Tiểu luận tình huống quản lý nhà nướcMột số vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hoá ở địa phương qua tình huống vi phạm quyền nhân thân của nghệ sĩ - Pdf 43

LỜI MỞ ĐẦU
Bảo vệ quyền nhân thân, thông tin, hình ảnh cá nhân, tổ chức nhất là những
người của công chúng, chính trị gia,... trong điều kiện của nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế là vấn đề quan trọng đòi hỏi các
cấp, các ngành, các địa phương và mọi người dân phải nghiêm chỉnh chấp hành và
tuân thủ triệt để các quy định của pháp luật nhằm một mặt bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của cá nhân, tổ chức; mặt khác, góp phần củng cố, tăng cường pháp chế xã hội
chủ nghĩa chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Bên cạnh, những nỗ lực to lớn của Trung
ương và địa phương trong cải cách hành chính, kiện toàn tổ chức bộ máy hành
pháp,... nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về mọi mặt, thì vẫn còn
không ít những yếu, kém khuyết điểm về năng lực, phẩm chất, thái độ, ý thức trách
nhiệm của cán bộ, công chức, nhất là cán bộ, công chức trong lĩnh vực quản lý nhà
nước về văn hoá,Thể thao và Du lịch ở địa phương, ảnh hưởng đến uy tín của cơ
quan nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân hoặc tổ chức.
Thực trạng về tình trạng “buông lỏng quản lý”, “thiếu và khó kiểm soát” hay
thậm chí là “tắc trách” của cơ quan quản lý nhà nước, người có thẩm quyền trong
hoạt động văn hoá,Thể thao và Du lịch đã có những tác động tiêu cực đến mọi mặt,
như: Ở một số địa phương vẫn còn nhiều hình ảnh chưa văn hoá ở những nơi rất văn
hoá; sự phát triển của hoạt động kinh doanh dịch vụ trái phép trong lĩnh vực văn hoá
như danh lam, thắng cảnh, di tích, lịch sử, sách, báo, băng, hình, karaoke,...; việc giới
báo chí, truyền thông tự do khai thác đời tư cá nhân một cách quá mức, tự ý thổi
phồng sự thật nhằm thu hút sự chú ý của độc giả, công luận đã tạo ra những luồng dư
luận không tốt về đời tư, hình ảnh của một cá nhân hay một tố chức;... đã làm xấu đi
và ảnh hưởng đến tư tưởng, lối sống buông thả, xa hoa,... của một bộ phận không nhỏ
các lứa tuổi trong xã hội hiện nay. Những vấn đề này, đòi hỏi phải được quản lý và
quản lý có hiệu quả trong tình hình mới.
Trước thực trạng trên, cùng với những yêu cầu về nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lý nhà nước ở địa phương theo tinh thần của Nghị quyết số 17-NQ/TW Hội nghị
lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X ngày 1/8/2007 về đẩy mạnh cải
cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước; những


hình được chỉnh sửa qua kỹ thuật số để mọi người biết đến cô ca sĩ này vừa đẹp lại
2


vừa hát hay nhưng không may mắn bị “đánh nhầm”. Một thời gian sau, thấy cách
“lăng xê” kiểu này không hiệu quả, nhà báo Q quyết định tìm đến C để “lăng xê”
rộng rãi hơn. Khi nhà báo Q tìm đến nhà ca sĩ C, tình cờ bắt gặp cô ca sĩ này “đang
thân mật” với Trưởng đoàn văn công tỉnh B, nhà báo Q liền dùng máy di động để
quay toàn bộ “cảnh nóng” mà cô ca sĩ này thể hiện và về nhà sắp xếp lại, bố trí nội
dung để tung lên mạng. Sự việc đã được cư dân trên mạng “ủng hộ” nhiệt tình bằng
cách phát tán ở nhiều trang thảo luận, trang web cá nhân, blog,... với những hình ảnh
phản cảm mang nội dung “đồi truỵ” về cảnh nóng này. Chỉ khi người yêu C là Đào
Văn T đến nhà và tuyên bố khước từ hôn ước mà hai gia đình đã định ngày cưới,.. thì
C mới té ngửa mọi chuyện... Nguyễn Thị C, tìm đến nhà báo Q để đòi bồi thường về
danh dự của mình,...
II. Xác định mục tiêu xử lý tình huống
Mục tiêu xử lý tình huống tiết lộ BMĐT và phát tán hình ảnh xấu độc khi chưa
được sự đồng ý của nghệ sĩ là yêu cầu quan trọng đặt ra trong tình huống này. Về cơ
bản có thể thấy, tình huống đặt ra những đòi hỏi cần phải giải quyết như:
Thứ nhất, xử lý nghiêm khắc những vi phạm của nhà báo khi tự ý tung tin về
đời tư của ca sĩ C và vi phạm các quy định về tuyên truyền văn hoá phẩm độc hại làm
bài học để “răn đe” những hành vi vi phạm khác tương tự trong lĩnh vực này ở mọi
kênh thông tin hiện nay là rất cần thiết.
Thứ hai, cần tổ chức kiểm điểm nghiêm túc đối với bộ phận được giao trách
nhiệm quản lý của các cơ quan như Thông tin và truyền thông với Văn hoá, Thể thao
và Du lịch để từ đó tìm ra tiếng nói chung trong việc phối hợp cùng quản lý có hiệu
quả hoạt động tràn lan của các loại hình báo chí, thông tin không văn hoá, văn hoá
xấu độc,... ở mọi loại hình, mọi kênh thông tin.
Thứ ba, làm thế nào để cơ quan quản lý nhà nước về văn hoá, Thể thao và Du
lịch quản lý có hiệu quả các kênh thông tin một cách có định hướng, có trọng tâm

