Bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề thủ công truyền thống ở Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay - Pdf 43

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG.................................................................................
MỞ ĐẦU............................................................................................................
1. Tính cấp thiết của đề tài..................................................................................
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu.....................................................................
2.1. Các công trình nghiên cứu về nghề thủ công truyền thống Thanh Hóa....5
2.2. Các công trình nghiên cứu về vấn đề phát huy giá trị của các làng nghề
thủ công truyền thống ở Thanh Hóa................................................................7
3. Mục tiêu nghiên cứu.......................................................................................
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu..................................................................
4.1. Đối tượng nghiên cứu...............................................................................8
4.2. Phạm vi nghiên cứu..................................................................................8
5. Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng............................
5.1. Cách tiếp cận đề tài...................................................................................9
5.2. Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng............................................10
6. Đóng góp của đề tài......................................................................................
6.1. Về lý luận................................................................................................10
6.2. Về thực tiễn.............................................................................................11
7. Bố cục của đề tài...........................................................................................
CHƯƠNG 1......................................................................................................
1.1. Một số khái niệm liên quan đến làng nghề thủ công truyền thống............
1.1.1. Nghề truyền thống...............................................................................12
1.1.2. Làng nghề thủ công truyền thống........................................................13
1.1.3. Giá trị làng nghề thủ công truyền thống..............................................18
1.2. Quan điểm về bảo tồn và phát huy giá trị của làng nghề thủ công
truyền thống......................................................................................................
1.3. Bài học kinh nghiệm bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề thủ công
truyền thống trong và ngoài nước.....................................................................
1.3.2. Bài học kinh nghiệm từ một số địa phương trong nước......................30
CHƯƠNG 2......................................................................................................
KHÁI QUÁT VỀ LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG................

2


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Số lượng, loại hình nghề, làng nghề ở Thanh Hóa tính đến tháng
11/2015
Bảng 3.2: Những làng nghề thủ công truyền thống đã được công nhận tính
đến tháng 11 năm 2015
Bảng 3.3: Bảng 3.3: Phân bố nghề, làng nghề đã được công nhận trên địa bàn
tỉnh Thanh Hóa đến tháng 11/2015
Bảng 3.4: Tổng hợp cơ sở sản xuất kinh doanh trong làng nghề truyền thống
trên địa bàn tỉnh (tính đến tháng 11 năm 2015)
Bảng 3.5: Số lượng lao động các nhóm làng nghề thủ công truyền thống (tính
đến tháng 11/2015)
Bảng 3.6: Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn

3


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở Thanh Hóa, do đặc điểm về điều kiện tự nhiên và lịch sử, văn hóa, các
nghề và làng nghề thủ công, các trung tâm sản xuất, chế tác được hình thành từ
rất sớm. Theo kết quả thống kê bước đầu, Thanh Hóa có gần 500 làng có nghề,
trong đó có 127 làng nghề với 59 làng nghề đã được công nhận. Trong số 59
làng nghề đã được công nhận có 41 làng nghề truyền thống. Nhiều làng nghề
có lịch sử lâu đời và nổi tiếng trên cả nước, như chế tác đá An Hoạch (TP.
Thanh Hóa), gốm Lò Chum (TP. Thanh Hóa), đúc đồng Trà Đông (Thiệu Hóa),
dệt nhiễu Hồng Đô (Thiệu Hóa); chiếu cói Nga Sơn; bánh gai Tứ Trụ (Thọ
Xuân); nước mắm Do Xuyên (Tĩnh Gia); rèn Tất Tác (Hậu Lộc), mộc Đạt Tài

