ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT DƯƠNG THỊ MAI
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT
ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Dương Đức Chính HÀ NỘI - 2012
MỤC LỤC Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1
Hệ thống pháp luật, vai trò và vị trí của hệ thống pháp luật
trong nhà nước pháp quyền
24
1.3.1.
Khái niệm hệ thống pháp luật
24
1.3.2.
Vị trí, vai trò của hệ thống pháp luật trong nhà nước pháp quyền
27
1.4.
Những yêu cầu cơ bản của hệ thống pháp luật trong quá trình
xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
28
1.4.1.
Yêu cầu về tính toàn diện của hệ thống pháp luật
28
1.4.2.
Yêu cầu về tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật
29
1.4.3.
Yêu cầu về tính ổn định (tính phù hợp) của hệ thống pháp luật
32
1.4.4.
Yêu cầu về ngôn ngữ và kỹ thuật lập pháp
33
1.4.5.
Yêu cầu về tính áp dụng của hệ thống pháp luật
34
1.4.6.
Ngành Luật hình sự
45
2.1.9.
Ngành Luật tố tụng hình sự
45
2.1.10.
Ngành Luật Tố tụng dân sự
46
2.1.11.
Ngành Luật kinh tế
46
2.2.
Luật quốc tế
46
2.3.
Thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam giai đoạn hiện nay
47
2.3.1.
Thực trạng về tính toàn diện của hệ thống pháp luật
47
2.3.2.
Thực trạng về tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật
52
2.3.3.
Thực trạng về tính phù hợp (ổn định) của hệ thống pháp luật
67
2.3.4.
Thực trạng về tính áp dụng pháp luật
72
2.3.5.
3.2.1.2.
Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng, hiệu
quả xây dựng pháp luật
102
3.2.2.
Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác tổ
chức thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu tính áp dụng của
hệ thống pháp luật
107
3.2.2.1.
Nâng cao chất lượng và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ,
công chức nhà nước trong quá trình áp dụng pháp luật
107
3.2.2.2.
Tiếp tục triển khai mạnh mẽ và thường xuyên công tác
tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường năng
lực tiếp cận của nhân dân đối với hệ thống pháp luật
110
3.2.2.3.
Tăng cường công tác theo dõi thi hành pháp luật; đẩy mạnh
công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện và áp dụng pháp
luật, xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật
112
3.2.2.4.
Củng cố các công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội khác để hỗ
trợ cho pháp luật
114
KẾT LUẬN
116
thống dân chủ của nước ta. Đồng thời, phải đảm bảo tuân thủ những nguyên
tắc, giá trị có tính phổ biến, được thừa nhận chung trong tất cả các nhà nước
pháp quyền; đảm bảo Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được
2
xây dựng gắn với một xã hội công dân, một xã hội dân sự, thừa nhận vị trí tối
thượng của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống xã hội. Do đó, vấn đề hoàn
thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là một vấn đề quan trọng, cơ bản, góp phần xây dựng
thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn:
Trong những năm qua, mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do nhiều
nguyên nhân chủ quan và khách quan nên hệ thống pháp luật của chúng ta
vẫn chỉ từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam. Hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập, hạn chế trong
công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật; trong hoạt động
kiểm tra, giám sát, rà soát và hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; trong
công tác tổ chức và thực hiện pháp luật cũng như trình độ chuyên môn nghiệp
vụ của cán bộ làm công tác ban hành văn bản pháp luật còn hạn chế. Vì vậy,
chất lượng và hiệu quả của hệ thống pháp luật nói chung trong quá trình điều
tiết xã hội chưa cao. Mặt khác, nước ta đang từng bước hoàn thiện xây dựng
mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đặt ra yêu cầu phải
hoàn thiện hệ thống pháp luật là một tất yếu khách quan.
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên, tác giả đã chọn đề tài:
"Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng nhu cầu xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay" để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong nhiều năm qua, tư tưởng nhà nước pháp quyền, về xây dựng
nhà nước pháp quyền nói chung và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam nói riêng có nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu, nổi bật như:
nói chung và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng,
4
hệ thống pháp luật và yêu cầu của hệ thống pháp luật trong nhà nước
pháp quyền.
Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật của nước
ta hiện nay, chỉ ra nguyên nhân của các thực trạng đó. Xác định rõ xu hướng
xây dựng pháp luật trong thời gian tới nhằm hoàn thiện xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp chủ yếu đề hoàn thiện hệ thống
pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu cơ sở
lý luận về nhà nước pháp quyền và hệ thống pháp luật trong nhà nước pháp
quyền, những yêu cầu của hệ thống pháp luật trong nhà nước pháp quyền, Từ
đó, xác định rõ những yêu cầu của hệ thống pháp luật trong xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, thực trạng hệ thống
pháp luật của Việt Nam và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống
pháp luật trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam giai hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là tư tưởng nhà nước pháp quyền và nhà
nước pháp quyền nói chung trên thế giới; dựa trên hệ thống quan điểm của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt
Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Cơ sở thực tiễn của luận văn là các báo cáo đánh giá về chất lượng và
hiệu quả của hệ thống pháp luật, thực tiễn công tác xây dựng và thi hành pháp
luật hiện nay ở nước ta.
