Bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội Lê Lai – Lê Lợi ở Thọ Xuân – Thanh Hóa - Pdf 47

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đề tài nghiên cứu “Bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội
Lê Lai – Lê Lợi ở Thọ Xuân – Thanh Hóa” là công trình nghiên cứu độc lập của
các nhân tôi.Tất cả các thông tin, kết quả nghiên cứu trong bài tiểu luận này là
trung thực.Mọi tài liệu tham khảo,trích dẫn khoa học đều có nội dung chính xác, có
nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng.Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Sinh viên


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Lê Thị Hiền – giảng viên chính giảng dạy
tôi trong bộ môn Phương pháp nghiên cứu khoa học và các thầy cô giáo, đã hướng
dẫn và giúp đỡ tôi rất nhiệt tình trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành bài
tiểu luận này.


MỤC LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Dân tộc Việt Nam luôn tự hào về hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ
nước.Trong suốt chiều dài lịch sử đó, với bao biết đổi thăng trầm đã đúc kết lại
thành một nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.
Theo thống kê năm 2004 của Cục Văn Hóa Thông Tin cơ sở và Bộ Văn
Hóa Thông Tin, cả nước có 8902 lễ hội lớn nhỏ và được phân bố rộng khắp các
tỉnh thành.Ở địa phương nào cũng có lễ hội đặc trưng tiêu biểu mang đậm văn
hóa địa phương, vùng miền.
Thanh Hóa, miền đất có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời và có nhiều
di tích, danh lam thắng cảnh, lễ hội nổi tiếng trong cả nước.Những giá trị văn
hóa nơi đây là tài sản vô giá, là niềm tự hào dân tộc không chỉ riêng của đất và

thống lễ hội đặc sắc phong phú.
Tuy nhiên, chúng ta chủ yếu chỉ mới có những bài viết nghiên cứu đơn lẻ
từng phần hoạt động của lễ hội mà chưa có công trình nào nghiên cứu tìm hiểu
tổng quát về lễ hội và những định hướng gìn giữ và phát triển văn hóa của lễ
hội.Trong “Non nước Việt Nam”, tác giả Vũ Thế Bình có đề cập đến Lễ hội
Lam Kinh ở Thanh Hóa nhưng vẫn chưa đi nghiên cứu sâu về lễ hội Lê Lai – Lê
Lợi.Và một số công trình nghiên cứu khoa học về lễ hội Lam Kinh của các tác
giả khác nhưng hết sức sơ lược, ngắn gọn thiếu thông tin như:
-

Đỗ Như Chung, (2007), Lễ hội Lam Kinh từ lễ hội cung đình đến lễ hội dân

-

gian.
Thiên Lam, (2009), Lễ hội Lam Kinh mang đậm nét văn hóa thời Lê.
Những bài viết này chỉ khái quát lại một phần hoạt động của lễ hội mà
không đi sâu và phân tích toàn bộ quá trình hoạt động diễn ra lễ hội cũng như ý
nghĩa, vai trò của lễ hội, không đánh giá được tiềm năng của lễ hội cũng như
đưa ra được các giải pháp để phát huy truyền thống lễ hội.Mặc dù vậy, đây cũng
là những nguồn tài liệu tham khảo quan trọng để tôi tiến hành nghiên cứu và
hoàn thành đề tài kết thúc bài tiểu luận cho bộ môn Phương pháp nghiên cứu
khoa học.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Lễ hội Lê Lai – Lê Lợi ở Thọ Xuân – Thanh Hóa.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
5



6


- Kết quả đạt được của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo
cho cán bộ làm công tác Quản lý Văn Hóa.
7. Cấu trúc đề tài
- Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được
chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về lễ hội và khái quát về xã Xuân Lam –Thọ
Xuân - Thanh Hóa.
Chương 2: Diễn trình lễ hội Lê Lai – Lê Lợi ở Thọ Xuân – Thanh Hóa.
Chương 3: Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội Lê Lai –
Lê Lợi ở Thọ Xuân – Thanh Hóa.