Thanh Hóa nhiều về số lượng, nhưng chưa mạnh về thương hiệu, quy mô nhỏ,
phân tán. Trải qua những thăng trầm của lịch sử và sự canh tranh của những
loại vật liệu mới, công nghệ mới khiến nhiều làng nghề ở Thanh Hóa không thể
trụ vững và có nguy cơ bị mai một, thất truyền. Kinh tế làng nghề ở Thanh Hóa
vẫn mang nét cục bộ, được duy trì thông qua việc nối truyền của các thế hệ,
dựa trên đúc rút kinh nghiệm là chủ yếu. Bên cạnh đó, sản phẩm làng nghề
chưa thể vươn ra thị trường trong nước và quốc tế, do đó hiệu quả kinh tế còn
thấp. Cho đến nay, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa chưa có một làng nghề truyền
thống nào trở thành điểm du lịch nổi tiếng hấp dẫn du khách.
Đề tài "Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị làng nghề thủ
công truyền thống ở Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay" là một đề tài mới, có
sự kế thừa song không trùng lặp với các công trình đã công bố.
Vì những lý do trên, việc nghiên cứu để đề xuất những giải pháp có tính
khoa học và khả thi nhằm phát huy giá trị lịch sử - văn hoá của làng nghề thủ
công truyền thống ở các địa phương nói chung, Thanh Hóa nói riêng trong giai
đoạn hiện nay là vấn đề bức thiết, góp phần "xây dựng nền văn hoá tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc" như Nghị quyết Trung ương V khoá VIII đã chỉ rõ.
Đồng thời, việc thực hiện đề tài sẽ góp phần thực hiện Chương trình Phát triển
du lịch - là một trong 5 chương trình trọng tâm của Nghị quyết Đại hội đại biểu
Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2015-2020.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1. Các công trình nghiên cứu về nghề thủ công truyền thống Thanh Hóa
Trong thời kỳ Pháp thuộc, một số học giả Pháp đã quan tâm đến vấn đề
văn hóa tộc người xứ An Nam. Charles Robequain trong cuốn Tỉnh Thanh Hóa
(Le Thanh Hoa) (Nxb Thanh Hóa, 2012) đã dành một chương (chương IV: Thợ
thủ công) để khảo cứu các nghề thủ công chính (nghề dệt, đan lát, mộc, luyện
kim, đẽo đá, gốm) và các nghề thứ yếu (làm gạch, nung vôi, chế biến thực
phẩm, đan quạt, làm đồ thờ, làm trang sức) ở Thanh Hóa. Tuy các thông tin về
các làng nghề còn sơ lược và tản mạn do đặc trưng cuốn sách mang tính chất
tổng quan về tỉnh Thanh Hóa nhưng lại là những ghi chép thực tế và bước đầu

bằng sông Mã (Nxb Từ điển bách khoa, 2009) của tác giả Hà Mạnh Khoa. Các
làng nghề thủ công được nghiên cứu, khảo tả trong công trình này là: nghề
chạm khắc đá ở An Hoạch (huyện Đông Sơn), nghề đúc đồng ở làng Trà Đông
(huyện Thiệu Hóa), nghề dệt ở làng Phú Khê (huyện Hoằng Hóa). Trong công
trình này, tác giả đã đưa ra nhận định khái quát về sự hình thành và phát triển
của các nghề, làng nghề thủ công ở đồng bằng sông Mã. Đối với từng nghề cụ
thể, tác giả đề cập đến quá trình hình thành và phát triển của làng nghề, lực
lượng và công cụ chế tác, phương pháp khai thác nguyên liệu, phương pháp, kỹ
thuật chế tác, những sản phẩm tiêu biểu, quần thể di tích liên quan.

6


Một số công trình, bài viết đề cập đến nghề, làng nghề thủ công cụ thể
như: Các tác giả Phạm Văn Đấu, Trần Thị Liên, Lê Thị Thảo... nghiên cứu về
nghề chế tác đá An Hoạch; tác giả Phạm Văn Kính có bài viết về nghề gốm ở
Lò Chum; tác giả Vũ Văn Tuyến có bài viết về nghề đúc đồng Trà Đông... Tuy
nhiên, số lượng bài viết chuyên sâu so với sự phong phú của hệ thống làng
nghề thủ công truyền thống ở Thanh Hóa còn ít ỏi.
2.2. Các công trình nghiên cứu về vấn đề phát huy giá trị của các làng nghề
thủ công truyền thống ở Thanh Hóa
Các làng nghề thủ công truyền thống có tiềm năng trong phát triển kinh
tế - xã hội, do vậy đã có nhiều công trình đề cập đến vấn đề phát huy giá trị của
các làng nghề thủ công truyền thống nói chung.
Năm 1996, Bộ Công nghiệp và Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp
quốc đã tổ chức Hội thảo quốc tế về Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền
thống Việt Nam ở Hà Nội. Trong hội thảo này, các tác giả đã phân tích một số
vai trò của làng nghề đối với phát triển kinh tế xã hội và bước đầu đề xuất giải
pháp thực hiện.
Năm 2003, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (MARD) Việt Nam