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
1.1.1. Khái niệm
Tư tưởng về nhà nước pháp quyền đã hình thành từ rất sớm, nhưng
nhà nước pháp quyền với tư cách là học thuyết chính trị và triết học thì chỉ
xuất hiện ở Tây âu vào thế kỷ XVII - XVIII. Vậy nhà nước pháp quyền là gì?
Có thể khái niệm về nhà nước pháp quyền như sau: Nhà nước pháp
quyền không phải là một kiểu nhà nước, đó chỉ là những giá trị phổ biến, là
biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ, một cách thức tổ chức nhà
nước và xã hội trên nền tảng dân chủ. Đó là một tổ chức công quyền được
thành lập và hoạt động trên cơ sở pháp luật, nhằm đưa lại tự do, hạnh phúc
cho nhân dân, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội công dân, thông
qua hệ thống các thể chế và yêu cầu dân chủ như đề cao chủ quyền nhân dân;
có cơ chế tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước khoa học và hiệu quả; dân
chủ hóa đời sống nhà nước và xã hội…
1.1.2. Những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền
Từ khái niệm về nhà nước pháp quyền, có thể thấy nhà nước pháp
quyền có những đặc điểm cơ bản sau:
- Nhà nước pháp quyền luôn đề cao chủ quyền của nhân dân, tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
7
- Nhà nước pháp quyền đề cao hiến pháp và tính tối cao của hiến
pháp. Hiến pháp phải có tính tối cao so với các văn bản pháp luật khác, các
luật và văn bản dưới luật phải tuân thủ hiến pháp cả về nội dung và hình thức,
cả về thủ tục ban hành và hiệu lực tác động.
- Trong nhà nước pháp quyền pháp chế luôn được tăng cường. Trong
nhà nước pháp quyền, mọi hoạt động của nhà nước, các cơ quan nhà nước,
các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân
và tư pháp; có cơ chế kiểm soát về mặt nhà nước và xã hội trong việc thực
hiện các quyền lực đó.
Quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng phải có sự phân công phối
hợp phù hợp giữa cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp và tư pháp. Cơ chế phân công, phối hợp phải rõ ràng và có hiệu
quả, phải bảo đảm sự phân biệt rõ ràng và sự phối hợp có hiệu quả giữa ba
quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Có như vậy, mới có thể thực hiện được
sự kiểm tra, giám sát các hoạt động lao động quyền lực, có thể hạn chế được
sự lạm dụng quyền lực, bảo vệ được lợi ích hợp pháp của con người khỏi bị
xâm hại từ phía quyền lực nhà nước.
- Giải quyết hợp lý mối quan hệ qua lại giữa nhà nước và công dân.
Trong quan hệ với công dân, nhà nước là một bên nhưng lại là chủ thể có
quyền ban hành pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được thực hiện, là chủ thể
thực hiện việc xét xử, phán quyết mỗi khi có tranh chấp, vi phạm. Do vậy,
nhà nước phải bị ràng buộc bởi chính pháp luật đã được nhà nước ban hành từ
trước. Công dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, trao quyền cho nhà nước,
nhưng hành vi của công dân lại là đối tượng chịu sự quản lý của nhà nước. Do
vậy, nhà nước và công dân phải có mối quan hệ qua lại và tôn trọng lẫn nhau:
công dân phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với nhà nước; nhà
9
nước phải bảo đảm các quyền, tự do cá nhân, lợi ích, danh dự của công dân,
tạo điều kiện để chúng được thực hiện và không bị xâm hại.
Trong nhà nước pháp quyền, mối quan hệ này diễn ra theo hướng nhà
nước luôn chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Mọi sự phấn đấu, cố gắng của
nhà nước và xã hội phải vì con người, mỗi công dân và xã hội luôn tôn trọng
và bảo vệ pháp luật. Công dân có quyền, đồng thời có khả năng buộc nhà cầm
quyền phải tôn trọng và thực hiện đúng pháp luật đã ban hành. Tranh chấp
giữa nhà nước và công dân phải do tòa án giải quyết. Tòa án thì phải độc lập,
vô tư có cơ chế phù hợp, bình đẳng để tất cả mọi công dân đều có thể tiếp cận
2001 đã quy định:
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là
liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ
tri thức.
Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối
hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập
pháp, hành pháp và tư pháp [27].
