung đến củng cố
quốc phòng trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Trần Văn Phùng (2007), Nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội các khu
công nghiệp Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội. Dưới góc độ chuyên ngành quản lý kinh tế tác giả đã làm rõ
cơ sở lý luận chung về KCN, hiệu quả KT - XH của KCN, đánh giá thực
trạng tác động đến vấn đề KT - XH của các KCN ở Việt Nam. Trên cơ sở
đó, tác giả đưa ra các quan điểm, định hướng và các giải pháp để nâng cao
hiệu quả KT - XH của các KCN Việt Nam.
Hà Thị Thúy (2007), Các khu công nghiệp với sự phát triển kinh tế - xã
hội ở Bắc Giang, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
6
Chí Minh, Hà Nội. Tác giả đã trình bày sự phát triển các KCN ở tỉnh Bắc
Giang, đồng thời phân tích vai trò của các KCN đối với sự phát triển KT - XH
của Bắc Giang. Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng
cao vai trò của các KCN đối với sự phát triển KT - XH ở tỉnh Bắc Giang.
Nguyễn Văn Hùng (2009), “Một số vấn đề về đổi mới công tác quy hoạch
và phát triển khu công nghiệp gắn với bảo vệ môi trường ở nước ta”, Wesite Tạp
chí Khu công nghiệp, số 135. Trong bài viết này tác giả đề cập đến vấn đề quy
hoạch KCN ở nước ta hiện nay, chỉ ra những đóng góp tích cực, những hạn chế
trong quy hoạch nhất là gắn quy hoạch phát triển KCN với bảo vệ môi trường,
đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề này.
Lê Thị Phương (2009), Ảnh hưởng của các khu công nghiệp đến đời sống
hộ nông dân ở huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại
quả KT - XH của các KCN đối với tỉnh Gia Lai.
Nguyễn Bình Giang (2012), Tác động xã hội vùng của các khu công
nghiệp ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Cuốn sách tập trung vào
khái quát sự phát triển các KCN ở Việt Nam; phát hiện, đánh giá và phân
tích các tác động xã hội vùng của việc phát triển KCN tới cộng đồng dân
cư ở các địa phương xung quanh KCN; giới thiệu một số kinh nghiệm của
các nước Đông Á về tác động xã hội vùng của KCN.
Phạm Thị Kim Thư (2012), Vấn đề quản lý nhà nước đối với khu công
nghiệp của Hà Nội, Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 11 (6/2012). Trên cơ sở đánh
giá thực tế khả năng đầu tư, phát triển các KCN trên địa bàn Hà Nội chưa tương
xứng với tiềm năng của Thủ đô khi mở rộng. Bài viết đã đưa ra 5 giải pháp nhằm
tăng cường biện pháp quản lý nhà nước đối với các KCN ở Hà Nội để khắc phục
những hạn chế như đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước và xử lý nước
thải, hàng rào, điện chiếu sáng.
Nguyễn Nhân Chiến (2013), “Vai trò khu công nghiệp trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh”, Wesite Tạp chí Khu công nghiệp
8
Việt Nam, . Trên cơ sở khái quát tình hình phát
triển các KCN ở tỉnh Bắc Ninh sau 15 năm hình thành và phát triển, tác giả đã
trình bày các vai trò của KCN đối với sự phát triển KT - XH ở Bắc Ninh,
đồng thời nêu ra được những minh chứng cụ thể để chứng minh vai trò của
các KCN trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh.
Đỗ Văn Hai (2015), Vai trò của khu công nghiệp với sự phát triển kinh tế
- xã hội ở tỉnh Ninh Bình hiện nay, Luận văn Thạc sỹ kinh tế chính trị, Học viện
Chính trị, Hà Nội. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận về KCN, vai trò của KCN
đối với phát triển KT - XH ở tỉnh Ninh Bình, tác giả đã đi phân tích các nội dung
thể hiện vai trò của KCN đối với phát triển KT - XH, đồng thời chứng minh cụ
thể vai trò của KCN. Đề xuất các quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm phát huy
triển KT - XH ở tỉnh Bắc Ninh thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của các KCN đối với phát triển KT - XH dưới góc độ kinh tế
chính trị Mác - Lênin.
* Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: vai trò của các KCN đối với phát triển KT - XH,
tập trung vai trò các KCN trong thu hút vốn đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế; mở rộng quy mô sản xuất công nghiệp, thu hút
lao động, giải quyết việc làm.
- Về không gian nghiên cứu: Giới hạn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
- Về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2010 đến năm 2016.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Kinh tế Chính trị học Mác- Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam,
các Chỉ thị, Nghị quyết của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp tỉnh Bắc Ninh
10
về vai trò của các KCN đối với phát triển KT - XH.
* Cơ sở thực tiễn
Dựa trên kết quả điều tra, khảo sát về vai trò của các KCN đối với KT XH ở tỉnh Bắc Ninh từ năm 2010 đến năm 2016.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử, đề tài sử dụng các phương pháp đặc thù của kinh tế chính trị Mác
- Lênin là trừu tượng hóa khoa học, đồng thời kết hợp phương pháp lôgíc lịch sử, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh.
6. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp thêm luận cứ khoa
học để cấp ủy đảng, chính quyền và các ban, ngành tỉnh Bắc Ninh tham khảo
Quan niệm về KCN được nhà nghiên cứu của Hoa Kỳ, ông Bredo
William đưa ra năm 1960 trong tác phẩm “Các khu công nghiệp - công cụ cho
quá trình công nghiệp hóa” được khái quát như sau: Khu công nghiệp là một
vùng đất được phát triển và chia thành nhiều lô nhỏ theo một quy hoạch đồng
bộ với đầy đủ tiện ích về cơ sở hạ tầng bao gồm đường giao thông, điện, nước,
tiện ích công cộng được sử dụng chung cho toàn bộ các thành phần trong đó.
Theo định nghĩa đơn giản của Michael Peddle (1993) thì KCN là một
vùng đất tương đối rộng được chia thành nhiều lô và được xây dựng cơ sở hạ
tầng trong đó các xí nghiệp dễ dàng lựa chọn địa điểm để phát triển, thống
nhất sử dụng hạ tầng và hưởng những lợi thế ở những vị trí liền kề nhau.
Theo tổ chức Phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) trong tài
liệu “Khu chế xuất tại các nước đang phát triển” (1990) thì KCX là khu vực
12
tương đối nhỏ phân cách về mặt địa lý trong một quốc gia, nhằm mục tiêu thu
hút đầu tư vào các ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu bằng cung cấp cho
ngành công nghiệp này những điều kiện về đầu tư và mậu dịch thuận lợi đặc
biệt so với phần lãnh thổ còn lại của nước chủ nhà. Khu công nghiệp là tổ hợp
các nhà máy xí nghiệp công nghiệp, khu hạ tầng phát triển, có nhà xưởng xây
sẵn và các dịch vụ tiện ích cung cấp cho các xí nghiệp sản xuất…
Như vậy, các quan niệm trên cho thấy, KCN được hiểu là một khu vực
có những thuận lợi về mặt tự nhiên, về xây dựng kết cấu hạ tầng, về xã hội để
thu hút đầu tư và hoạt động theo một cơ cấu hợp lý các doanh nghiệp công
nghiệp, dịch vụ có liên quan nhằm đạt hiệu quả cao trong kinh doanh của từng
doanh nghiệp và cả cơ cấu các doanh nghiệp trong khu.
Ở Việt Nam, sự ra đời của KCN gắn liền với sự nghiệp CNH, HĐH,
đặc biệt là quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng hợp tác đầu tư với
nước ngoài. Quá trình này từng bước được định hình và nhận thức ngày càng
rõ hơn, không ngừng được bổ sung và hoàn thiện. Từ Đại hội Đại biểu toàn
hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 24/4/1997 về Quy chế khu công nghiệp và KCX
và khu công nghệ cao đã giải thích khái niệm về KCN như sau: “Khu công
nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và
thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý nhất định,
không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định
thành lập, trong khu công nghiệp có thể có các doanh nghiệp chế xuất” [9, tr. 2].
Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/03/2008 của Chính phủ quy định về
KCN, KCX và khu kinh tế, cũng đã đưa ra quan niệm về KCN, KCX một cách cụ
thể như sau: “Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực
hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được
thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này. Khu chế
xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ
cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác
định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu
14
công nghiệp quy định tại Nghị định này. Khu công nghiệp, khu chế xuất được
gọi chung là khu công nghiệp, trừ trường hợp quy định cụ thể” [10, tr. 1].
Theo Điều 3 Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26/11/2014 thì: “Khu chế xuất
là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho
sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu. Khu công nghiệp là khu vực
có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện
dịch vụ cho sản xuất công nghiệp” [35, tr. 2].
Nhìn lại quá trình phát triển và hoàn thiện các quan niệm về KCN ở
nước ta có thể thấy, KCN là đối tượng đặc thù của quản lý nhà nước về kinh
tế trong các giai đoạn phát triển với các đặc điểm về mục tiêu thành lập, giới
hạn hoạt động tập trung vào công nghiệp, ranh giới địa lý và thẩm quyền ra
quyết định thành lập.
các KCN phải được hình thành trên cơ sở quy hoạch phát triển tổng thể KT XH của địa phương, gắn với quá trình phát triển kinh tế, nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần của người lao động, của nhân dân. Khu công nghiệp là
một tổ chức không gian lãnh thổ công nghiệp, luôn gắn liền phát triển công
nghiệp với xây dựng kết cấu hạ tầng: giao thông, điện, thông tin liên lạc…,
hình thành mạng lưới đô thị và phân bố dân cư hợp lý.
Hai là, KCN có chính sách kinh tế đặc thù và ưu đãi nhằm thu hút vốn
đầu tư, khoa học công nghệ tiên tiến trong và ngoài nước, tạo môi trường đầu
tư thuận lợi và hấp dẫn cho các doanh nghiệp KCN. Khu công nghiệp là nơi
tập trung lực lượng lao động có chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề cao nhằm đáp
ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tiên tiến, hiện đại.
Đây là nhân tố quan trọng góp phần thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy
nhanh rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước.
Ba là, KCN là nơi tập trung và thu hút các doanh nghiệp sản xuất công
nghiệp và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ gắn liền với hoạt động sản xuất
công nghiệp, gọi chung là doanh nghiệp KCN. Doanh nghiệp KCN có nhiều
mô hình hoạt động khác nhau, trong đó có doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi
16
thành phần kinh tế, doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài,… Ở đây,
các bên tham gia hợp đồng, hợp tác kinh doanh với nhau bình đẳng theo pháp
luật nước ta. Các doanh nghiệp KCN phải thực hiện đầy đủ các quyền và
nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, đồng thời được quyền kinh doanh trong
các lĩnh vực đã đăng kí.
Bốn là, các KCN đều xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng với những
điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh như đường xá, hệ
thống điện, nước, thông tin liên lạc,… Nguồn vốn xây dựng kết cấu hạ tầng
thường do Chính phủ bỏ ra, hoặc kêu gọi đầu tư từ nguồn vốn trong và ngoài
nước để san lấp mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng,… Việc xây dựng kết cấu
hạ tầng trong các KCN thường do một công ty phát triển hạ tầng đảm nhiệm,
nhiều khía cạnh khác nhau, tuy nhiên xét trên khía cạnh các bộ phận cấu
thành, phát triển kinh tế là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình phát triển cả
hai lĩnh vực của nền kinh tế đó là lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực xã hội. Quá
trình phát triển KT - XH luôn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố kinh tế và phi
kinh tế khác nhau. Trong đó, KCN là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực
tiếp đến phát triển công nghiệp và toàn bộ quá trình phát triển KT - XH của
đất nước, từng địa phương. Cũng như ở phạm vi quốc gia, những đóng góp
tích cực hay ảnh hưởng tiêu cực của các KCN đến phát triển KT - XH đã tạo
nên những thay đổi lớn trong quá trình phát triển của địa phương đó.