2006-2010, định hướng đến 2015 và tổ chức Hội thảo khoa học Xây dựng quy
hoạch phát triển mạng lưới cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp vừa và nhỏ
Thanh Hoá thời kỳ 2002- 2010. Các tài liệu này đã đề cập khái quát đến hệ
thống nghề tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh, tuy nhiên, chủ yếu khai
thác ở góc độ sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế.
Tóm lại, từ việc đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu về các làng
nghề thủ công truyền thống ở Thanh Hóa và việc bảo tồn, phát huy giá trị của
chúng, chúng tôi thấy rằng, đề tài Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn, phát huy
giá trị làng nghề truyền thống Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay là một đề
tài mới, có sự kế thừa song không trùng lặp với các công trình đã công bố.
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu được giá trị của làng nghề thủ công Thanh Hóa;
- Đánh giá được thực trạng làng nghề thủ công Thanh Hóa;
- Đề xuất được giải pháp phát huy giá trị làng nghề thủ công Thanh Hóa.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các làng nghể thủ công truyền thống
ở Thanh Hóa hiện đang còn tồn tại, đặc biệt tập trung vào những làng nghề nổi
tiếng, có các sản phẩm độc đáo.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian của đề tài giới hạn trong địa bàn tỉnh Thanh Hóa
hiện nay, là một tỉnh có địa giới ổn định trong suốt chiều dài lịch sử, có đầy đủ
các dạng địa hình: miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển. Các nghề thủ công
truyền thống ở Thanh Hóa trải khắp các khu vực đó, tuy nhiên tập trung chủ
yếu ở vùng đồng bằng, ven lưu vực các con sông lớn, đặc biệt là sông Mã và
sông Chu, do vậy phạm vi nghiên cứu của đề tài cũng tập trung nghiên cứu khu
vực này.

8


của những nhà khoa học đi trước, đồng thời đưa ra những kết quả nghiên cứu
mới.
- Quan điểm hệ thống - lôgic
+ Nghiên cứu làng nghề thủ công truyền thống ở Thanh Hóa trong tổng
hể hệ thống làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam, bên cạnh những đặc
điểm chung, cần làm rõ những đặc trưng riêng của nghề thủ công truyền thống
Thanh Hóa.
9


+ Nội dung nghiên cứu phải đảm bảo trình tự logic: Khảo sát, thống kê
hệ thống làng nghề thủ công truyền thống ở Thanh Hóa - Nhận diện những giá
trị đặc biệt, một số làng nghề tiêu biểu - Đánh giá thực trạng - Đề xuất giải
pháp bảo tồn và phát huy giá trị.
5.2. Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
* Phương pháp luận
Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam và Tư tưởng Hồ
Chí Minh làm cơ sở lý luận để tiếp cận, phân tích, đánh giá một cách khoa học
và khách quan các vấn đề nghiên cứu của đề tài.
* Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Vận dụng phương pháp nghiên cứu của nhiều ngành để giải quyết các
nội dung của đề tài: Sử học, Địa lý, Văn học, Dân tộc học, Khảo cổ học, Xã hội
học, Kinh tế học, Khoa học quản lý… Các phương pháp được sử dụng linh hoạt
nhằm đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
* Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình thu tập tư liệu và tổ chức nghiên cứu, tập thể tác giả sẽ
thường xuyên tranh thủ ý kiến, trao đổi của các nhà khoa học chuyên sâu.
Tổ chức hội thảo để thảo luận các nội dung liên quan đến đề tài.
* Phương pháp thu thập, thống kê và phân tích tài liệu

7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
chính của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo tồn và khai thác giá trị của
làng nghề truyền thống
Chương 2: Khát quát về làng nghề thủ công truyền thống Thanh Hóa
Chương 3: Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị của làng
nghề thủ công truyền thống ở Thanh Hóa trong giai đoạn hiện
nay

