Tiểu luận Nguyên lý Quan hệ lao độngSỰ VẬN HÀNH CƠ CHẾ HAI BÊN VÀ CƠ CHẾ BA BÊN TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM - Pdf 43

Mã lớp:

ĐH14NL1

NGUYỄN THỊ PHƢƠNG LY

Số báo danh:

1453404041212

Nguyên lý Quan hệ lao động
GVPT: ThS. Châu Hoài Bão
SỰ VẬN HÀNH CƠ CHẾ HAI BÊN VÀ CƠ CHẾ BA BÊN
TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM

Tiểu luận

Cuối kì

197

Giữa kì

Tiểu luận này được hoàn thành vào ngày 03/01/2017
Giám khảo 1 (Ký và ghi rõ họ tên)
ĐIỂM SỐ
ĐIỂM CHỮ

Giám khảo 2 (Ký và ghi rõ họ tên)

TP.HỒ CHÍ MINH, THÁNG 01 NĂM 2017

nó ............................................................................................................................................... 2
2.1 Cơ chế quan hệ lao động (Industrial Relations Mechanism) ....................................... 2
2.2 Cơ chế hai bên (Bipartite Mechanism) .......................................................................... 3
2.3 Cơ chế ba bên (Tripartite Mechanism) .......................................................................... 4
3. Thực trạng của sự vận hành cơ chế hai bên và cơ chế ba bên trong quan hệ lao động ở
Việt Nam .................................................................................................................................... 5
3.1 Thực trạng của sự vận hành cơ chế hai bên trong quan hệ lao động ở Việt Nam ...... 5
3.2 Thực trạng của sự vận hành cơ chế ba bên trong quan hệ lao động ở Việt Nam ....... 7
3.3 Sự phối hợp hoạt động của cơ chế hai bên và cơ chế ba bên ..................................... 10
4. Giải pháp ............................................................................................................................. 17
5. Khuyến nghị ........................................................................................................................ 17
6. Kết luận ............................................................................................................................... 18
7. Danh mục tài liệu tham khảo ............................................................................................. 18


1. Đặt vấn đề
Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để bước sang giai đoạn này, nước
ta gặp không ít những khó khăn và trở ngại. Nhằm để bắt kịp với xu thế toàn cầu hóa
của thế giới, nước ta đã không ngừng xây dựng và phát triển nguồn nhân lực, bên cạnh
đó, không thể thiếu chính là hình thành nên các mối quan hệ tương tác lẫn nhau trên
thị trường lao động trong và ngoài nước.Trong thời kì hội nhập của nền kinh tế, thị
trường lao động ngày nay cũng trở nên năng động hơn, hình thành và phát triển trên
nhiều lĩnh vực kinh tế và thương mại.
Cùng với xu hướng phát triển đó Việt Nam đã và đang mở cửa hội nhập, tham gia
nhiều tổ chức nhằm đưa đất nước vươn lên tầm cao mới và cũng là cơ hội hội nhập lý
tưởng cho lao động trong nước và thị trường lao động quốc tế. Hay nói cách khác, giữa
người lao động và người sử dụng lao động đã bắt đầu hình thành nên một mối quan hệ
với những mục đích và sở hữu lợi ích khác nhau. Để bắt tay hợp tác với nhau, lúc nào
hai bên cũng đáp ứng và làm thỏa mãn lợi ích của nhau không phải là điều dễ dàng, ...

hệ giữa Nhà nước, người lao động và người sử dụng lao động hoặc giữa các đại diện
của họ với nhau về nghĩa vụ và lợi ích. Chủ thể quan hệ lao động ở đây có thể là cá
nhân hay tập thể. Việc tương tác giữa các tổ chức đại diện chỉ được coi là những biểu
hiện cụ thể của một cách thức tương tác trong quan hệ lao động. Bản chất quan hệ lao
động có thể mô phỏng được thông qua sơ đồ sau:

Đối thoại, đình công, bế xƣởng
NGƢỜI
LAO ĐỘNG

QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ

NGƢỜI SỬ DỤNG
LAO ĐỘNG

Quy định, hƣớng dẫn,
kiểm soát
NHÀ NƢỚC

Cơ chế hoạt động cơ bản nhất của quan hệ lao động là cơ chế ba bên và cơ chế
hai bên. Các cơ chế này đóng vai trò quan trọng đối với việc thúc đẩy quan hệ lao
động lành mạnh, ổn định. Đồng thời bản thân cơ chế hai bên, ba bên cũng không
ngừng vận động, hoàn thiện các nội dung hoạt động và tăng cường tính hiệu quả của
mình trong nền kinh tế. Cơ chế quan hệ lao động là bất kỳ một cách thức dàn xếp nào
giữa các bên miễn là hướng tới mục tiêu là dàn xếp thành công lợi ích các bên. Cách
thức đó rất đa dạng, mang tính sáng tạo mà không bị hạn chế bởi bất kỳ một khuôn
mẫu hay quy định pháp lý nào. Cơ chế quan hệ lao động được biểu hiện thành các hình
thức đối thoại như: tiếp xúc, chia sẻ thông tin lẫn nhau, tham vấn hay thương lượng.
2


ở doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp.
Chính vì vậy nên cơ chế hai bên chủ yếu là giải quyết những vấn đề đặc thù của
ngành, của doanh nghiệp. Bên cạnh đó hình thức hoạt động của cơ chế hai bên rất đa
dạng, chẳng hạn như viết thư, nhắn tin điện thoại, thể hiện bằng văn bản,...Song song
với sự đa dạng về hình thức hoạt động là sự linh hoạt về chủ thể giữa người lao động
và người sử dụng lao động như cá nhân người lao động, tập thể người lao động hay tổ
chức công đoàn, Hiệp hội người sử dụng lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao
động. Sự tương tác trong cơ chế hai bên diễn ra dưới hình thức thương lượng tập thể,
3


thực hiện các thỏa ước lao động tập thể, giải quyết xung đột về tiền lương, thời gian
làm việc, kỷ luật, sa thải. Trong nội dung của thỏa ước lao động tập thể thường gồm
các vấn đề liên quan tới tiền lương, điều kiện làm việc,...
Để cơ chế hai bên hoạt động hiệu quả cần phải có một khuôn khổ pháp lý rõ
ràng, ổn định và có tính hiệu lực cao, đây chính là sự phụ thuộc của cơ chế hai bên vào
cơ chế ba bên. Thị trường lao động phát triển thực sự là một điều kiện để cơ chế hai
bên hoạt động hiệu quả vì thị trường lao động phát triển thì quan hệ lao động được
hình thành trên nhiều lĩnh vực kinh tế và thương mại, từ đó mối quan hệ giữa người
lao động và người sử dụng lao động ngày càng phát triển ở những mức độ cao hơn.
Ngoài ra người sử dụng lao động phải có tổ chức đại diện đủ mạnh và người lao động
phải có khả năng liên kết tốt trên tinh thần tự nguyện khi tham gia thực hiện cơ chế hai
bên với sự hỗ trợ của Chính phủ hay các cơ quan trung gian, độc lập.
2.3 Cơ chế ba bên (Tripartite Mechanism)
Cơ chế ba bên ra đời được xem là một hiện tượng tự nhiên và tất yếu khi nền
công nghiệp trên thế giới phát triển đến một giai đoạn nhất định. Đối với cơ chế ba
bên, có sự tham gia của Chính phủ nên những vấn đề phát sinh sẽ không được Chính
phủ thảo luận với từng cá nhân người lao động, không trực tiếp giải quyết vấn đề với
cá nhân mà chỉ thông qua tổ chức đại diện chính thức của họ. Khác với cơ chế hai bên,
trong cơ chế ba bên Nhà nước tham gia với tư cách là một đối tác xã hội.