7


Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỄ HỘI LÊ LAI – LÊ LỢI VÀ
KHÁI QUÁT VỀ XÃ XUÂN LAM – THỌ XUÂN – THANH HÓA
1.1.Cơ sở lý luận về lễ hội
1.1.1. Khái niệm lễ hội
Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn
dân cư trong thời gian và không gian xác định.Nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân
vật lịch sử hay huyền thoại đồng thời là dịp thể hiện cách ứng xử văn hóa của
con người với thiên nhiên, thần thánh và con người trong xã hội.
Quốc gia nào, dân tộc nào cũng có những lễ hội truyền thống.Đó lá di sản
văn hóa chứa đựng giá trị tinh túy và luôn gạn lọc những gì không còn phù hợp
với thời đại mới.Lễ hội là hoạt động văn hóa dân gian bao gồm phần lễ và phần
hội:
“Lễ” là hệ thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của

chung của dân tộc, ôn lại lịch sử và ghi nhận công đức của các bậc hiền tài đac
có công dựng nước và giữ nước, bảo vệ nền độc lập của dân tộc qua các thời kỳ
lịch sử.
Lễ hội ở nước ta rất đa dạng và phong phú,tùy theo các vùng miền, đặc
trưng riêng của mỗi địa phương, mỗi nơi có nội dung và cách tổ chức lễ hội khác
nhau.Nhưng mục đích chung của lễ hội ở nước ta đều nêu cao tinh thần gìn giữ
bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc.
Và trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương
chính sách về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc, văn hóa đảm bảo phát huy sức
mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc.Công tác quản lý lễ hội luôn được chú trọng
và chỉ đạo chặt chẻ bảo đảm cho người tham gia lễ hội thực sự văn minh, an
toàn, tiết kiệm.Tăng cường công tác tổ chức quản lý lễ hội,đưa ra các hướng dẫn
các địa phương về tổ chức lễ hội, đưa hoạt động lễ hội vào nề nếp, thu hút tập
hợp đông đảo quần chúng nhân dân tham gia.
Nhà nước ta đã đề ra những chính sách nhằm phát huy bản sắc văn hóa
của dân tộc trong lễ hội như tăng cường công tác giáo dục tuyên truyền nâng cao
nhận thức cho người dân về lễ hội, cán bộ đảng viên phải gương mẫu chấp hành
các quy định về quản lý tổ chức lễ hội, không chi ngân sách và sử dụng phương
tiện công tham gia lễ hội.
Công tác quản lý Nhà nước về lễ hội phải đặc biệt quan tâm và ban hành
các văn bản quản lý hướng dẫn tổ chức lễ hội,có kế hoạch nội dung cụ thể.Các
thành viên được phân công nhiệm vụ rõ ràng và chịu trách nhiệm trước địa
9


phương về công việc mình được phân công.
Chỉ đạo bảo đảm công tác an ninh trong lễ hội, có phương án xử lý những
trường hợp gây mất trật tự, an toàn, trộm cắp, đánh nhau... trong lễ hội.Tổ chức
tốt các hoạt đọng dịch vụ lễ hội như sắp xếp các cửa hàng, nơi ăn nghỉ cho
khách trong khu vực lễ hội.


Có thể thấy rằng, vai trò của lễ hội Lê Lai – Lê Lợi có ý nghĩa rất lớn của
Thanh Hóa nói riêng và cả nước nói chung.Không chỉ trong đời sống hàng ngày,
thể hiện ý nghĩa văn hóa mà nó còn là một trong những khuôn mẫu chuẩn mực
1.3.
1.3.1.