11


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO TỒN VÀ KHAI THÁC
GIÁ TRỊ CỦA LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG
1.1. Một số khái niệm liên quan đến làng nghề thủ công truyền thống
1.1.1. Nghề truyền thống
Theo từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ Việt Nam), nghề là công việc
hằng ngày làm để sinh nhai. Một cách khái quát, có thể hiểu “nghề” là một lĩnh
vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được
những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh
thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội.
Nghề thủ công là những nghề được tiến chủ yếu dùng sức lao động của
con người và công cụ thô sơ, ít có sự can thiệp của máy móc hiện đại.
Truyền thống là thuật ngữ dùng để chỉ các giá trị, yếu tố, quan niệm của
một cộng đồng người hay của xã hội lưu giữ trong một thời gian dài từ thế hệ
này qua thế hệ khác. Truyền thống biểu hiện tính kế thừa là chủ yếu tuy nhiên
cũng có sự phát triển theo lịch sử.
Nghề thủ công truyền thống là những nghề thủ công được hình thành,

+ Ngành nghề phục vụ sản xuất và đời sống như: nghề mộc, đúc đồng,
sản xuất vật liệu xây dựng.
+ Ngành nghề sản xuất các mặt hàng tiêu dùng thông thường như: khâu
nón, dệt chiếu.
+ Ngành nghề chế biến lương thực, thực phẩm, như: xay xát, nấu rượu,
làm bánh.
Nghị định 66/2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 của Chính phủ về việc phát
triển ngành nghề nông thôn đã phân chia các ngành nghề ở nông thôn nước ta
thành 7 nhóm chính:
- Chế biến, bảo quản nông, lâm, thuỷ sản.
- Sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt
may, cơ khí nhỏ.
- Xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông
thôn.
- Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ.
- Gây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh.
- Xây dựng, vận tải trong nội bộ xã, liên xã và các dịch vụ khác phục vụ
sản xuất, đời sống dân cư nông thôn.
- Tổ chức đào tạo nghề, truyền nghề; tư vấn sản xuất, kinh doanh trong
lĩnh vực ngành nghề nông thôn.
1.1.2. Làng nghề thủ công truyền thống
Việc xác định danh hiệu làng nghề ở nước ta chưa thống nhất, có nhiều
tiêu chí khác nhau.
Theo cách định danh dân gian, một nghề có "thâm niên" và tỷ lệ người
làm nghề (ở trong làng) cao, thu nhập từ nghề là nguồn thu nhập chính, tên làng
dần dần gắn với tên nghề... thì được gọi là làng nghề; còn nếu một nghề có tỷ
13


lệ người theo nghề thấp, thời gian xuất hiện chưa có "thâm niên", sản phẩm

- Đặc điểm về mối quan hệ với nông nghiệp và nông thôn
Nghề thủ công truyền thống bắt nguồn từ nông nghiệp mà ra và gắn liền
với sự phân công lao động ở nông thôn. Trước đây hàng loạt các nghề thủ công
truyền thống ra đời nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt tự cung tự cấp của người
nông dân và chủ yếu phục vụ nông nghiệp. Không những vậy, nghề truyền
14


thống còn dựa vào nông nghiệp để phát triển. Nông nghiệp là nguồn cung cấp
nguyên liệu, nguồn nhân lực, nguồn vốn chủ yếu và là thị trường tiêu thụ rộng
lớn.
Lao động trong các làng nghề truyền thống chủ yếu là những người nông
dân, địa điểm sản xuất của nghề thủ công truyền thống là tại gia đình họ. Họ tự
quản lý, phân công lao động, thời gian cho phù hợp với việc sản xuất nông
nghiệp những lúc mùa vụ và với nghề thủ công những lúc nông nhàn.
Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, làng nghề ngày càng có tính độc lập
hơn đối với nông nghiệp. Bởi vì, nguyên liệu cho sản xuất của làng nghề được
đa dạng hoá trong đó có cả sản phẩm của các ngành công nghiệp ở thành thị.
Hơn nữa, hiện nay nước ta đã là thành viên chính thức của WTO, việc thực
hiện các cam kết thương mại quốc tế, đã làm cho nguyên liệu của các làng nghề
bị cạnh tranh quyết liệt từ các bạn hàng nước ngoài. Do tác động của cách
mạng khoa học công nghệ, lợi thế tài nguyên có nguồn gốc trực tiếp từ tự nhiên
giảm xuống, làm cho sự tồn tại và phát triển làng nghề gắn liền với nguyên liệu
tại chỗ từ nông nghiệp có xu hướng giảm xuống.
- Đặc điểm về sản phẩm
Sản phẩm của làng nghể thủ công truyền thống hầu hết là các vật dụng
hàng ngày, hay những sản phẩm vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ
hoặc chỉ là vật để dùng trang trí ở nhà, công sở, nơi tôn nghiêm như đình chùa.
Dưới những bàn tay tài hoa của người thợ thủ công từ ốc trai, vỏ trứng có thể
biến hoá thành những bức tranh có giá trị nghệ thuật cao. Các sản phẩm nghề