giải quyết vấn đề trong phạm vi thẩm quyền của mình và những thẩm quyền này phải
tuân theo quy định của pháp luật. Chính phủ sẽ đóng vai trò là bên tham khảo ý kiến
của người lao động và người sử dụng lao động trong việc giải quyết các vấn đề. Sau đó
Chính phủ sẽ là người đưa ra quyết định cuối cùng. Trong từng cấp độ hoạt động, cơ
chế ba bên hoạt động dưới các hình thức khác nhau. Ở cấp doanh nghiệp, hoạt động
mang tính chất thấp hơn, chủ yếu chỉ có hai đối tác hoạt động, tham gia dưới hình thức
cùng nhau thảo luận, bàn bạc những vấn đề liên quan đến việc áp dụng khuôn khổ của
pháp luật. Ở cấp quốc gia, hoạt động dưới hình thức tham khảo ý kiến của đối tác xã
hội trong việc hình thành các chính sách quốc gia, đây là hình thức hoạt động mang
tính chất cao hơn.
Để cơ chế ba bên hoạt động có hiệu quả thì thị trường lao động phải phát triển ở
một trình độ nhất định. Bên cạnh đó các tổ chức đại diện của người lao động và người
sử dụng lao động phải có tính đại diện cao. Nghĩa là các tổ chức này phải hiểu được
những biểu hiện lợi ích thật sự của bên mà mình đại diện, phải sẵn sàng và nỗ lực để
bảo vệ lợi ích đồng thời phải có đủ khả năng và năng lực để phân tích, nhận biết,
hướng dẫn về lợi ích thật sự và làm gia tăng lợi ích của bên mà mình đại diện.
3. Thực trạng của sự vận hành cơ chế hai bên và cơ chế ba bên trong quan hệ lao
động ở Việt Nam
3.1 Thực trạng của sự vận hành cơ chế hai bên trong quan hệ lao động ở Việt Nam
Trong cơ chế hai bên chỉ có hai bên chủ thể tham gia là người lao động (đại
diện người lao động) và người sử dụng lao động (đại diện người sử dụng lao động)
tham gia dàn xếp vấn đề một cách trực tiếp do đó kết quả tương tác giữa hai bên sẽ ảnh
hưởng nhanh chóng đến quyền và lợi ích giữa hai bên thông qua các cam kết, thỏa
thuận giữa các bên. Ở Việt Nam cơ chế hai bên luôn tồn tại trong doanh nghiệp, đó là
sự tương tác trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao động hoặc giữa các
đại diện với nhau. Cơ chế này được thể hiện qua thỏa ước lao động tập thể, thương
lượng tập thể nhằm giải quyết những mâu thuẫn xảy ra giữa hai chủ thể. Thương lượng
lao động tập thể chính là sự dàn xếp trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng
5


doanh nghiệp ổn định phát triển sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên trong thời gian quan
hệ tương tác trong doanh nghiệp cũng như sự phối hợp giữa người lao động và người
sử dụng lao động chưa thật sự lành mạnh, tình trạng tranh chấp lao động dẫn đến các
cuộc đình công tự phát, đình công bất hợp pháp có xu hướng ngày càng gia tăng gây
ảnh hưởng đến nền kinh tế, trật tự xã hội. Theo số liệu thống kê thì số vụ đình công có
sự biến đổi trong suốt giai đoạn từ năm 1995 đến 2015. Cụ thể là năm 1995 có 60 cuộc
đình công, năm 2010 có 424 cuộc đình công đến năm 2015 có 245 cuộc đình công xảy
ra trên cả nước, mặc dù trong từng giai đoạn số vụ đình công có lúc giảm, lúc tăng
6


