(Luận văn thạc sĩ) nâng cao vị trí, vai trò của tòa án nhân dân đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền việt nam hiện nay luận văn ths luật 60 38 01 - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN PHỤNG VƯƠNG

NÂNG CAO VỊ TRÍ, VAI TRỊ
CỦA TỊA ÁN NHÂN DÂN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT
NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2012

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRẦN PHỤNG VƯƠNG

NÂNG CAO VỊ TRÍ, VAI TRỊ
CỦA TỊA ÁN NHÂN DÂN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT
NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số

: 60 38 01

8

1.1.1.

Lịch sử các tư tưởng nhà nước pháp quyền

8

1.1.2.

Tư tưởng của C. Mác, Ph. Ăng ghen và V.I. Lênin về Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

11

1.1.3.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề nhà nước, nhà nước pháp quyền

12

1.1.4.

Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa

15

1.2.

Vị trí, vai trị của tồ án trong nhà nước pháp quyền

2.1.1.

Toà án nhân dân trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959

23

3


2.1.2.

Toà án nhân dân trong giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980

29

2.1.3.

Toà án nhân dân giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992

33

2.1.4.

Toà án nhân dân giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2002

34

2.2.

Vị trí, vai trị của Tịa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay

nhiệm vụ của Tịa án

45

2.2.3.

Vị trí, vai trị của Tịa án thể hiện thơng qua thẩm quyền của
Tòa án

48

2.2.3.1. Thẩm quyền chung của Tòa án

48

2.2.3.2. Thẩm quyền theo hệ thống tổ chức ngành Tòa án nhân dân

54

2.3.

Những bất cập ảnh hưởng đến vị trí, vai trị của Tòa án nhân dân

59

2.3.1.

Về cơ cấu tổ chức của Tòa án hiện nay

59

TRỊ CỦA TỊA ÁN NHÂN DÂN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM

4

70


HIỆN NAY

3.1.

Quan điểm nâng cao vị trí, vai trị của Tịa án nhân dân

70

3.2.

Giải pháp nâng cao vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân đáp ứng
yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay

74

3.2.1.

Đổi mới hệ thống Tòa án nhân dân

74

3.2.2.


Trang

Số liệu thống kê án sơ thẩm, phúc thẩm của tòa án từ năm

62

bảng
2.1

2006-2011

6


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, ngay từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, thành lập
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức rõ tầm
quan trọng của ngành tòa án.
Cùng với sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hịa, ngày 13-9-1945
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 33c thiết lập Tòa án quân sự
tiền thân của ngành tòa án để xét xử tất cả những người nào phạm vào một
việc gì có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Trải qua các giai đoạn cách mạng, các quy định về ngành Tòa án nhân
dân đã nhiều lần được cải cách, sửa đổi, đã dần hoàn thiện và nâng cao vị trí,
vai trị của ngành tịa án, góp phần củng cố, từng bước xây dựng Nhà nước
pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tại Điều 2 Hiến pháp 1992 (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số

định: "Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án
Quân sự và các Tòa án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [38]; Điều 1 Luật Tổ chức Tòa án nhân
dân quy định: "Tòa án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hơn nhân và gia
đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy
định của pháp luật" [40].
Chỉ có Tịa án mới có quyền nhân danh Nhà nước Cộng hịa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố một người có tội hay vô tội.
Theo quy định tại Điều 1 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, trong phạm
vi chức năng của mình, Tịa án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ
nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ
tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và
nhân phẩm của cơng dân.
Tịa án là một cơng cụ hữu hiệu của Đảng và Nhà nước để thực hiện
quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ nhân dân và bảo đảm kỷ cương xã hội. Mọi

