Tiểu luận chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình của nhà nước ta, thực trạng và giải pháp - Pdf 43

Tiểu luận: Chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình của Nhà nước ta, thực
trạng và giải pháp.
LỜI MỞ ĐẦU
“Dân số ổn định – Xã hội phồn vinh – Gia đình hạnh phúc”
Chính sách về dân số - kế hoạch hoá gia đình (DS-KHHGĐ) luôn được xác
định là một bộ phận quan trọng của Chiến lược phát triển đất nước, một trong
những vấn đề kinh tế xã hội hàng đầu của quốc gia. Thực hiện tốt chính sách dân
số - kế hoạch hoá gia đình là giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống
của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương,
chính sách, luật pháp, chiến lược nhằm quan tâm toàn diện đến vấn đề dân số - kế
hoạch hoá gia đình. Tổng cục Dân số - Kế hoạch hoá gia đình và các Bộ, ngành
liên quan đã ban hành nhiều thông tư liên tịch, văn bản hướng dẫn để thực hiện có
hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng vàluật pháp của Nhà nước về chính
sách này.
Ngày 14/01/1993 tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá
VI,Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 04 về chính sách dân số và kế hoạch hoá gia
đình (gọi tắt là Nghị quyết TW 4 khoá VII), đây là văn bản có tính chất quan trọng,
làm tiền đề cho những quyết sách về dân số - kế hoạch hoá gia đình sau này của
Đảng và Nhà nước.
Quán triệt và thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng; pháp luật của
Nhà nước, qua hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết TW 04 khoá VII, với sự chỉ đạo
sâu sát của các cấp uỷ đảng, chính quyền, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ
quốc, các đoàn thể và sự hưởng ứng mạnh mẽ của nhân dân, chính sách dân số - kế
hoạch hoá gia đình đã thực sự đi vào cuộc sống và đạt được nhữngkết quả quan


trọng: nhận thức của toàn xã hội đã có bướcchuyển rõ rệt, quy mô gia đình có một
hoặc hai con được chấp hành ngày càng rộng rãi; tốc độ gia tăng dân số đã được
khống chế, số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giảm từ 3,5 con
năm 1992 xuống 2,28 con năm 2002, tỷ lệ tăng dân số giảm tương ứng từ hơn 2%

hoá gia đình là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách trong thời gian tới.
Xuất phát từ mục đích ý nghĩa to lớn ấy, chính sách dân số - kế hoạch gia
đình cần phải được quan tâm, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động.Nhằm
góp phần nhận thức đúng đắn hơn về vấn đề này, người viết lựa chọn đề tài “Chính
sách dân số - kế hoạch hóa gia đình ở nước ta, thực trạng và giải pháp”
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở những nguyên lý và phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác – Lênin , căn cứ vào một số quan điểm trong đường lối,
chính sách của Đảng và Nhà nước từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của
Đảng (12-1986), đặc biệt là những vấn đề lý luận và từ thực tiễn công tác dân số kế hoạch hóa gia đình.
Do điều kiện về thời gian, về tài liệu cũng như trình độ hiểu biết vấn đề của
người viết còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận
được những ý kiến đóng góp quý báu từ quý thầy cô và bạn đọc để tiểu luận này
được hoàn thiện hơn!


I.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH DÂN SỐ - KẾ HOẠCH
HÓA GIA ĐÌNH
1.Cơ sở lý luận:
1.1.Lý luận chung:
Dân số của mỗi quốc gia hoặc mỗi địa phương thật sự có liên quan rất mật
thiết đến sự phát triển của quốc gia, địa phương đó cũng như có ảnh hưởng rất lớn
đến chất lượng cuộc sống của người dân.
Về mặt tích cực, dân số đông đem lại nguồn lao động cho sản xuất, nhất là
khi trình độ cơ giới hóa, tự động hóa chưa cao. Tuy nhiên về mặt tiêu cực, dân số
đông dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng nhất là khi cung không đáp ứng đủ cầu.
Về mặt kinh tế, khi mà tài nguyên thiên nhiên, đầu tư cơ sở vật chất không
đáp ứng kịp tỉ lệ tăng dân số, nạn thất nghiệp sẽ là một vấn đề nan giải. Từ đó dẫn
đến những vấn đề như người lang thang, ăn xin thậm chí là những tệ nạn xã hội
như trộm cướp, mại dâm v.v... chưa kể đến sự đổ xô của nhiều người lên thành thị
làm nặng thêm những vấn đề này ở các thành phố lớn.