không ổn định nhưng vẫn tăng so với giai đoạn đầu. Từ đó ta cho thấy cơ chế hai bên
không thể hoạt động độc lập, tách rời khỏi khuôn khổ của pháp lý và vai trò của Chính
phủ mà ngược lại, cơ chế hai bên hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật và những
chính sách do Chính phủ ban hành, điều này là hoàn toàn phù hợp vì điều kiện để cơ
chế hai bên vận hành có hiệu quả là phải luôn có khuôn khổ pháp lý rõ ràng, ổn định
và có hiệu lực cao.
Ta có thể thấy cơ chế hai bên hoạt động và giải quyết những vấn đề đặc thù ở
cấp ngành, cấp doanh nghiệp, giải quyết những vấn đề xảy ra tại nơi làm việc giữa
người lao động và người sử dụng lao động nên hoạt động này sẽ diễn ra tương đối
thường xuyên và rất dễ xảy ra xung đột. Những vấn đề xung đột nhỏ xảy ra giữa người
lao động và người sử dụng lao động sẽ được dàn xếp bằng cách thương lượng thông
qua các thỏa ước lao động tập thể giữa các bên nhưng việc giải quyết vấn đề vẫn phải
nằm trong khuôn khổ pháp luật. Tuy nhiên khi vấn đề phát sinh mà hai bên không thể
giải quyết được thì cần có sự can thiệp của Nhà nước. Lúc này Nhà nước sẽ là bên thứ
ba tham gia vào quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động với
tư cách là một đối tác xã hội.
Chính vì vậy có thể thấy quan hệ lao động giữa người lao động và người sử
dụng lao động không thể đơn thuần hoạt động tách biệt, riêng lẻ mà luôn nằm trong
khuôn khổ pháp lý và để duy trì được hiệu quả thì phải phụ thuộc vào cơ chế ba bên.

định chính sách pháp luật liên quan đến quyền, lợi ích của các bên trong quan hệ lao
động
Quan hệ lao động không chỉ được thừa nhận ở cấp quốc gia mà còn được thừa
nhận ở cấp quốc tế. Tổ chức của người lao động và người sử dụng lao động đã phải
ngồi lại với nhau để thương thuyết về các vấn đề liên quan tới quyền lợi của các bên.
Từ chỗ chỉ can thiệp vào mối quan hệ hai bên bằng luật lệ, Nhà nước cũng dần trở
thành đối tác xã hội của hai bên để tạo lập một cơ chế mới điều chỉnh quan hệ lao
động, đó là cơ chế ba bên. Như vậy có thể nói cơ chế ba bên ra đời là cần thiết khi nền
công nghiệp thế giới phát triển đến một giai đoạn nhất định. ILO chính là một tổ chức
được thiết lập theo mô hình cơ chế ba bên.
Cơ chế ba bên là cơ chế hợp tác, chia sẻ quyền lực và trách nhiệm giữa Nhà
nước, người lao động và người sử dụng lao động. Ở một góc độ nào đó Nhà nước phải
chấp nhận chuyển một phần quyền lực của mình cho các đối tác xã hội khác. Những
vấn đề liên quan đến vận mệnh của ba bên sẽ được ba bên cùng trao đổi, bàn bạc và
quyết định. Trong mối quan hệ trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao
động thì thương lượng tập thể sẽ thực sự được đề cao và nhìn chung các vấn đề quan
trọng giữa hai bên sẽ được giải quyết bằng con đường thương lượng. Khi giải quyết
những vấn đề phát sinh giữa cơ chế hai bên chính là cơ sở để cơ chế ba bên hoạt động
và tạo ra được những khuôn khổ pháp lý chung nhất nhằm hoàn thiện cơ chế ba bên và
làm nền tảng để giải quyết cơ chế hai bên có hiệu quả.
Cơ chế ba bên chỉ tồn tại và vận hành ở cấp quốc gia, ít vận hành ở cấp ngành
và địa phương. Trong quan hệ lao động, cơ chế ba bên là một cơ chế điều chỉnh có tính
chất đặc thù, xuất phát từ những đặc tính riêng biệt của quan hệ lao động. Cơ chế hai
bên hoạt động giải quyết các vấn đề về định hướng chính sách liên quan đến lao động.
Cơ chế ba bên chỉ dàn xếp những vấn đề chung nhất, những vấn đề mang tính pháp lý
từ phía Nhà nước như chiến lược phát triển kinh tế, chính sách xã hội, chính sách tiền
lương, các văn bản pháp luật,...nhằm bổ sung, hỗ trợ cho cơ chế hai bên hoạt động. Ở