8


phán quyết của Tịa án có tính cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước. Theo quy
định tại Điều 136 Hiến pháp 1992 quy định: "Các bản án và quyết định của Tịa
án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng;
những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành" [38].
Tòa án là nơi thực hiện chức năng tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
pháp luật có hiệu quả nhất. Bằng việc xét xử cơng khai, ngồi tác dụng răn đe,
giáo dục, phịng ngừa riêng và phịng ngừa chung, cịn có tác dụng tuyên
truyền, giới thiệu, giải thích cho quần chúng nhân dân về pháp luật để mọi
người hiểu biết thêm về pháp luật và hướng họ tới "Sống và làm việc theo
Hiến pháp và pháp luật". Bằng hoạt động của mình, Tịa án góp phần giáo dục

cho các Thẩm phán. Tình trạng "xử thế nào cũng đúng" gây tâm lý mất lòng
tin của người dân vào Tịa án tùy tiện, khơng cơng bằng.
Quy định về tiêu chuẩn bổ nhiệm, nhiệm kỳ bổ nhiệm, quy trình bổ
nhiệm thẩm phán cùng với việc hệ thống Tòa án hoạt động theo địa bàn,
khơng độc lập hồn tồn theo hệ thống ngành dọc ảnh hưởng khơng ít đến
ngun tắc "xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" của Tịa án.
Tình trạng cán bộ tịa án, có cả các thẩm phán có những hành vi vi
phạm pháp luật, chạy án, bị dư luận lên án cũng là nguyên nhân gây tâm lý
mất lòng tin của người dân vào Tòa án tùy tiện, khơng cơng bằng.
Do đó, việc nghiên cứu nhằm "nâng cao vị trí, vai trị của Tịa án
nhân dân đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện
nay" là vấn đề cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn. Vì vậy, tơi chọn đề tài
này làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay đã có một số bài viết và cơng trình khoa học nghiên cứu
liên quan đến vấn đề này. Như vấn đề: "Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn
thiện hệ thống các thủ tục tư pháp nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của
Tòa án nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do
dân, vì dân", Đề tài khoa học cấp nhà nước, mã số KX.04.06, do TS. Uông

10


Chu Lưu chủ nhiệm đề tài; "Tính độc lập của tịa án", của TS. Tơ Văn Hịa,
Nxb Lao động, 2007; "Vai trò của Tòa án trong hệ thống tư pháp", của TS.
Phạm Hồng Hải, Tạp chí Tịa án nhân dân, số 1/2001; "Về quyền tư pháp trong
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam",
của GS.TS Võ Khánh Vinh, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 8, 2003; "Thể
chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền", của GS.TS Nguyễn Đăng Dung,
Nxb Tư pháp, 2004; "Cải cách tư pháp trong tổ chức quyền lực nhà nước",

v trí, vai trị của Tồ án nhân dân đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam hiện nay
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các
quy định pháp luật về vị trí, vai trò của toà án nhân dân từ khi có Luật Tổ chức
toà án nhân dân năm 2002 đến nay; qua thực tiễn hoạt động của ngành toà án
trên phạm vi cả nước.
Vị trí, vai trò của Toà án nhân dân dưới các góc độ phi pháp lý (kinh
tế, chính trị) không đề cập trực tiếp trong luận văn này.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và
Nhà nước ta về nhà nước và pháp luật và yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước
pháp quyền Việt Nam xà hội chủ nghĩa, của dân, do dân, vì dân.
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên các phương pháp duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích, tổng
hợp, phương pháp so sánh, tổng kết thực tiễn.
6. Đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận văn
Thông qua việc nghiên cứu đề tài này luận văn góp phần làm sáng tỏ
cơ sở lý ln vµ thùc tiƠn vỊ nâng cao vị trí, vai trị của Tồ án nhân dân đáp
ứng u cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay

12


Phân tích đánh giá có hệ thống thực trạng các quy định của pháp luật
về v trớ, vai trũ ca To ỏn nhõn dõn. Đề xuất một số quan điểm và giải pháp
pháp lý cơ bản góp phần nõng cao vị trí, vai trị của Tồ án nhân dân đáp ứng
yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hin nay
7. Kết cấu của luận văn

thể quyền lực nhà nước là của nhân dân.
Thứ hai, phương pháp quản lý đó chỉ có thể bằng pháp luật.
1.1.1. Lịch sử các tư tưởng nhà nước pháp quyền
Tư tưởng nhà nước pháp quyền đà xuất hiện từ thời cổ đại do yêu cầu
bảo đảm dân chủ lúc bấy giờ. Người ta bắt đầu tìm kiếm những nguyên tắc,
hình thức để thiết lập mối quan hệ giữa pháp luật và quyền lực.
Nhờ vào sự thừa nhận của quyền lực mà pháp luật trở thành sức mạnh
của quyền lực công khai được tổ chức có trật tự, được tổ chức bằng pháp luật,