để con người noi theo.
Khái quát về xã Xuân Lam – Thọ Xuân – Thanh Hóa
Đặc điểm địa lý, kinh tế
Khu di tích lịch sử Lam Kinh cách thành phố Thanh Hóa 50km về phía
Tây.Nằm trên địa bàn xã Xuân Lam, thị trấn Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, tỉnh
Thanh Hóa.Lam Kinh quê hương đất tổ nhà Lê – nơi sinh ra anh hùng dân tộc
Lê Lợi (1385 – 1433), nơi phát tích cuộc khỡi nghĩa Lam Sơn lừng lẫy chiến
công thế kỷ XV, nơi tụ họp những anh hùng hào kiệt khắp bốn phương chung
sức chung lòng đứng lên đánh giặc cứu nước.Đây là một di tích lịch sử quốc gia
cấp từ năm 1962.Năm 2013, khu di tích này được công nhận là di tích quốc gia
đặc biệt.Di tích mang nhiều ý nghĩa giá trị văn hóa thiêng liêng không chỉ của
nhân dân Thanh Hóa mà của cả dân tộc.
Về địa lý, Xuân Lam là một xã thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh
Hóa.Xã Xuân Lam có diện tích 5,36km2,mật độ dân số đạt 642 người/km2 với 2
dân tộc chính là dân tộc Kinh và dân tộc Mường.Có vị trí địa lý phía Đông giáp
xã Xuân Thiên, phía Nam giáp xã Thọ Lâm, phía Tây giáp thị trấn Lam Sơn,
phía Bắc giáp xã Thiên Thọ.Khí hậu nơi đây vừa mang kiểu khí hậu miền Bắc
lại vừa mang những hình thái của khí hậu miền Trung.Ngôn ngữ thì phần lớn
người dân nói phương ngữ Thanh Hóa với vốn từ vựng của phương ngữ Nghệ
Tĩnh, song âm vực lại khá gần với phương ngữ Bắc Bộ.Đó lại là cái nôi hình
thành lên nền văn hóa địa phương phong phú, đa dạng.Đây là vùng đất “địa linh
nhân kiệt” có vị thế chiến lược trọng yếu trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước
và giữ nước.

Con người nơi đây có tinh thần hiếu học, đỗ đạt làm quan nhiều.Vua Lê
Thánh Tông – cháu đời thứ 4 của vua Lê Lợi cũng xuất thân từ vùng đất Thọ
Xuân.Và hiện nay có trường trung học cơ sở Lê Thánh Tông nổi tiếng vì tinh
thần hiếu học và chất lương giáo dục tốt, luông đạt giải cao trong cáo kỳ thi học
sinh giỏi quốc gia, cống hiến cho đất nước nhiều nhân tài.
Với lễ hội Lê Lai – Lê Lợi, truyền thống dân gian Việt Nam còn lưu
truyền câu thành ngữ “Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi”gắn vơi tích sử “Lê Lai
liều mình cứu Chúa”.Lễ hội Lam Kinh bắt đầu từ khi vua Lê Thái Tổ băng hà
được đưa về an táng tại Lam Kinh năm 1433.Từ đó, các vua đời sau và con cháu
của ngài hàng năm cứ đến ngày 21, 21 âm lịch đều về Lam Kinh làm giỗ.Và
12


trong tinh thần báo đáp hành động nghĩa hiệp của vị khai quốc công thần triều
Hậu Lê đã xã thân vì nghiệp lớn, Lê Lợi đã truyền dạy con cháu phải làm lễ giỗ
Lê Lai trước ngày giỗ của mình một ngày.Vì vậy, khi Lê Thái Tổ mất vào ngày
22 – 8 năm Qúy Sửu (1433) thì ngày 21 – 8 âm lịch hàng năm trở thành ngày
giỗ của Lê Lai dù rằng ông còn một ngày giỗ khác vào đúng ngày mất của mình
– mùng 8 tháng Giêng âm lịch.Từ đó, câu ca “hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi”
đã in đậm trong tâm thức mỗi con người đất Việt từ đời này qua đời khác.Đây
chính là nét đẹp truyền thống, là đạo lý nhân văn lâu đời của dân tộc Việt.
Bởi những ý nghĩa quan trọng như vậy, nên trong sự phát triển của mỗi
quốc gia, vấn đề bảo tồn và gìn giữ những nét văn hóa truyền thống của dân tộc
là hết sức quan trọng.Nó không những mang đặc trưng văn hóa dân tộc, bộ mặt
văn hóa dân tộc mà còn là màu cờ sắc thái riêng của dân tộc.Chính vì ý nghĩa to
lớn như vậy nên mỗi người con dân tộc cần biết và hiểu về những nét văn hóa
của quê hương mình.Với những lý do quan trọng trên tôi đã giới thiệu về lễ hội
Lê Lai – Lê Lợi ở Thọ Xuân – Thanh Hóa là điều kiện để tôi nói về diễn trình
hoạt động lễ hội ở đây, mang đến cái nhìn khách quan thiết thực về hoạt động lễ
hội Lê Lai – Lê Lợi.