Từ đó có thể hiểu vai trò của các KCN đối với phát triển KT - XH là
những tác dụng, đóng góp cụ thể của các KCN đối với quá trình tăng trưởng,
phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống, giải quyết các vấn đề xã
hội, môi trường, quốc phòng, an ninh ở địa phương có KCN, góp phần đẩy
nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước, thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển
đất nước mà Đảng ta đã đề ra.
Các KCN có vai trò quan trọng trong tập trung các doanh nghiệp sản
xuất, kinh doanh, góp phần thu hút vốn, công nghệ tiên tiến trong và ngoài
nước vào hoạt động sản xuất; tạo việc làm mới, thu hút lao động và hỗ trợ giải
18
quyết các vấn đề xã hội nảy sinh. Từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, có tác động lan tỏa tạo điều kiện các ngành công nghiệp hỗ
trợ, các dịch vụ cần thiết như dịch vụ công nghiệp, dịch vụ tài chính, ngân hàng
KCN phát triển... Như vậy, các KCN có vai trò quan trọng trong phát triển KT
- XH góp phần đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước.
1.2. Quan niệm, nội dung biểu hiện vai trò và những nhân tố ảnh
hưởng đến vai trò của các khu công nghiệp đối với phát triển kinh tế - xã
hội ở tỉnh Bắc Ninh
1.2.1. Quan niệm về vai trò của các khu công nghiệp
động, việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Việc phân tích những nội
dung biểu hiện vai trò của KCN sẽ làm rõ hơn quan niệm về vai trò của KCN
đối với phát triển KT - XH ở tỉnh Bắc Ninh.
1.2.2. Nội dung biểu hiện vai trò của khu công nghiệp
đối với phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh
Các KCN ở tỉnh Bắc Ninh được xây dựng là nhân tố quan trọng thúc
đẩy tăng trưởng, tác động tích cực đến mở rộng quy mô sản xuất công nghiệp,
thu hút lao động, giải quyết việc làm, góp phần quan trọng vào tốc độ tăng
trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quá trình đô thị hoá của Tỉnh. Đồng
thời, KCN thu hút một lượng lớn các doanh nghiệp trong và ngoài nước đến
đầu tư sản xuất kinh doanh, nhờ đó số lượng cơ sở sản xuất công nghiệp tăng
lên nhanh chóng trong đó phần lớn các doanh nghiệp đều đang hoạt động khá
tốt. Có thể khái quát vai trò của các KCN đối với phát triển KT - XH ở tỉnh
Bắc Ninh trên những nội dung cơ bản sau:
Một là, KCN góp phần quan trọng trong thu hút vốn đầu
tư, khoa học công nghệ tiên tiến, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư
nước ngoài vào tỉnh Bắc Ninh.
Khu công nghiệp với những ưu đãi đặc biệt về thủ tục hành chính, cơ
chế quản lý,... nên nó trở thành môi trường hấp dẫn các nhà đầu tư nước
ngoài, thu hút được vốn đầu tư trong và ngoài nước. Khu công nghiệp được
đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ và hiện đại, thuận tiện
cho các doanh nghiệp đầu tư vào nhanh chóng đi vào hoạt động, nâng cao
20
hiệu quả sản xuất, giảm chi phí. Mặt khác, việc bố trí tập trung các nhà máy
trong KCN theo hướng sản phẩm của nhà máy này là nguyên liệu của nhà
máy khác nên các doanh nghiệp dễ dàng giải quyết đầu vào và đầu ra với chi
phí thấp nhất. Do đó, các doanh nghiệp KCN có điều kiện thuận lợi để đạt
mục tiêu thuận lợi bên ngoài KCN, nên hấp dẫn các nhà đầu tư.
các KCN trong Tỉnh cũng đã đóng góp chủ yếu vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế trong nội bộ ngành công nghiệp theo hướng giảm tỷ trọng khu vực công
nghiệp quốc doanh, tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài và tăng nhẹ tỷ trọng khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh trong tổng
giá trị sản xuất của ngành công nghiệp. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo ngành sẽ kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu lao động của Tỉnh theo hướng
tích cực. Thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội đặt cơ sở cho việc
hình thành những nghề nghiệp chuyên môn, những ngành chuyên môn nhằm
nâng cao sức sản xuất.