tính đơn chiếc, phụ thuộc chủ quan người sản xuất. Điều này được thể hiện rõ
nhất ở nghề thêu ren, chạm khắc. Nhược điểm kỹ thuật của làng nghề truyền
thống không tổng kết thành lý luận, không được ghi chép, mà truyền miệng
trong gia đình, trong dòng họ, trong làng nên trong lịch sử nhiều bí quyết đã bị
thất truyền. Thực tế có những sản phẩm truyền thống hiện nay về độ tinh xảo,
tính độc đáo không sánh được với sản phẩm của cha ông ta trước đây. Nhiều
làng nghề đúc đồng nhưng chưa có nơi nào có thể làm trống đồng đạt chuẩn
mực như trống đồng trong thời kỳ văn hóa Đông Sơn cách đây hàng nghìn
năm.
Có một số nghề thủ công truyền thống có những công đoạn kỹ thuật đặc
biệt phụ thuộc thời tiết. Ví dụ: công đoạn dệt nhuộm gặp nhiều khó khăn khi
thời tiết có gió nồm hoặc mưa phùn; Một sản phẩm sơn mài phải mất khoảng
51 ngày mới hoàn thành được tùy theo mẫu, nếu thời tiết quá nóng hoặc quá
lạnh sẽ không khô được. Kỹ thuật đặc biệt này là lý do bất khả kháng làm chậm
tiến độ giao hàng ở các làng nghề truyền thống. Lao động làm nghề truyền
thống chủ yếu là lao động sáng tạo kỳ diệu của những nghệ nhân và thợ nghề.
Không giống sản phẩm công nghiệp được sản xuất đồng loạt theo công nghệ
dây chuyền, mỗi sản phẩm của LN được coi là một tác phẩm nghệ thuật, chứa
đựng phong cách riêng, nét sáng tạo riêng, đầu óc mỹ thuật riêng của người làm
ra chúng.
- Đặc điểm về tổ chức sản xuất kinh doanh.
Như trên đã phân tích về mối quan hệ giữa nông dân và thợ thủ công: sự
gắn bó giữa nông nghiệp và nghề thủ công truyền thống tạo nên mô hình sản
16


xuất kinh doanh truyền thống phổ biến nhất ở các làng nghề truyền thống là
hình thức hộ gia đình.
Hộ gia đình là mô hình sản xuất đặc biệt trong đó lao động là các thành
viên trong gia đình, chỉ khi thời vụ hoặc khi chạy hàng thì có thể thuê thêm lao

phương đó. Một số làng tổ nghề được suy tôn là thành hoàng làng hoặc được
lập miếu thờ. Một nghề có thể có thờ nhiều tổ nghề khác nhau ở các vùng khác
17