khác như chuẩn bị lễ vật, trang phục, tập thật thuần thục các nghi lễ nghi thức
trong lễ hội, chuẩn bị mâm ngũ quả, chọn người làm công tác phục vụ trong Đại
lễ được nhân dân địa phương háo hức chuẩn bị.
Nguồn nhân lực chủ yếu không ai hơn hết là các bô lão trong địa phương,
14


các thanh niên nữ tú trai tráng, những người con của quê hương, nhân dân địa
phương và nhân dân cả nước cùng tham gia.
Lễ vật: trong lễ hội thì phần lễ vật là phần không thể thiếu, nó thể hiện
sự thành kính của con cháu với những vị tiền bối đã mất.Về phía những người
trực tiếp chủ trì lễ hội thì cần chuẩn bị kĩ lễ vật làm lễ.Không thể thiếu đó là
mâm ngũ quả, tượng trưng cho ngũ phúc lâm môn: Phúc, quý, thọ, khang,
ninh.Mâm ngũ quả được để trang nghiêm trên bàn thờ lễ.Và không thể thiếu
được trong dịp lễ như thế này là những bó hương nhang khói, những bó hoa tươi
được trang bày,những chén rượu làm từ gạo nếp thơm, những mâm lễ xôi, vàng
mã... Với mục đích, lòng thành tâm gửi đến những người đã hy sinh vì dân tộc,
vì đất nước để con cháu, những thế hệ mai sau có cơm ăn áo ấm, được sống
trong thời đại hòa bình.Với các du khách đến đây, người đi lễ cũng chuẩn bị kỉ
lễ vật để dâng lên.Đó là mâm lễ,có nhiều lễ vật như mâm xôi, con gà cúng, bó
nhang, chén rượu, những bộ quần áo làm từ vàng mã, những bó hoa đi lễ.... tất
cả đều thể hiện lòng thành kính, sự hướng về cội nguồn của người dân Việt.
Trang phục: trang phục là yếu tố thể hiện nên lễ hội, cần được chuẩn bị
một cách kĩ càng và cẩn thận đúng với truyền thống lễ hội, các phần trong lễ
hội.Với trang phục áo đỏ, thắt lưng đỏ, quần vàng khăn vàng ngay ngắn, đầu
buộc một đoạn vải mỏng qua đầu, chân đi hài.Các bô lão chính làm lễ thì mặc áo
dài, áo quan, đi hài, đầu đội mũ quan.Ngoài ra còn có cờ hội, các dụng cụ phục
vụ cho lễ hội.... Các trang phục trong lễ hội góp phần tái hiện lại cuộc sống xưa
kia, đưa ta về với cội nguồn hơn.
Văn nghệ: công tác chuẩn bị các tiết mục văn nghệ được người dân nơi

mở đầu cho một mùa lễ hội bắt đầu.
Theo thông lệ hàng năm, vào sáng ngày 21/8 âm lịch là ngày làm giỗ
Trung Túc Vương Lê Lai tại đền thờ Ngài ở làng Tép, xã Kiên Thọ, huyện Ngọc
Lặc, buổi chiều rước thánh vị, kiệu về đền thờ Lê Thái Tổ ở xã Xuân Lam.Đến
sáng ngày 22/8, với không khí trang nghiêm của tiếng trống, chiêng, thì đoàn
rước kiệu vua Lê Thánh Tổ và kiệu Lê Lai cùng quân kiệu, quân cờ xuất phát từ
đền thờ vua Lê Thánh Tổ theo đúng nghi thức cổ truyền về sân Rồng Lam Kinh
để làm lễ. Và đội rước kiệu Lê Lợi rước kiệu Ngài vào dự lễ chính kị đức vua Lê
Thái Tổ tại chính điện Lam Kinh.
16