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội (bổ sung phát triển năm 2011) đã xác định 8 đặc trưng của xã hội xã hội
chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng trong đó có đặc trưng: "Có Nhà nước
pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng cộng sản Việt
Nam lãnh đạo" [13]. Một trong những phương hướng để thực hiện mục tiêu
tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là "xây dựng Nhà nước pháp
11
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân" [13]. Đại hội
Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 01/2011) đã khẳng định rõ
hơn một bước tất yếu phải hoàn thiện và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của chúng ta.
Như vậy, đối với chúng ta nói xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa là nói tới một phương thức tổ chức nền chính trị xã hội chủ nghĩa
và Nhà nước xã hội chủ nghĩa mà mục đích không ngừng duy trì bản chất giai
cấp công nhân và tính nhân dân của nhà nước, phát huy cao độ tính dân chủ
xã hội chủ nghĩa, làm cho nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh, nâng cao
hiệu lực và hiệu quả quản lý và điều hành.
1.2.2. Xây dựng Nhà nước pháp quyền là một tất yếu, bắt nguồn
từ chính lịch sử xây dựng và phát triển nước ta
Có thể nói, quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
định và hành động của các thiết chế quyền lực đều phải bắt nguồn từ ý chí
đích thực của nhân dân. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngay
từ khi thành lập đã thể hiện tính chất nhân dân và cách mạng sâu sắc, bởi vì
nó chính là thành quả trực tiếp của Cách mạng tháng Tám do toàn thể nhân
dân Việt Nam thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và
Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhà nước ta là đại diện của nhân dân, do nhân dân
bầu lên, và thực hiện nhiệm vụ phục vụ lợi ích của nhân dân và dân tộc. Tính
pháp quyền cao nhất của quyền lực nhà nước ở nước ta thể hiện ở việc khẳng
định nhà nước là của nhân dân.
Quyền làm chủ của nhân dân được thể hiện, nhân dân không chỉ tạo
lập nên Nhà nước, trực tiếp và thông qua các cơ quan đại diện của mình thực
thi quyền lực, mà còn thông qua các hình thức khác để tham gia vào hoạt
động quản lý của Nhà nước, tác động mạnh đến quá trình hoạch định chính
sách đường lối của Đảng và Nhà nước, cũng như các hoạt động thuộc phạm vi
13
nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp). Điều 53 - Hiến pháp Việt Nam
khẳng định: "Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội…"
Quyền làm chủ của nhân dân còn được thể hiện ở chỗ các thiết chế
chính trị và quyền lực của Nhà nước đều đặt dưới sự giám sát của nhân dân.
Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (Khóa XI) ghi rõ:"Đảng Cộng sản Việt
Nam là Đảng cầm quyền gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của
nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng" [14]. Đối với Nhà nước,
Hiến pháp năm 2001 quy định các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên
chức nhà nước phải "chịu sự giám sát của nhân dân" [27, Điều 8] và đối với
các đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, họ có thể bị bãi nhiệm khi
không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân (Điều 7).
Đặc trưng thứ hai: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, ra sức tôn trọng và bảo vệ
Hiến pháp
Điều 4:
Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công
nhân Việt Nam (…) là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến
pháp và pháp luật [25].
Điều 12:
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn
vị vũ trang và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến
pháp và pháp luật…Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị
xử lý theo pháp luật [25].
15
Điều 18: "Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch
và pháp luật" [25]. Điều 26: "Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc
dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách" [25].
Điều 57: "Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của
pháp luật" [25].
Tư duy lý luận của Đảng ta về vị trí, vai trò của pháp luật trong quản
lý nhà nước và xã hội có sự phát triển ngày càng hoàn thiện theo hướng bảo
đảm cho Hiến pháp và các đạo luật giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống pháp
luật và pháp luật thực sự là công cụ chủ yếu trong quản lý nhà nước và xã hội.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII khẳng định điều quan trong để phát huy
dân chủ là xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa, nâng cao dân trí và ý thức tuân thủ pháp luật của nhân dân.
Nhiệm vụ trọng tâm về xây dựng pháp luật phục vụ công cuộc đổi mới là
"Tiếp tục đổi mới, bổ sung và đồng bộ hóa hệ thống pháp luật kinh tế, đặc
biệt chú trọng đổi mới và bổ sung các luật thuế, đồng thời "tăng cường giáo
Nhà nước ta đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, góp
phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển kinh tế thị trường xã hội
chủ nghĩa và đổi mới hệ thống chính trị. Pháp luật đã bước đầu trở thành công
cụ chủ yếu để quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Nguyên tắc nhà nước pháp
quyền từng bước được đề cao và phát huy hiệu quả trên thực tế.