nhau vì tổ nghề là người có công khởi xướng truyền nghề ở một vùng, một địa
phương.
1.1.3. Giá trị làng nghề thủ công truyền thống
Trong nhiều ngôn ngữ trên thế giới, thuật ngữ “giá trị” (tiếng Anh: value,
tiếng Pháp: valeur; tiếng Nga: ценность, tiếng Trung: 价价 / 价价) được hiểu là
tốt, đáng giá. Trong ngôn ngữ phương Tây, thuật ngữ “giá trị” từ valere của
tiếng La-tinh ban đầu được dùng để chỉ việc một thứ gì đó đáng giá. Giá trị là
thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong các tài liệu triết học và xã hội học để chỉ
ý nghĩa con người, xã hội và văn hoá của những hiện tượng thực tế nhất định.
Là một thuật ngữ được sử dụng rất rộng rãi, song ở khái niệm “giá trị”
cho đến nay chưa có sự thống nhất trong giới nghiên cứu với tính cách là một
khái niệm khoa học chặt chẽ, chính xác như nhiều khái niệm khác trong các
ngành khoa học xã hội và tự nhiên. Dù người ta có thể xem nó là khái niệm của
triết học, của tâm lý học, của nhân học, của giáo dục học, của giá trị học hay
của bất cứ ngành khoa học xã hội, nhân văn nào đi nữa thì tình trạng ấy cũng
đều đang hiện hữu. Hệ giá trị, như nhiều nhà nghiên cứu hiện nay quan niệm,
có thể được nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, bao gồm trong nó nhiều loại giá trị
khác nhau: có loại giá trị cốt lõi, có giá trị phổ quát, có loại giá trị chung nhân
loại, có loại giá trị dân tộc - quốc gia, có loại giá trị cộng đồng tộc người, có
loại giá trị cá thể, có loại giá trị xã hội, có loại giá trị con người,… Trong mỗi
loại giá trị như vậy lại có nhiều giá trị nhỏ khác nhau. Bản thân mỗi giá trị, phụ
thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể lại là một biến số, có giá trị vĩnh hằng,
dù vị trí trong thang bậc cũng có thể không cố định, lại có giá trị chỉ là giá trị
trong một giai đoạn lịch sử nào đó. Sự thay đổi vị trí, thang bậc trong bảng giá
trị càng khiến cho các quan điểm, quan niệm, cách hiểu về giá trị càng thêm

trên từng địa phương. Đối với thị trường thế giới thì sản phẩm của làng nghề
thủ công truyền thống được xếp vào nhóm hàng có khả năng cạnh tranh cao bởi
tính độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc, là sự kết hợp giữa kỹ thuật và thẩm
mỹ, không thể sản xuất hàng loạt bằng máy móc được. Hiện nay hàng thủ công
mỹ nghệ được xếp vào 6 mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu lớn tại Việt Nam
(báo cáo dự án hỗ trợ xúc tiến thương mại và phát triển xuất khẩu VIE 61/94),
có thị trường ở gần 100 nước, vùng lãnh thổ [37; tr.28].
- Phát triển làng nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghề chính là con đường chủ yếu
để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng chuyển từ lao động nông
nghiệp năng suất thấp, thu nhập thấp sang lao động ngành nghề có năng suất và
chất lượng cao với thu nhập cao hơn. Mục tiêu nâng cao đời sống của cư dân
nông thôn một cách toàn diện cả về kinh tế và văn hóa cũng chỉ có thể đạt được
nếu trong nông thôn có cơ cấu hợp lý của nông thôn mới, có nông nghiệp, công
nghiệp và dịch vụ, có nông thôn vận động và phát triển thanh bình với hệ thống
làng nghề tiếp nối truyền thống văn hóa làng nghề với chuỗi đô thị nhỏ văn
minh, lành mạnh.
Bên cạnh đó, sản phẩm làng nghề còn góp phần quan trọng vào kim
ngạch xuất khẩu. Nhiều mặt hàng thủ công truyền thống của Thanh Hóa được
người nước ngoài ưa chuộng như: đồ đồng Trà Đông, chiếu cói Nga Sơn, đá
mỹ nghệ An Hoạch...
- Phát triển làng nghề truyền thống là phát huy lợi thế so sánh
19


Từ sau năm 1986, Nghị quyết các kỳ Đại hội Đảng đều đặt ra vấn đề phát
huy nội lực đất nước trong quá trình xây dựng đất nước. Làng nghề truyền
thống chính là nguồn lực còn bỏ ngỏ trong nước. Do có tính độc đáo, nên sản
phẩm của làng nghề truyền thống được xếp vào nhóm hàng có năng lực cạnh

đặc trưng của làng nghề.