Đội rước kiệu có 2 đội: Đội rước kiệu vua Lê Thái Tổ và đội rước kiệu
Trung Túc Vương Lê Lai gồm có 16 đến 18 người.Với trang phục áo đỏ, thắt
lưng đỏ, quần vàng, khăn vàng ngay ngắn khênh kiệu vua Lê Thái Tổ, kiệu của
Lê Lai được đặt trước sân rồng, Thánh vị đặt trên hương an.
Đội hình rước kiệu được sắp xếp theo trình tự.Đi đầu là đội múa sư tử,
tiếp đó là đoàn rước Quốc kỳ và cờ hội, đoàn người đánh chiêng, trống, bát bửu
và đội kiệu, cuối cùng là quan viên và nhân dân.
Cùng với đội hình rước kiệu chính là sự tham gia của đông đảo dân làng,
các bô lão cao tuổi, các vị trung niên, nam thanh nữ tú với cờ hoa, trống chiêng,
bát bửu; lễ vật gồm có hương hoa, các sản vật của địa phương...
Việc rước kiệu là một hoạt động tiêu biểu không thể thiếu trong lễ hội Lê
Lai – Lê Lợi.Đây là hoạt động mang tính cộng đồng cao nhất thể hiện tư tưởng
hướng về cội nguồn dân tộc, biết ơn tổ tiên và phát huy tinh thần đoàn kết công
đồng.Lễ rước kiệu tạo thêm sự trang trọng, linh thiêng cho lễ hội Lê Lai – Lê
Lợi, tạo sự giao lưu văn hóa giữa các xã, địa phương và thu hút được sự quan
tâm của du khách về hành hương.
2.2.1.2. Nghi thức tế lễ
Sau khi đã khai mạc lễ hội, rước kiệu vua Lê Thái Tổ và kiệu của Trung

và bắt đầu khai hội.
Sau ngày Đại lễ, đoàn rước kiệu sẽ rước kiệu về đền thờ vua Lê Thái Tổ
và đền thờ Lê Lai để làm lễ yên vị.
Nhìn chung, đây chính là nét đẹp truyền thống về văn hóa tâm linh mà
chúng ta chỉ có thể thấy được trong lễ hội Lam Kinh, một nét đẹp trong văn hoá,
phong tục mà các thế hệ đi tước truyền lại cho con cháu thế hệ sau gìn giữ và
phát huy, là đạo lý uống nước nhớ nguồn đã thấm đẫm vào tâm thức dân tộc.
2.2.2. Phần hội
Phần hội được nối tiếp sau phần Đại Lễ với các trương trình tái hiện lại
các sự kiện: ‘Hội thề Lũng Nhai”, Dòng suối “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi
thần”, “Lê Lai cứu chúa”, “Giải phóng thành Đông Quan”, hay “vua Lê Thái Tổ
đăng quang”, phát huy hào khí Lam Sơn... Những hoạt cảnh tái hiện lại khí thế
hào hùng của quân và dân ta trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống lại giặc
Minh xâm lược, giải phóng dân tộc.Tiếp đến là các trò diễn dân gian đặc trưng
của xứ Thanh như: Trò Xuân Phả, trò chiềng, múa Rồng, Trống hội, Dân ca dân
18


vũ Đông Anh, trò Bình Ngô...
Đặc biệt trong phần hội diễn ra trò diễn Xuân Phả, trò Xuân Phả là các trò
diễn dân gian mô tả cảnh năm phương đến chầu, đem những tiết mục múa hát
đặc sắc của quốc gia họ để chúc mừng Hoàng đế nước Đại Việt xưa.Trò Xuân
Phả được hình thành và phát triển qua hàng nghìn năm để trở thành một tổ hợp
múa dân gian đặc sắc, độc nhất vô nhị chỉ tồn tại ở làng Xuân Phả nay thuộc xã
Xuân Trường, huyện Thọ Xuân – Thanh Hóa.Trò Xuân Phả gồm có 5 điệu múa
rất đặc biệt với tên gọi: Hoa Lang, Tú Huần (Lục Hồn Nhung), Ai Lao, Ngô
Quốc và Xiêm Thành (Chiêm Thành).
Bên cạnh các trò diễn dân gian đặc trưng của lễ hội Lê Lai – Lê Lợi còn
tổ chức các trò chơi, trò diễn dân gian khác như: Ném còn, bắn nỏ, múa Pồn
Pông, thi đấu vật, đấu võ dân tộc; hội trại các làng văn hóa; trưng bày các hiện