14


bị hạn chế, ràng buộc bởi pháp luật, do đó trở thành quyền lực nhà nước công
bằng, nghĩa là phù hợp với pháp luật. Như vậy, thừa nhận nhà nước như một tổ
chức pháp lý của sức mạnh quyền lực công khai là tư tưởng cơ bản của nhà
nước pháp qun.
Thời phong kiến, Nhà nước khơng hoặc ít biết đến pháp quyền. Tuy
nhiên, thời kỳ này ở phương Tây đã có khơng ít các quan điểm, tư tưởng tiến
bộ của các nhà tư tưởng, các nhà thần học góp phần bảo tồn và làm phong phú
thêm các ý tưởng về Nhà nước pháp quyền thời cổ đại. Theo Ôguytxtanh
(357-430)- giáo chủ Bắc Phi cho rằng quyền lực nhà nước phải được thực
hiện như một thứ quyền lực phục vụ. Đó là cơng cụ để thực hiện tình u và
sự cơng bằng. Những người cầm quyền phải đặt quyền uy vào sự phục vụ
nhân dân… Tômát Đa canh (1225-1247) cho rằng trật tự pháp lý đem đến cho
mỗi người cái thuộc về họ và làm cho họ có thể đạt được sự dồi dào về vật
chất, tinh thần. Xã hội công dân trước sau sẽ thay thế xã hội thần dân, vì nó là
sản phẩm của lý trí chứ khơng phải là sản phẩm thuần tuý, bản năng.
Thời kỳ tư bản chủ nghĩa, học thuyết về nhà nước pháp quyền tư sản
từng bước hình thành. Nhà nước tư sản cũng từng bước được thiết kế theo mơ
hình nhà nước pháp quyền trên cơ sở thế giới quan mới của giai cấp tư sản

dân, nhân dân thực hiện chủ quyền của mình thơng qua việc ủy quyền cho các
đại biểu của mình trong bộ máy nhà nước. Khế ước xã hội có thể hiểu là pháp
luật và bộ máy nhà nước do nhân dân tạo ra. Khi nhà nước vi phạm khế ước
xã hội đã thỏa thuận thì nhân dân có quyền thay thế bằng nhà nước mới…; Lý
thuyết của Can tơ (1724-1804): Nhà nước pháp quyền là cộng đồng của
những người phục tùng pháp luật, cần phải ngăn chặn sự lạm quyền của một
hay một số người đối với người khác. Mọi hoạt động của công dân đều phải
tuân thủ pháp luật. Sự phân chia thành các quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp là cần thiết trong một nhà nước, nơi nhân dân vừa là chủ thể, vừa là khách
thể của quyền lực; Lý thuyết của Hêghen (1770-1831): Nhà nước pháp quyền
là sự thể hiện trong thực tế những ý niệm dưới những hình thức nhất định của
tồn tại thực tế của con người. Pháp luật là sự thể hiện của tư tưởng tự do.
Trong xã hội, nhà nước ở vị trí cao nhất và cao hơn cả con người.
Pháp quyền vừa là sự sáng tạo, vừa là sản phẩm của nhà nước. Sự phân quyền

16


trong nhà nước là nhằm đảm bảo tự do công cộng, chống lạm quyền, chuyên
chế, vũ lực và phi pháp.
1.1.2. Tư tưởng của C. Mác, Ph. Ăng ghen và V.I. Lênin về Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Khái niệm nhà nước pháp quyền chưa được sử dụng nhưng những tư
tưởng cốt lõi của nhà nước pháp quyền đã được đề cập sâu sắc theo quan
điểm cách mạng và khoa học trong học thuyết Mác - Lênin về nhà nước và
pháp luật đó là xây dựng một nhà nước kiểu mới hợp hiến, hợp pháp; một chế
độ dân chủ triệt để "là do nhân dân quy định", "tự do của mỗi người là điều
kiện phát triển tự do của tất cả mọi người"; dân chủ là xuất phát từ con người
và pháp luật cũng vì con người; pháp chế nghiêm minh theo hướng giải phóng
con người. Nói cách khác, trong khi đặt vấn đề xây dựng một xã hội mới, một