20


Du lịch làng nghề được khai thác một cách bài bản, chuyên nghiệp, sẽ là
phương tiện giao lưu, quảng bá văn hóa, đất nước, con người Việt Nam một
cách sâu rộng và có hiệu quả, góp phần tôn vinh, bảo tồn và giới thiệu rộng rãi
các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Du lịch làng nghề góp phần thúc
đẩy sự phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng các làng nghề. Du lịch làng nghề
được quảng bá và thị trường các sản phẩm của làng nghề được mở rộng sẽ nâng
cao thu nhập của cư dân làng nghề, mang lại lợi ích kinh tế không nhỏ cho làng
nghề và cho địa phương có làng nghề.
- Phát triển làng nghề thủ công truyền thống góp phần phát triển xã hội
Làng nghề là một lực lượng có vị thế, một cộng đồng có sự liên kết bền
chặt bởi những mối liên hệ khăng khít, nhiều mặt: về lãnh thổ, dòng họ, về hoạt
động kinh tế, có chung Thành hoàng làng và Tổ nghề; có chung văn hóa và tâm
linh.
Người thợ thủ công trong làng nghề gắn bó với làng, không chỉ vì yếu tố
kinh tế mà do nhiều yếu tố tâm linh, thiêng liêng, hình thành một cộng đồng
đoàn kết, gắn bó từ nhiều đời, hình thành “vốn xã hội” của cộng đồng dân cư
trong làng nghề.
1.2. Quan điểm về bảo tồn và phát huy giá trị của làng nghề thủ công
truyền thống
Làng nghề thủ công truyền thống là một di sản văn hóa của các cộng
đồng cư dân trong quá khứ gìn giữ, phát triển và lưu truyền đến hiện tại. Cho
đến nay, đã có nhiều quan điểm về "bảo tồn" và "phát huy" đối với di sản văn
hóa. Tựu chung lại có thể tập hợp thành 2 nhóm quan điểm: bảo tồn nguyên
vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa.
Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn, theo Gregory J.Ashworth, được phát

sống động, có phát sinh, phát triển và biến đổi. Ngoài ra, các tác giả như Moore
và Caulton cũng cho rằng cần quan tâm làm thế nào lưu giữ được các di sản
văn hóa thông qua cách tiếp cận mới và phương tiện kỹ thuật mới. Nhìn chung,
các tác giả này quan niệm mỗi di sản cần phải thực hiện nhiệm vụ lịch sử của
mình ở một thời gian và không gian cụ thể. Khi di sản ấy tồn tại ở thời gian và
không gian hiện tại, di sản ấy cần phát huy giá trị văn hóa - xã hội phù hợp với
xã hội hiện nay và cần phải loại bỏ những gì không phù hợp với xã hội ấy.
Cả hai nhóm quan điểm trên đều có những ưu điểm và hạn chế riêng. Với
nhóm quan điểm thứ nhất, dường như bảo lưu các sản phẩm văn hóa trong môi
trường khép kín để tránh mọi tác động bên ngoài làm phương hại đến chúng.
Khuynh hướng này mang lại một số kết quả rất đáng quan tâm, nhờ đó, trong
nhiều năm qua, chúng ta đã lưu giữ được nhiều sắc thái văn hóa dân tộc. Tuy
nhiên, văn hóa nói chung, trong đó có làng nghề thủ công luôn gắn bó với cuộc
sống con người, với môi trường xã hội, do đó nó luôn biến đổi để phù hợp với
mọi thay đổi của cuộc sống. Bởi vậy, bảo tồn theo khuynh hướng này bộc lộ
hạn chế là làm khô cứng các sản phẩm văn hóa.
Với nhóm quan điểm thứ hai dường như thả nổi các di sản văn hóa. Sản
phẩm văn hóa nào có sức sống mãnh liệt, có giá trị, có nền tảng vững chắc do
được chắt lọc, được thử thách qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử sẽ có
nhiều cơ hội và lợi thế tự khẳng định mình nhiều hơn. Điều đó phụ thuộc vào
22