Chương 3. GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
VĂN HÓA LỄ HỘI LÊ LAI – LÊ LỢI Ở THỌ XUÂN – THANH HÓA
3.1. Đánh giá thực trạng lễ hội
3.1.1. Ưu điểm của lễ hội
Lễ hội Lê Lai – Lê Lợi là một lễ hội mang tính dân tộc, lòng tự hào dân
tộc.Là truyền thống vẽ vang trong lịch sử, là trang sử vàng của dân tộc.Nơi đây
còn là nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa độc đáo: ‘con người, địa lợi, nhân hòa”.
Lễ hội được tổ chức phù hợp với thuần phong, mỹ, điều kiện kinh tế của
địa phương nơi diễn ra lễ hội.Tạo không khí lành mạnh, vui tươi thu hút du
khách đến với lễ hội.Nhân dân đã nhận thức được vai trò ý nghĩa của lễ hội
trong đời sống văn hóa tinh thần.Có ý thức bảo tồn, góp phần chấn hưng văn hóa
dân tộc thông qua việc giáo dục phát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông.Đồng
thời các sinh hoạt lễ hội truyền thống đã góp phần giáo dục đạo lý uống nước
nhớ nguồn, tạo sự gắn kết giữa các thành viên trong cộng đồng, đưa lễ hội quảng
bá rộng rãi tới mọi người.Đây là lễ hội lớn nhất tỉnh Thanh Hóa và là một trong
những lễ hội lớn nhất Việt Nam.
Thông qua lễ hội, đã và đang tạo lập môi trường thuận lợi để nhân dân
thực sự là chủ thể hoạt độnglễ hội, chủ thể sáng tạo,cùng tham gia tổ chức, đóng
góp sức người sức của, trách nhiệm của từng cá nhân hay tập thể, tạo nên thành
công cho lễ hội.
Lễ hội với tư cách là tài nguyên du lịch nhân văn đặc biệt, bản thân lễ hội
hay việc tổ chức lễ hội đã góp phần thúc đẩy phát triển du lịch, kinh tế địa
phương.Đem lại hiệu quả văn hóa và kinh tế thiết thực cho địa phương, quảng
bbas du lịch,giới thiệu hình ảnh quê hương, con người, truyền thống lễ hội,
khẳng định bản lĩnh, trí tuệ, tâm thức hướng về cội nguồn của dân tộc.
3.3.2.Nhược điểm của lễ hội
Bên cạnh những ưu điểm, lợi thế trong lễ hội không thể tránh khỏi những
nhược điểm khó khăn.Cùng với xu hướng phục hồi và phát triển các giá trị văn
hóa trong lễ hội, thì không ít các hoạt động mang tính “thương mại hóa”, lợi

đường lối một cách đúng đắn thiết thực với tình hình thực tế lễ hội ở mỗi địa
phương.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức trách
nhiệm của các bộ, đảng viên và nhân dân.Đồng thời tổ chức các hội nghị, hội
22