sự (Ðiều 38), Luật Giao dịch điện tử (khoản 2 Điều 46) quy định quyền BMĐT của
cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ; việc thu thập, công bố thông tin, tư
liệu về đời tư cá nhân phải được người đó đồng ý, trừ trường hợp pháp luật có quy
định khác; thư từ, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân
được bảo đảm an toàn, bí mật và việc kiểm soát các loại này được thực hiện khi pháp
luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
4


Điều 10 Nghị định của Chính phủ số 56/2006/NĐ-CP ngày 06/6/2006 về xử
phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hoá thông tin quy định phạt tiền từ 1
triệu đồng đến 2 triệu đồng đối với hành vi tiết lộ BMĐT khi chưa được sự đồng ý
của người đó hoặc thân nhân của người đó trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác, nhưng Thông tư của Bộ Văn hoá và thông tin (nay gọi là Bộ Văn hoá, Thể Thao
và Du lịch) số 12/2007/TT-BVHTT ngày 29/5/2007 hướng dẫn thực hiện Nghị định
của Chính phủ số 56/2006/NĐ-CP ngày 06/6/2006 về xử phạt vi phạm hành chính
trong hoạt động văn hoá thông tin không hề có giải thích nào về thuật ngữ “BMĐT”
và như thế nào được coi là “tiết lộ BMĐT”.
Riêng Bộ luật Hình sự (Điều 125) có quy định: Người nào có hành vi trái pháp
luật xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác đã bị xử
lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì tùy trường hợp
sẽ bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 5 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không
giam giữ đến một năm, phạt tù đến hai năm.
Những khiếm khuyết nói trên đã dẫn đến nhiều quan điểm khác nhau trong
việc xác định BMĐT của cá nhân và phạm vi của nó. Do đó, việc đưa thông tin và
nội dung của thông tin không cần sự đồng ý của cá nhân, nhất là nghệ sĩ và sự kiểm
duyệt của cơ quan quản lý nhà nước về văn hoá. Tình huống trên chỉ rõ, việc ca sĩ C
muốn “lăng xê” mình cũng bằng cách tự bôi nhọ vào danh dự của mình thông qua
nhà báo Q hay việc nhà báo Q làm vẫn tưởng mình đang “lăng xê” cho ca sĩ C nên cứ
những cái gì “hót nhất”, “nóng nhất” nhằm thu hút được độc giả là tiến hành làm mà

nhận định mang tính chủ quan tuỳ thuộc vào cảm nhận của họ (yêu, ghét, đồng tình
hay không đồng tình) mà để bảo vệ hình ảnh của mình trong điều kiện thiếu cơ chế
bảo vệ như hiện nay thì im lặng chịu đựng là cách lựa chọn tốt nhất hoặc thông qua
một tờ báo khác để phản hồi lại các thông tin đó, dẫn đến báo này nói thế này, báo kia
lại nói thế khác về cùng một nghệ sĩ đã không còn hiếm thấy nữa. Mục đích của hành
động này có rất nhiều nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn là để thu lợi cho cá nhân và toà
báo của mình, bất chấp hậu quả của các thông tin được tung ra đối với cá nhân người
nghệ sĩ và với công chúng.
Thứ ba, xuất phát sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ thông tin.
Trong điều kiện bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay, nếu quản lý không tốt sẽ
bị nhiều đối tượng lợi dụng để truyền bá, tuyên truyền lối sống, hành vi xấu độc vào
môi trường xã hội Việt Nam. Việc lợi dụng công nghệ thông tin là phương tiện để
6