các tiêu chí và hệ giá trị. Bởi vậy, khi chúng ta sử dụng hệ giá trị hôm nay làm
thước đo sự thay đổi các sản phẩm văn hóa truyền thống, khuynh hướng thả nổi
sẽ đẩy nhanh quá trình làm biến dạng các tiêu chí và chuẩn mực vốn đã được
định hình từ lâu. Những sản phẩm văn hóa truyền thống tuy mang đậm nét đặc
thù nhưng khi đặt trong hệ quy chiếu mới nếu không được điều chỉnh sẽ khó có
cơ hội tồn tại lâu dài.
Tham khảo các quan điểm chung về bảo tồn và phát huy giá trị di sản



thức, tài lực, vật lực... chứ không phải là sự bảo tồn bằng cách hô hào, gượng
ép. Bởi vì làng nghề là một "di sản sống" nên nó chỉ thực sự "sống" được khi
kết hợp hài hòa lợi ích của cộng đồng dân cư vào vấn đề bảo tồn, phát huy giá
trị di sản. Khi bảo tồn các giá trị truyền thống của làng nghề phải quan tâm đến
việc đáp ứng nhu cầu của cộng đồng bao gồm cả nhu cầu về vật chất và nhu
cầu về tinh thần.
* Quan điểm về phát huy giá trị làng nghề thủ công truyền thống
Bảo tồn làng nghề thủ công truyền thống không phải là cất giữ cho khỏi
mất mát, biến dạng mà bảo tồn là để phát triển, khai thác các giá trị tuyền
thống, làm cho nó có thể sống lại, là cho các giá trị đó tồn tại trong đời sống
thực, nặng động hóa các hình thức tồn tại của làng nghề trên cơ sở thu hút sự
quan tâm của các tầng lớp xã hội, nhờ đó mà các giá trị được vận hành, thâm
nhập vào cuộc sống hiện tại. Và ngược lại, phát huy giá trị của làng nghề thủ
công truyền thống chính là để đưa các giá trị của nó đến với cộng đồng, giúp
cộng đồng phát triển kinh tế, giúp đáp ứng cho công tác bảo tồn hoàn thiện
hơn.
Chúng tôi đưa ra quan điểm phát triển làng nghề thủ công truyền thống
phải hướng tới phát triển bền vững. Có thể hiểu phát triển bền vững làng nghề
truyền thống chính là quá trình phát triển sản xuất, kinh doanh của các làng
nghề truyền thống nằm thoả mãn nhu cầu đa dạng và ngày càng phát triển của
thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các
thế hệ tương lai.
Phát triển bền vững làng nghề thủ công truyền thống cần đảm bảo được
những nội dung sau:
- Thực hiện tốt công tác dạy nghề, truyền nghề trong làng nghề. Thế hệ
lao động trẻ theo nghề có khả năng duy trì, bảo tồn các kỹ xảo truyền thống của
cha ông, ngày càng tích lũy được nhiều kinh nghiệm, trong lao động, đảm bảo
sự thành thục, khéo léo.

1.3.1. Bài học kinh nghiệm bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề thủ
công truyền thống ở một số quốc gia
1.3.1.1. Nhật Bản
Nhật Bản tiến hành công nghiệp hóa đất nước từ một nước có nền nông
nghiệp cổ truyền, sản xuất manh mún. Trong quá trình công nghiệp hóa, họ đã
có những sáng tạo, những ngành nghề tiểu thủ công truyền thống không bị mất
đi mà là một trong những nội dung của công nghiệp hóa. Tại Nhật Bản có hơn
867 nghề truyền thống bao gồm nhiều ngành nghề khác nhau như chế tác kim
hoàn, sơn mài, chế biến lương thực phẩm... Nhật Bản đã có nhiều biện pháp
tích cực nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của các làng nghề thủ công truyền
thống, trong đó đáng chú ý là phong trào "mỗi làng một sản phẩm".
Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” (OVOP - One village one product)
được khởi phát từ năm 1979 tại làng Oyama, tỉnh Oita, Nhật Bản, là cách thức
đưa nông nghiệp của tỉnh tăng trưởng và phát triển theo kịp với sự phát triển
chung của đất nước. Phong trào OVOP được xây dựng dựa trên ba nguyên tắc
chính:

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status