Đặc trưng thứ tư: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
tôn trọng và bảo vệ quyền con người, các quyền tự do của công dân, giữ vững
mối liên hệ dân chủ giữa nhà nước và công dân, giữa nhà nước và xã hội
Sau khi khẳng định bản chất dân chủ của Nhà nước ta, thì vấn đề được
Đảng ta quan tâm là hình thức dân chủ để bảo đảm thực hiện trên thực tế.
Trong điều kiện hiện nay, hình thức thực hiện dân chủ là rất quan trọng, Đảng
ta xác định dân chủ dựa trên nguyên tắc: dân chủ xã hội chủ nghĩa là vấn đề
17
thuộc bản chất của Nhà nước. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi
lĩnh vực. Quyền làm chủ đó được thể chế hóa bằng pháp luật…Dân chủ đi đôi
với kỷ cương, kỷ luật, phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra" đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Thực hiện
tốt cơ chế làm chủ của nhân dân thông qua đại diện (là cơ quan dân cử và các
đoàn thể), làm chủ trực tiếp bằng các hình thức nhân dân tự quản, bằng việc
xây dựng và thực hiện các quy ước, hương ước tại cơ sở.
Trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, có tình trạng vừa thiếu dân
chủ, vừa thiếu kỷ cương. Quyền làm chủ của nhân dân chưa được tôn trọng và
phát huy đầy đủ. Trong xã hội còn không ít hiện tượng mất dân chủ, dân chủ
hình thức, có nơi còn diễn ra nghiêm trọng, nhiều nỗi oan ức của người dân
chưa được giải tỏa, vẫn còn tình trạng bắt oan, xử oan người vô tội. Mặt khác,
trật tự xã hội yếu kém, hiện tượng coi thường kỷ cương, bất chấp pháp luật,
các tệ nạn xã hội chưa giảm. Cơ chế và pháp luật bảo đảm dân chủ hóa tuy đã
có tiến bộ nhưng vẫn còn nhiều vấn đề chưa đầy đủ và cụ thể. Việc thực hiện
các hình thức dân chủ trực tiếp và hình thức dân chủ gián tiếp còn mang tính
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định nó là một tất yếu.
Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
năm 1991, Đảng ta đã khẳng định sự tồn tại của ba quyền và sự phân công,
phối hợp giữa ba phạm vi quyền lực đó. Đến Hội nghị Trung ương lần thứ
tám (khóa VII - năm 1995), quan niệm của Đảng về sự tồn tại của 3 quyền đã
có sự bổ sung quan trọng: quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công
và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba
quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Cương lĩnh xây dựng đất nước năm 2001
(sửa đổi, bổ sung Cương lĩnh năm 1991) khẳng định: "Quyền lực nhà nước là
thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong
việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp" [13, tr. 85].
19
Ở Việt Nam quan điểm như thế nào về tính thống nhất của quyền lực
nhà nước, sự phân công phối hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp cần được xác định trong mối quan hệ quyền lực nào: thống nhất ở chỗ
nào và độc lập, phân công, phối hợp như thế nào.
Ở nước ta xuất phát từ bản chất của Quốc hội với tính cách là cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất và cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân. Quốc
hội cần nắm giữ những quyền hạn mà việc thực thi chúng có ý nghĩa quyết
định đối với toàn bộ hoạt động Nhà nước.
Quyền quyết định các vấn đề quan trọng, trong đó cần chú trọng đến
quyền quyết định chính sách tài chính, thực tiễn tiền tệ quốc gia, quyết định
dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách nhà nước, phê chuẩn quyết
toán ngân sách nhà nước… Vấn đề ngân sách nhà nước luôn có ý nghĩa quyết
định đối với toàn bộ hoạt động Nhà nước. Do vậy, quyền quyết định ngân
sách nhà nước được khẳng định chỉ thuộc về Quốc hội.
Quốc hội là một cơ quan thực hiện quyền lập pháp. Do vậy, quyền làm
luật là thẩm quyền cơ bản nhất của Quốc hội. Để thực hiện quyền này, đảm
bảo vai trò quyết định của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động lập pháp, thông
Tăng cường quản lý tập trung thống nhất của Chính phủ trên các vấn
đề quản lý vĩ mô, không can thiệp trực tiếp việc điều hành hoạt động sản xuất
kinh doanh. Thực hiện đúng và tốt hơn chức năng quản lý nhà nước đích thực
trong kinh tế thị trường; phát huy mạnh mẽ tính năng động tích cực và hạn
chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường. Bảo đảm tính thống nhất, tập trung
của hệ thống hành chính, phát huy tính năng động, sáng tạo của địa phương;
Chính phủ và các cơ quan hành chính các cấp tập trung làm tốt công tác quản
lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực
Các cơ quan tư pháp: Tòa án nhân dân ở nước ta được tổ chức theo
nguyên tắc kết hợp giữa thẩm quyền xét xử với tổ chức theo đơn vị hành