Từ khi có các KCN đi vào hoạt động, cùng với sự tham gia đầu tư của
các tập đoàn sản xuất kinh tế lớn thực hiện các dự án đầu tư nên giá trị kim
ngạch xuất khẩu của tỉnh Bắc Ninh ngày càng cao và ổn định, điều đó đưa
Bắc Ninh trở thành tỉnh có giá trị xuất siêu kể từ năm 2009 đến nay. Các KCN
cũng là nhân tố quan trọng trong việc đưa nền kinh tế Bắc Ninh tham gia hội
nhập vào nền kinh tế quốc tế thông qua trao đổi thương mại, thu hút đầu tư.
Các dự án FDI được thực hiện bởi các nhà đầu tư đến từ nhiều quốc gia và
vùng lãnh thổ trong khu vực và trên thế giới.
Sự hoạt động hiệu quả của các doanh nghiệp lớn trong các KCN không
những đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, giải quyết việc làm cho người lao
động còn là nguồn đóng góp chủ yếu cho ngân sách địa phương, góp phần
tăng thu ngân sách của Tỉnh để thực hiện đầu tư cho các mục tiêu phát triển
KT - XH khác trên địa bàn.
Ba là, KCN đã góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm, đào tạo
nguồn nhân lực, nâng cao thu nhập, đời sống và trình độ của người lao động
và nhân dân trong Tỉnh.
22
Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động có ý nghĩa hết sức quan
dịch vụ trong các KCN và ngược lại, các hoạt động dịch vụ đã đáp ứng các
yêu cầu của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp KCN phát triển sản xuất. Như
lĩnh vực tín dụng, ngân hàng đã cung cấp các dịch vụ về tài chính, ngân hàng
cho các KCN Bắc Ninh như thanh toán lương, thanh toán xuất nhập khẩu, thẻ
tính dụng cá nhân…; Lĩnh vực dịch vụ bưu chính, viễn thông, điện lực: cung
cấp hạ tầng và dịch vụ đáp ứng yêu cầu cơ bản của doanh nghiệp như VNPT,
Viettel, Điện lực Bắc Ninh;… Dịch vụ Logicstic: các KCN Bắc Ninh đã xuất
hiện các công ty kinh doanh dịch vụ Logicstic nổi tiếng trong và ngoài nước...
Đồng thời, các KCN được xây dựng cũng kéo theo sự phát triển của
các loại hình dịch vụ phục vụ đời sống người lao động, nhân dân địa phương
như chợ, siêu thị, du lịch, dịch vụ cho thuê nhà ở, vận tải công cộng,... Đây là
điều kiện để hình thành các đô thị tập trung, cùng các công trình với kết cấu
hạ tầng xã hội khác.
Năm là, các KCN là động lực quan trọng góp phần hoàn thiện kết cấu
hạ tầng kinh tế, xã hội, đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa
Sự hình thành các KCN chính là một trong những điểm đột phá trong
xây dựng và nâng cấp kết cấu hạ tầng KT - XH, đáp ứng yêu cầu của quá
trình CNH, HĐH của địa phương, đất nước. Các nhà đầu tư đã xây dựng kết
cấu hạ tầng KCN để kết nối đồng bộ các hạng mục công trình ở trong với kết
cấu hạ tầng ngoài hàng rào KCN. Điều đó vừa tạo điều kiện thuận lợi trong
việc triển khai nhanh dự án sản xuất kinh doanh tại các KCN, vừa góp phần
cải thiện hệ thống kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng nông thôn của các địa
phương có KCN, đẩy nhanh sự phát triển KT - XH của Tỉnh. Tại các địa
phương có KCN việc xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng trong và ngoài KCN sẽ
góp phần đáng kể hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng KT - XH, làm thay đổi
24
diện mạo của địa phương, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển KT - XH