quảng bá, tuyền truyền về hình ảnh như trường hợp của cô ca sĩ C và nhà báo Q là
trường hợp không phải là điển hình, hưu hữu mà nó rất phổ biến trong điều kiện ở
Việt Nam hiện nay. Tình huống trên cho thấy: chỉ cần một chiếc điện thoại di động có
thể lưa giữ hình ảnh hay quay một đoạn vioclip và chỉ một “click” có thể đưa thông
điệp “mát mẻ” của cô ca sĩ C đến với xã hội và thậm chí có thể bị phát tán ra ngoài
phạm vi quốc gia. Do vậy, công nghệ thông tin phát triển chính là con dao hai lưỡi
cần phải có biện pháp để quản lý về thông tin, nhất là nội dung của các thông tin đó.
b) Nguyên nhân chủ quan
Tình huống trên, có thể đánh giá thông qua một số nguyên nhân chủ quan (phụ
thuộc vào ý chí chủ quan của con người) như sau:
Thứ nhất, hạn chế về nhận thức của cô ca sĩ C và nhà báo Q. Nhận thức về
quyền nhân thân, quyền về hình ảnh của ca sĩ C và nhà báo Q còn yếu hay thậm chí là
không có hiểu biết đã dẫn đến việc quyết định lựa chọn cách “tự bôi xấu” mình, “nói
xấu người khác” để gây sự chú ý của dư luận. Điều này thật đáng trách nhưng cũng
cần phải xử lý nghiêm khắc. Nếu như, cô ca sĩ C có sự hiểu biết thì không đến nỗi

gây bất bình dư luận, đi ngược lại với giá trị dân tộc, đạo đức người nghệ sĩ nhưng
vẫn “tặc lưỡi” cho qua.
2. Hậu quả
Việc báo chí đưa các thông tin về đời tư cá nhân của nghệ sĩ dẫn đến nhiều hậu
quả xấu cho cá nhân người nghệ sĩ cũng như cho xã hội và công tác quản lý nhà nước
về văn hoá. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến nhân thân của cá nhân ca sĩ C
Việc hình ảnh bị “bôi nhọ” qua đoạn vioclip là cái giá quá đắt cho sự mạo hiểm
thăng tiến của ca sĩ C. Những thiệt hại về danh dự, nhân phẩm mà bản thân cô ca sĩ
C, gia đình cô sẽ phải gánh chịu cùng với sự lên án của người thân, họ hàng, thôn
xóm và xã hội.
Thứ hai, về phía xã hội.
Đoạn vioclip có nội dung không lành mạnh trên, vô hình chung đã làm những
người biết nó, xem nó bị ảnh hưởng đến hành vi, ý thức và thái độ. Đây có thể coi là
hành động tuyên truyền văn hoá phẩm độc hại và mức độ ảnh hưởng có nó thì vô
cùng to lớn nhất là đối với tầng lớp thanh, thiếu niên trong việc học tập: từ cách lăng
xê,... đến những hành vi “đồi truỵ” mà đoạn phim tác động vào.
8


Thứ ba, về phía quản lý nhà nước. Những hệ luỵ mang tính dây truyền trong
hoạt động quản lý nhà nước về văn hoá ở địa phương là mối đe doạ nguy hiểm nhất
đến hiệu quả quản lý nhà nước. Sự thờ ờ của Sở, của cán bộ, công chức trong Sở về
“buông lỏng” kiểm soát nội dung đối với hoạt động đưa tin của các phương tiện
thông tin đại chúng,... là điều kiện gặm nhấm đạo đức, phẩm chất và năng lực của cán
bộ, công chức trong thực thi công vụ của mình. Đồng thời, sự thiếu tin tưởng của
người dân (những người phản đối cách lăng xê trên) đối với cơ quan quản lý nhà
nước và cán bộ, công chức gây nên tình trạng thiếu hợp tác và đồng thuận trong quản
lý nhà nước về văn hoá ở địa phương.
IV. Xây dựng phương án, phân tích và lựa chọn phương án giải quyết tình