8


trong Bộ luật lao động, hoặc đã được thành lập nhưng chỉ có tính chất bổ sung mà
không phải là thành phần chủ yếu. Việc tham gia của các tổ chức đại diện người lao
động và người sử dụng lao động vào lĩnh vực lao động vẫn bị hạn chế ở vai trò “tư
vấn” để cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền “tham khảo”.
Về phía chủ thể trong quan hệ ba bên: Trước hết chủ thể người sử dụng lao động còn
tồn tại nhiều yếu kém. Vì ở Việt Nam các chủ thể Doanh nghiệp vẫn hoạt động đơn lẻ
kiểu phận ai nấy giữ. Bên cạnh đó việc Chính phủ quy định quy định phòng Thương
mại và công nghiệp Việt Nam, Hội đồng liên minh hợp tác xã đại diện của người sử
9


dụng lao động là không phù hợp nên trong các vụ xung đột về quyền lợi lao động hầu
như không có vai trò tham gia của hai tổ chức này. Còn chủ thể thứ hai là các cơ quan
Nhà nước giữ vai trò chỉ đạo chi phối đối với hai chủ thể kia, tuy nhiên từ việc tham
mưu xây dựng pháp luật đến thực hiện chức năng quản lý đều thể hiện một cách hời
hợi, yếu kém, thiếu năng lực. Thực tế cho thấy phần lớn các cuộc đình công xảy ra vì
những phát sinh do vi phạm của người sử dụng lao động, nhưng cơ quan Nhà nước lại
bất lực, không thể hiện được vai trò của mình. Đối với chủ thể thứ ba là công đoàn đại
diện người lao động cũng thể hiện sự yếu kém phụ thuộc. Đặc biệt ở cấp cơ sở chưa
thực sự đại diện bảo vệ quyền lợi người lao động mà phần lớn chỉ chú trọng trong các
hoạt động văn, thể, mỹ, sinh đẻ có kế hoạch…phần lớn các cuộc đình công trong thời
gian qua người lao động phải tự phát đấu tranh.
Nguyên nhân dẫn đến sự thể hiện chưa hoàn thiện của cơ chế ba bên ở Việt Nam có
thể kể đến những lý do đó là: do ảnh hưởng của cơ chế bao cấp, thiếu khả năng phân
tích cũng như kỹ năng thương lượng của các nhà đại diện trong nền kinh tế thị trường,
đội ngũ cán bộ còn yếu kém về kinh nghiệm, tổ chức đại diện cho giới chủ chưa mạnh,
cách thức tổ chức và hoạt động của công đoàn đại diện cho người lao động hiện nay
còn ảnh hưởng bởi thời kì tập trung bao cấp, chất lượng cán bộ công đoàn còn hạn chế,
kém năng lực.
3.3 Sự phối hợp hoạt động của cơ chế hai bên và cơ chế ba bên


Vai trò đối với nhau

Cơ chế hai bên

Cơ chế ba bên

Hoạt động ở cấp ngành, Hoạt động ở cấp quốc tế,
cấp doanh nghiệp
cấp quốc gia, cấp địa
phương
Bàn về những vấn đề mang
tính cụ thể, tính đặc thù của
từng ngành, từng doanh
nghiệp

Bàn về những vấn đề
chung của mọi ngành,
những chiến lược hay
chính sách có tầm ảnh
hưởng lớn

Phía người lao động: cá
nhân người lao động, công
đoàn doanh nghiệp, công
đoàn ngành

Phía người lao động: Tổ
chức công đoàn do Nhà
nước lựa chọn và chỉ định

người lao động và người sử dụng lao động còn cơ chế hai bên lại hoạt động trong
khuôn khổ pháp lý do sự tương tác giữa các chủ thể trong cơ chế ba bên tạo ra. Xét về
11