của sự vận dụng và phát triển những quan điểm tư tưởng của chủ nghĩa Mác Lênin, sự tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới vào xây dựng chính
quyền nhà nước kiểu mới do nhân dân làm chủ
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân là một hệ thống các quan điểm lý luận về bản chất, chức năng, cơ
chế hoạt động, tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ cơng chức nhà nước;
trong đó, quan niệm về nhà nước pháp quyền là một tư tưởng nhất qn, thể
hiện tầm nhìn vượt thời đại và có giá trị lâu bền, thể hiện ở một số điểm sau:
- Theo Hồ Chí Minh, nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ trước hết
phải là một nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Ngay sau khi giành được chính
quyền trong cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời
đọc bản Tun ngơn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào và với thế giới
về sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hịa. Hồ Chí Minh đề ra một
trong sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hịa là:
Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Năm 1919, tám yêu sách của nhân
dân An Nam gửi tới Hội nghị Véc-xây đã có 4 điểm liên quan đến vấn đề
pháp quyền, còn lại liên quan đến công lý và quyền con người. Người yêu cầu
thực dân Pháp phải bãi bỏ chế độ cai trị bằng các sắc lệnh và thay thế bằng

18


các đạo luật, người bản xứ cũng có quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp
luật như người Âu, xóa bỏ hồn tồn các tịa án đặc biệt.
Sau này, bản Yêu sách của nhân dân An Nam được Hồ Chí Minh
chuyển thành "Việt Nam yêu cầu ca", trong đó yêu cầu thứ bảy là:
"Bảy xin hiến pháp ban hành,
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền".
- Nhận thức được tầm quan trọng của luật pháp, từ rất sớm, Hồ Chí
Minh đã đề cập đến vai trò của pháp luật trong quản lý, điều hành xã hội.
Theo Hồ Chí Minh, Nhà nước pháp quyền là nhà nước quản lý đất nước bằng

Pháp luật của ta là bảo vệ quyền lợi cho hàng triệu người, vì
vậy khơng chỉ nhân dân mà các cơ quan nhà nước cũng phải tuân
thủ pháp luật, tơn trọng tính tối cao của pháp luật và phải trừng trị
nghiêm khắc những kẻ phạm tội [37].
- Mặc dù coi trọng pháp luật nhưng Hồ Chí Minh khơng cho rằng
pháp luật là độc tôn trong xã hội. Người nói rằng: nghĩ cho cùng, vấn đề tư
pháp cũng như mọi vấn đề khác trong lúc này là vấn đề ở đời và làm người, ở
đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại bị đau
khổ và áp bức.
- Trong việc xác định rõ giới hạn của các quyền tự do cá nhân, Người
nói: Nhân dân ta hiện nay có tự do, tự do trong kỷ luật. Mỗi người có tự do
của mình, nhưng phải tơn trọng tự do của người khác. Người nào sử dụng
quyền tự do của mình quá mức là phạm đến tự do của người khác, là phạm
pháp. Khơng thể có tự do cho bọn việt gian, bọn phản động, bọn phá hoại tự
do của nhân dân.
- Trong việc xử lý mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ công dân,
pháp luật dân chủ vừa thể hiện các quyền, lợi ích của công dân, nhưng cũng
quy định rõ các nghĩa vụ mà người dân phải thực hiện. Hưởng quyền và thực
hiện nghĩa vụ là thuộc tính hai mặt của một người dân làm chủ nhà nước.

20


- Với Hồ Chí Minh, pháp luật khơng phải là để trừng trị con người mà
là công cụ bảo vệ, thực hiện lợi ích của con người. Tư tưởng pháp quyền của
Người không chỉ dừng lại ở các quyền con người được ghi trong các văn bản
pháp luật mà còn thấm đượm một tấm lòng thương yêu nhân dân, chăm lo cho
ấm no, hạnh phúc của nhân dân, thấm đượm lòng nhân ái, nghĩa đồng bào
theo đạo lý truyền thống ngàn năm của dân tộc Việt Nam.
1.1.4. Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa

thực tế và đòi hỏi của cách mạng Việt Nam "muốn cứu nước và giải phóng dân
tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản" [31, tr. 314].
- Nhà nước hiện nay ta đang xây dựng là nhà nước xà hội chủ nghĩa,
"nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân", lấy liên minh giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do đảng
cộng sản lÃnh đạo. "Thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, giữ
nghiêm kỷ cương xà hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích
của Tổ quốc và của nhân dân" [8, tr. 9]. Nhà nước ta do đó là nhà nước thuộc
phạm trù nhà nước vô sản.
- Xây dựng nhà nước xà hội chủ nghĩa là một quá trình, hơn nữa đối
với nước ta là một quá trình lâu dài. Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xà hội từ
một xuất phát điểm thấp: chưa trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa,
chưa trải qua chế độ dân chủ tư sản. Với xuất phát điểm như vậy chúng ta
không có khả năng tạo lập ngay cơ sở kinh tế - xà hội đầy ®đ cho chđ nghÜa x·
héi, cho nhµ n­íc x· héi chủ nghĩa. Chính vì vậy, xây dựng nhà nước xà hội
chủ nghĩa ở nước ta là một quá trình gắn liền với sự nỗ lực bền bỉ cải biến,
phát triển kinh tế - xà hội theo định hướng xà hội chủ nghĩa.
- Nhà nước hiện nay lấy việc bảo vệ và xây dựng đất nước theo con
đường xà hội chủ nghĩa là nhiệm vụ chủ yếu, hơn nữa lại dựa trên cơ sở là nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trong đó thành phần kinh tế nhà nước giữ
vai trò chủ đạo.
- Nhà nước hiện nay là nhà nước mà các chức năng thống trị chính trị
của giai cấp và chức năng xà hội thống nhất hữu cơ với nhau. Để giữ vững bản

22


chất giai cấp của nhà nước, đảm bảo nhà nước thực sự là nhà nước pháp quyền
của dân, do dân và vì dân chúng ta đà và đang thực hiện các nhiệm vụ:
Thứ nhất: Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy nhà

là trách nhiệm của nhà nước và ngược lại, quyền của nhà nước là trách nhiệm
của công dân.
- Nhà nước pháp quyền tôn trọng và bảo vệ quyền công dân và quyền
con người. Nhà nước pháp quyền không chỉ công nhận và tuyên bố các quyền
tự do của công dân, mà con phải bảo đảm thực hiện và bảo vệ các quyền đó
khi chúng bị xâm hại. Tự do của một người là được làm những gì mà pháp
luật khơng cấm trong khuôn khổ không xâm hại đến tự do của người khác.
1.2. VỊ TRÍ, VAI TRỊ CỦA TỒ ÁN TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

1.2.1. Vài nét về vị trí, vai trị của tồ án trong nhà nước chiếm hữu
nơ lệ và nhà nước phong kiến- nhà nước trước khi có nhà nước pháp quyền
Ngay từ thời Hy Lạp cổ đại các học giả đã khẳng định ở đâu có pháp
luật thì ở đó phải có một hệ thống đảm bảo cho pháp luật được thi hành một
cách nghiêm chỉnh. Sự bảo đảm đó trước hết phải bằng hoạt động của các cơ
quan trong bộ máy nhà nước. Các cơ quan này có chức năng xét xử các hành
vi vi phạm các quy định của pháp luật, của nhà nước. Đó là hệ thống các cơ
quan tư pháp.
Trong nhà nước chiếm hữu nô lệ và nhà nước phong kiến, quyền lực
nhà nước và pháp luật thể hiện sự thống trị của giai cấp chủ nơ và giai cấp địa
chủ, chính vì vậy khơng có sự phân cơng rạch rịi giữa ba nhánh quyền lực lập
pháp, hành pháp và tư pháp như nhà nước pháp quyền đương đại. Quyền tư
pháp (xét xử) cũng như các quyền lập pháp và hành pháp hoàn toàn nằm trong
tay giai cấp thống trị trong xã hội đại diện là nhà Vua. Nhà Vua vừa ban hành
các văn bản pháp luật, vừa tổ chức thực hiện pháp luật, vừa xét xử các hoạt
động vi phạm các văn bản pháp luật do Nhà Vua ban hành. Toàn bộ quyền xét
xử thực chất chỉ là công cụ trong tay giai cấp cầm quyền để đàn áp giai cấp

24





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status