+ Thường xuyên thanh tra định kỳ và đột xuất có hiệu quả
-Nguồn lực thực hiện phương án:
+ Nguồn kinh phí thực hiện phương án không đáng kể vì đây là hoạt động
thường xuyên theo nhiệm vụ được phân công, phân cấp.
+ Cơ quan thực hiện: Chánh thanh tra Sở Văn hoá-Thể thao và Du lịch tiến
hành chỉ đạo, tổ chức các đợt thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch và thanh tra viên và
các bộ phận có liên quan tiến hành theo nhiệm vụ được giao.
+ Thời gian thực hiện: định kỳ 2 năm một lần/cơ quan, tổ chức và một năm tiến
hành nhiều đợt thanh tra, kiểm tra đột xuất.
* Phương án 3: Tiến hành thanh tra và xử lý nghiêm vi phạm cơ quan báo
tỉnh B, nhà báo Q và ca sĩ C
-Mục tiêu của phương án: Nhằm xử lý những hành vi vi phạm trong việc phát
tán thông tin nó nội dung không lành mạnh, không đúng quy định của Nhà nước là
bài học để răn đe các trường hợp khác ở địa phương.
-Nội dung chính thực hiện phương án:
+ Tiến hành ban hành văn bản để thanh tra
+ Tiến hành thanh tra, xác định mức độ vi phạm và xử lý vi phạm
-Nguồn lực thực hiện phương án:
+ Nguồn kinh phí thực hiện phương án không đáng kể vì phải chi cho cộng tác
viên (kỹ thuật viên) trong trường hợp xác định hành vi vi phạm.
+ Cơ quan thực hiện: Chánh thanh tra, thanh tra viên, chính quyền cơ sở nơi
toà báo tỉnh B có trụ sở, nơi nhà báo và ca sĩ cư trú; và cộng tác viên.
+ Thời gian tiến hành: từ 20 đến 30 ngày.
10


4.2. Phân tích và lựa chọn phương án giải quyết
Ba phương án trên đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định. Song,
chúng đều có một mục đích chung là nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà
nước trong lĩnh vực văn hoá. Tuy nhiên, tình huống trên đòi hỏi phải được giải quyết

Quyết định thanh tra được lưu và giử đến các cơ quan liên quan, 01 ngày làm
việc.
Bước 2: Tiến hành tổ chức thanh tra đột xuất theo kế hoạch
Đây là bước quan trọng nhằm xác định hành vi vi phạm của các đối tượng về
tuyên truyền nội dung không lành mạnh. Có thể tổ chức thanh tra tại 03 nơi trong 01
ngày hoặc cũng có thể tiến hành thanh tra thành 03 ngày, cụ thể như:
-Tiến hành thanh tra tờ báo tỉnh B
-Tiến hành thanh tra nhà báo Q
-Tiến hành thanh tra ca sĩ C
Nhằm làm sáng tỏ hành vi cố ý tung tin sai sự thật, tuyên truyền phim ảnh
không lành mạnh trên internet,... Mỗi cuộc thanh tra cần tiến hành lập biên bản, yêu
cầu người vi phạm ký và đề xuất mức độ xử lý.
Bước 3: Chánh thanh tra mời những người vi phạm (theo biên bản thanh
tra đột xuất) đến trụ sở để giải quyết
Khâu này một lần nữa nhằm xác định lại tính chân thực, khách quan về các vi
phạm mà thanh tra viên lập. Đồng thời, đưa ra quyết định xử lý cuối cùng. Việc mời
các cá nhân và tờ báo tỉnh B có thể viết giấy vào một buổi làm việc (trừ trường hợp
các chủ thể này không đến thì phải mời không quá 03 lần).
Bước 4: Ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và tổ chức thực hiện
quyết định (tổ chức cưỡng chế nếu có)
Đây là bước cuối cùng trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính do cơ quan
thanh tra tiến hành. Do vậy, căn cứ vào Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính và
thẩm quyền ban hành, Chánh thanh tra ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối
với đại diện hợp pháp tờ báo tỉnh B, nhà báo Q và ca sĩ C.
Tiến hành giao cho thanh tra viên tiến hành thực hiện quyết định xử phạt vi
phạm hành chính đã ban hành.
VI. Kiến nghị
12



13


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Bộ Văn hoá và thông tin, Thông tư số 12/2007/TT-BVHTT ngày 29/5/2007 hướng
dẫn thực hiện Nghị định của Chính phủ số 56/2006/NĐ-CP ngày 06/6/2006 về xử
phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hoá thông tin;

2.

Chính phủ, Nghị định số 56/2006/NĐ-CP ngày 06/6/2006 về xử phạt vi phạm hành
chính trong hoạt động văn hoá thông tin;

3.

Chính phủ, Nghị định số 51/2002/NĐ-CP ngày 26/4/2002 quy đinh chi tiết thi hành
Luật báo chí và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật báo chí

4.

Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật Dân sự năm 2005;

5.

Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật Hình sự năm 1999;

6.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status