cấp độ hoạt động ta thấy cơ chế hai bên hoạt động ở cấp ngành, cấp doanh nghiệp
nhưng khi có sự tham gia của Chính phủ thì cơ chế hai bên lập tức trở thành cơ chế ba
bên hoạt động ở cấp quốc gia, cấp địa phương và có những tính chất của cơ chế ba
bên. Xem xét sự phối hợp của cơ chế hai bên và cơ chế ba bên trong việc xác lập các
tiêu chuẩn lao động tại nơi làm việc ta nhận thấy khi đánh giá về điều kiện lao động tại
mỗi nơi làm việc cần tập trung đánh giá trên ba phương diện: phương diện pháp lý,
phương diện kinh tế và phương diện xã hội cụ thể như sau:
Phương diện pháp lý: xác định tính hợp pháp của đầu ra, đây là kết quả của cơ
chế ba bên. Nhà nước xây dựng các ngưỡng pháp lý nhằm xác định khoảng hợp pháp
cho các tiêu chuẩn.
Phương diện kinh tế: xác định tính hợp lý của điều kiện lao động, đây là kết quả
của cơ chế hai bên cấp ngành. Mỗi ngành được xem là một phân mảng của thị trường
lao động. Kết quả của sự tương tác hai bên ở cấp ngành là tìm ra điểm hợp lý của tiêu
chuẩn lao động.
Phương diện xã hội: xác định mức hợp tình của điều kiện lao động. Đánh giá
dựa vào các phương diện đạo đức của xã hội, thiện chí và khả năng mặc cả của các
bên, đây là kết quả cơ chế hai bên cấp doanh nghiệp. Có thể mô phỏng sự kết hợp giữa
cơ chế hai bên và cơ chế ba bên trong việc xác lập tiêu chuẩn lao động về tiền lương
tại nơi làm việc thông qua sơ đồ sau:
Sơ đồ sự phối hợp giữa cơ chế hai bên và cơ chế ba bên trong việc xác lập tiêu
chuẩn lao động về tiền lƣơng tại nơi làm việc.
LS

WTT


được coi là tiêu chuẩn pháp lý của tiền lương, là điểm xác định tính hợp pháp của tiền
lương. Trong khi đó tiền lương cân bằng WE có thể được xem là sản phẩm của cơ chế
hai bên cấp ngành. Mỗi ngành thường có mức cân bằng khác nhau. Mức cân bằng này
là cơ sở để các công đoàn ngành mặc cả với phía chủ sử dụng lao động. Tiền lương
cân bằng là kết quả mặc cả thực tế giữa công đoàn và chủ doanh nghiệp (hoặc giữa cá
nhân người lao động với chủ doanh nghiệp). Mức lương này được các bên mặc cả dựa
trên sự cân nhắc tính hợp pháp, tính hợp lý, khả năng tương tác trực tiếp của hai bên
và điều kiện cụ thể của doanh nghiệp.
Khi một cơ chế hai bên hoạt động tốt, hiệu quả thì sẽ góp phần thúc đẩy sự hoạt
động có hiệu quả của cơ chế hai bên chứ không thể hoàn toàn thay thế cơ chế hai bên
vì đôi lúc có những vấn đề cụ thể phát sinh trong quan hệ lao động thì cần có cơ chế
hai bên giải quyết. Vì vậy cơ chế hai bên và cơ chế ba bên có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau trong đó cơ chế hai bên nằm trong cơ chế ba bên. Cơ chế hai bên giữa người lao
động và người sử dụng lao động vẫn luôn được vận hành. Cơ chế ba bên là một cơ
cấu, hình thức được sử dụng với sự tham gia của người lao động, người sử dụng lao
động và Nhà nước nhằm xây dựng, thực thi chính sách pháp luật, các tiêu chuẩn lao
động, xử lí các vấn đề phát sinh trong quá trình lao động nhằm xây dựng mối quan hệ
lao động hài hòa, ổn định. Như vậy có thể thấy cơ chế ba bên vận hành nhằm mục đích
vận hành cơ chế hai bên.
Ở Việt Nam sự tham gia tồn tại của cơ chế ba bên thể hiện qua việc công nhận
sự tham gia của tổ chức công đoàn và đại diện người sử dụng lao động vào một số hoạt
động liên quan đến xử lí mối quan hệ lao động như việc làm, tiền lương, giải quyết
tranh chấp lao động, đó là những vấn đề nảy sinh trong cơ chế hai bên. Các quyết định
của cơ chế ba bên được ban hành dựa trên việc tham khảo mối quan hệ giữa các chủ
thể trong cơ chế hai bên. Cụ thể là cơ chế ba bên thể hiện qua việc tổ chức và hoạt
động của các cơ cấu hỗn hợp giữa Chính phủ, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam,
phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam trong việc xây dựng và hoạt động các
chính sách pháp luật liên quan đến quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ lao
13