thảo chuyên đề về bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa đặc sắc của lễ hội.
Tăng cường công tác phối hợp giữa các cấp, ban nghành; bổ sung và hoàn
thiện các văn bản quy phạm pháp luật ddeeer điều chỉnh cho phù hợp với thực
tiễn về công tác quản lý và tổ chức lễ hội.
Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong công tác
quản lý và tổ chức lễ hội, khen thưởng các đơn vị, cá nhân có đóng góp tích cực
và hiệu quả.Mở rộng giao lưu kinh nghiệm tổ chức lễ hội từ những cách làm tiêu
biểu của các địa phương về tổ chức lễ hội.
3.2.2. Tăng cường công tác quản lý, tinh thần trách nhiệm của các
nhà quản lý, cán bộ di tích lễ hội
Về phía các cơ quan tổ chức lễ hội, các nhà quản lý văn hóa cần có kế
hoạch đổi mới nội dung và hình thức tuyên truyền, giáo dục, phổ biến phù hợp
với tình hình lễ hội ở địa phương mình.Mở các hội thảo, nâng cao nhận thức, ý
nghĩa và giá trị lịch sử - văn hóa lễ hội cho từng cán bộ làm công tác quản lý lễ
hội.Tạo sự chuyển biến tích cực trong tổ chức, quản lý và tham gia lễ hội.Thực
hiện đúng, đầy đủ các chính sách quản lý của Đảng và Nhà nước về việc bảo
tồn, phát huy giá trị văn hóa lễ hội.
Cơ chế và phương thức quản lý lễ hội phải phù hợp với quy mô, tính chất
đặc điểm của lễ hội ở địa phương, đảm bảo nguyên tắc nhà nước chỉ dạo, quản
lý và điều hành, nhân dân tổ chức thực hiện.Có kế hoạch quảng bá hình ảnh lễ
hội một cách rộng rãi không chỉ nằm trong khu vực địa phương mà còn trong
phạm vi cả nước, để cho các du khách nước ngoài biết đến và có ấn tượng tốt
với lễ hội, nhưng không vì thế mà buông lõng công tác quản lý, khai thác nguồn

ứng phong trào hướng về cội nguồn, tổ tiên.
3.2.3. Nêu cao vai trò, tinh thần, ý thức của nhân dân địa phương và
du khách khi tham gia lễ hội
Góp phần không nhỏ vào sự thành công của lễ hội đó chính là nhân tố con
người.Đó là người dân địa phương, những người am hiểu rõ nhất truyền thống
văn hóa lễ hội của địa phương mình và các du khách thập phương, những người
đem hình ảnh lễ hội đi khắp mọi nơi.
Nhân dân khi tham gia lễ hội phải tuân thủ đúng các quy định mà ban
quản lý lễ hội đưa ra.Có thái độ văn minh, ý thức khi tham gia lễ hội.Không lấy
các giá trị văn hóa truyền thống của lễ hội làm dịch vụ thương mại bất chính.Khi
24


tham quan lễ hội, đến các di tích trong lễ hội phải có ý thức gìn giữ của
công,không phá hoại, vẽ bậy lên các di tích, làm mất đi tính di tích ban đầu của
nó.Có ý thức gìn giữ không gian môi trường chung, không vứt rác ra nơi công
cộng, không tùy tiện thắp nhang, đốt đồ mã ở mọi nơi trong lễ hội.
Người tham gia lễ hội không chen lấn xô đẩy nhau trong lễ hội, có ý thức
sếp hàng trật tự khi tham quan các khu di tích trong lễ hội.Không gây gỗ, gạ
gẫm đánh nhau, không lợi dụng lễ hội làm nơi tụ tập cờ bạc, các loại hình cá độ
kiếm tiền phi pháp.Không dựa vào thời gian diễn ra lễ hội mà trèn ép khách,
tăng giá các loại hình dịch vụ.Có thái độ hòa nhã, thân thiện, văn minh với các
du khách khi đến với lễ hội.
3.2.4. Giải pháp tôn tạo, tái hiện, gìn gữi các giá trị văn hóa của lễ hội
Trùng tu, tôn tạo lại các di tích lịch sử đã bị hư hỏng, mai một của văn hóa
lễ hội.
Tổ chức các hội thảo, trao đổi kinh nghiệm giữa các địa phương nằm
trong khu di tích lễ hội với nhau, về kiến thức, giá trị lễ hội.
Phục hồi lại các giá trị văn hóa đã bị mai một theo thời gian của lễ
hội.Các nghi lễ, nghi thức trong lễ hội, các điệu múa truyền thống trong lễ hội,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status