đó cũng tiến hành vận động công nhân và thương lượng với công ty. Khi đó ta nhận
thấy rất rõ vai trò của Nhà nước là đã dập tắt cuộc đình công tạm thời, giải quyết các
vấn đề liên quan giữa lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động nhưng
không phải đơn phương giải quyết mà thông qua sự thỏa thuận giữa các bên được thể
hiện qua cuộc đối thoại giữa công nhân và chủ công ty khi có yêu cầu của chính quyền
địa phương tại nơi xảy ra đình công.
Do đó một lần nữa ta khẳng định sự can thiệp của cơ chế ba bên là tạo điều kiện
thuận lợi để cơ chế hai bên hoạt động hiệu quả hơn. Nếu không có sự can thiệp của cơ
14


chế ba bên trong những mâu thuẫn phát sinh ngày càng lớn thì cơ chế hai bên không
thể dàn xếp được. Cụ thể trong tình huống trên, nếu không có sự can thiệp của chính
quyền địa phương thì công nhân và chủ công ty không thể ngồi lại với nhau để đối
thoại, dàn xếp vấn đề.
Tuy bài viết không phải nhằm mục đích so sánh sự phối hợp cơ chế hai bên và
cơ chế ba bên ở Việt Nam và Singapore nhưng chúng ta có thể điểm sơ qua về sự phối
hợp cơ chế hai bên và cơ chế ba bên của Singapore để nhận thấy một vài sự khác biệt
so với sự phối hợp cơ chế hai bên và cơ chế ba bên ở Việt Nam. Chính phủ Singapore
đã cho rằng quan hệ lao động hài hòa đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế,
do đó Singrapore đã tạo dựng mối quan hệ cơ chế hai bên và ba bên theo lối không
mâu thuẫn mà có mối quan hệ hỗ trợ với nhau. Đây là điểm giống nhau trong sự phối
hợp hai cơ chế so với Việt Nam. Bên cạnh đó sự phối hợp giữa cơ chế hai bên và cơ
chế ba bên trong việc xác lập các tiêu chuẩn lao động tại nơi làm việc cũng tương tự
như đối với Việt Nam được thể hiện thông qua phương diện pháp lý nhằm xác định
tính hợp pháp, phương diện kinh tế nhằm xác định tính hợp lý, phương diện xã hội
nhằm xác định mức độ hợp tình của điều kiện lao động. Ở Singapore hầu như cơ chế
ba bên được thể hiện là chủ yếu, mặc dù vẫn tồn tại cơ chế hai bên. Ở Việt Nam cơ chế
ba bên đã xuất hiện nhưng còn khá mập mờ. Chính phủ Singapore đã xây dựng các
thiết chế cứng về tòa án, ủy ban, hội đồng quốc gia hay thiết chế mềm là các ủy ban ba

đặc biệt quan trọng là Nghị định số 145/2004/NĐ-CP. Nghị định số 145/2004/NĐ-CP
đã đề cập đến những vấn đề cơ bản đó là nguyên tắc tham khảo cơ chế ba bên, các
hình thức tham gia ý kiến và trách nhiệm của các bên. Việc tham gia ý kiến được thực
hiện dưới hai hình thức là tham gia ý kiến bằng văn bản và tổ chức hội nghị các bên.
Thực tiễn áp dụng cơ chế ba bên cũng đã đạt được một số thành công nhất định, ví dụ
như trước khi quyết định các chính sách, pháp luật về lao động, các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền soạn thảo vản bản đều tổ chức lấy ý kiến chính thức của các bên đại
diện người lao động và sử dụng lao động. Ngoài ra, trong một số trường hợp, đại diện
người lao động và sử dụng lao động còn được mời tham dự các phiên họp thường kỳ
của Chính phủ bàn về các vấn đề có liên quan đến lĩnh vực lao động. Nhìn chung, cơ
chế tham khảo ý kiến ba bên ở Việt Nam mới được hình thành chủ yếu ở cấp quốc gia
và đang trong quá trình hoàn thiện tuy nhiên đã có một số tác dụng thiết thực. Nó đã
góp phần quan trọng vào việc phát huy tính dân chủ trong quan hệ lao động và giúp
cho Nhà nước ban hành các quyết sách về lao động, ổn định quan hệ lao động, tạo tiền
đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, nước ta đang trong quá trình thực hiện
việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, nơi mà quan hệ công nghiệp còn chưa
định hình rõ nét, các đối tác xã hội còn thiếu kinh nghiệm về đối thoại xã hội, việc
nghiên cứu tổ chức và vận hành cơ chế ba bên cho phù hợp với điều kiện của nước ta
hiện nay là hết sức quan trọng.
Như những bất cập được nhắc đến trong sự vận hành cơ chế hai bên và sự vận
hành cơ chế ba bên đã nêu ở trên, thì nhìn chung có những điểm bất cập cơ bản như:
Tổ chức đại diện chưa thật sự đại diện, nghĩa là chưa là tốt chức trách của mình. Điểm
bất cập thứ hai cũng không kém phần quan trọng chính là cơ quan Nhà nước. Nhà
nước phải là cơ quan vững chắc và lý luận hợp pháp nhất để giải quyết ổn thỏa các
tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động, không áp chế quá mức hay
xâm phạm quyền lợi các bên quá mức. Luật lao động (2012) của nước ta hiện nay vẫn
còn nhiều bất cập và sai sót trong quá trình điều chỉnh những điều khoản cho thấu tình
hợp lý và cân xứng giữa người lao động và người sử dụng lao động. Thứ ba, các bên
tham gia quan hệ lao động chưa thực sự nghiêm túc, vẫn còn rất nhiều những bất cập
16

quan hệ lao động ở Việt Nam, Nhà nước cần phải chú trọng tính công bằng, nghiêm
minh và sáng suốt trong quá trình kiểm soát sự thực hiện của các bên tham gia trong
quan hệ lao động cũng như quá trình giải quyết tranh chấp nếu xảy ra. Các điều khoản,
luật lệ cần được bổ sung, sửa đổi kịp thời để phù hợp với tình hình kinh tế, sản xuất
trong nước, từ đó giúp cho quá trình vận hành cơ chế hai bên và ba bên trong quan hệ
lao động ở Việt Nam luôn được suôn sẻ và bắt kịp với sự phát triển của nước ngoài.

17


6. Kết luận
Việc vận hành cơ chế ba bên ở Việt Nam một cách hiệu quả sẽ tạo động lực
cũng như cơ sở pháp lí cho nền kinh tế nước ta phát triển ổn định, hạn chế xảy ra tranh
chấp.
Như vậy cơ chế ba bên ra đời như một kết quả tất yếu, một hiện tượng tự nhiên
trong nền kinh tế thị trường phát triển như hiện nay. Mặc dù cơ chế hai bên là sự dàn
xếp trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao động nhưng lại không thể hoạt
động riêng lẻ, hoạt động tách biệt ra khỏi cơ chế ba bên mà luôn hoạt động trong
khuôn khổ của cơ chế ba bên. nói đúng hơn là cơ chế hai bên luôn phụ thuộc vào cơ
chế ba bên. Ngược lại sự phát triển, hoàn thiện và kết quả của cơ chế ba bên lại xuất
phát từ cơ chế hai bên. Đúng hơn cơ chế ba bên chính là nền tảng, là khuôn khổ pháp
lý cho sự hoạt động có hiệu quả của cơ chế hai bên. Như vậy sự phối hợp của cơ chế
hai bên và cơ chế ba bên trong quan hệ lao động là rất cần thiết. Có thể xem đây là một
cơ sở thúc đẩy sự phát triển của quan hệ lao động. Đặc biệt là ở Việt Nam - một quốc
gia hình thành quan hệ lao động muộn hơn so với thế giới và việc vận dụng sự kết hợp
cơ chế hai bên và cơ chế ba bên còn khá mới mẻ. Chính vì vậy cần phải đảm bảo sự
vận hành cơ chế hai bên và cơ chế ba bên thật hiệu quả nhằm thúc đẩy cho nền kinh tế
phát triển hơn trong tương lai.
7. Danh mục tài liệu tham khảo
1. TS. Nguyễn Duy Phúc, 2015. Giáo trình Các nguyên lý quan hệ lao động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status