-Khoảng cách sinh con nên từ 3-5 năm: không làm tăng thêm gánh nặng cho
người phụ nữ về dinh dưỡng cũng như về sức khỏe giúp giảm suy dinh dưỡng,
giãm tai biến sản khoa, giúp sinh dễ. Đồng thời người mẹ có thời gian chăm sóc
trẻ, tránh bệnh tật. Không sinh khoảng cách quá xa vì có thể đã quên kinh nghiệm
nuôi con.
-Tuổi có con nên từ khoảng 22-35. Sinh lúc còn quá trẻ khi cơ thể chưa phát
triển đầy đủ làm tăng tai biến sản khoa, tăng tỉ lệ suy dinh dưỡng cho cả mẹ và con.
2.Cơ sở pháp lý:
2.1.Quan điểm của Đảng và Nhà nước:
a)Quan điểm của Đảng:


Tại Nghị quyết TW 4 khoá VII của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
vềchính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình, Đảng ta nêu rõ:
-Công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình là một bộ phận quan trọng
củachiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng
đầucủa nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của
từngngười, từng gia đình và của toàn xã hội.
- Giải pháp cơ bản để thực hiện công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình là
vận động, tuyên truyền và giáo dục gắn liền với đưa dịch vụ kế hoạch hoá gia đình
đến tận người dân; có chính sách mang lại lợi ích trực tiếp cho người chấp nhận gia
đình ít con, tạo động lực thúc đẩy phong trào quần chúng thực hiện kế hoạch hoá
gia đình.
-Đầu tư cho công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình là đầu tư mang lạihiệu
quả kinh tế trực tiếp rất cao. Nhà nước cần tăng mức chi ngân sách cho côngtác
dân số và kế hoạch hoá gia đình, đồng thời động viên sự đóng góp của cộngđồng
và tranh thủ sự viện trợ của quốc tế.
-Huy động lực lượng của toàn xã hội tham gia công tác dân số và kế hoạch
hoá gia đình, đồng thời phải có bộ máy chuyên trách đủ mạnh để quản lý theo
chương trình mục tiêu, bảo đảm cho các nguồn lực nói trên được sử dụng có hiệu

vớicông tác dân số, đẩy mạnh xã hội hoá là yếu tố quyết định sự thành công
củachương trình dân số và phát triển.
2.2.Cơ sở pháp lý:
Công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình hiện nay được tập trung thực
hiệntheo quy định tại các văn bản sau:


-Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 14/01/1993 của Hội nghị lần thứ 4 Ban
Chấphành Trung ương Đảng khoá VII về chính sách dân số và kế hoạch hoá gia
đình.
-Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 06/3/1995 của Ban Bí thư về việc đẩy mạnhthực
hiện Nghị quyết Trung ương 4 về chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình.
-Chỉ thị số 37-CT/TTg ngày 17/01/1997 của Thủ tướng Chính phủ về
việcđẩy nhanh thực hiện chiến lược dân số - kế hoạch hoá gia đình.
-Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X của Đảng.
-Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Ban Chấp hành Trung
ươngvề việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia
đình.
-Quyết định số 09/2006/QĐ-TTg ngày 10/01/2006 của Thủ tướng Chínhphủ
về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyếtsố
47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiệnchính
sách dân số và kế hoạch hoá gia đình.
-Nghị định số 114/NĐ-CP ngày 03/10/2006 của Chính phủ quy định xửphạt
hành chính về dân số và trẻ em.
-Chỉ thị số 13/2007/CT-TTg ngày 06/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ
vềviệc tăng cường thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện
Nghịquyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh
thựchiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình.
-Quy định số 94-QĐ/TW ngày 15/10/2007 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ
luậtđảng viên vi phạm.

ta có 64.412.000 người, đến năm 2007 số dân đã tăng lên tới 85.154.000 người,


năm 2008 tăng lên 86.160.000 người. Đến tổng điều tra dân số và nhà ở tại thời
điểm 0 giờ ngày 01/4/2009 dân số nước ta còn 85.789.573 người.
Từ nửa sau thế kỷ XX đến nay dân số Việt Nam tăng nhanh hoặc quá nhanh
như giai đoạn 1954-1960 với tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm là 3,93%; 1960-1970:
3,24%; 1970-1976: 3%. Năm 1992 nhịp độ tăng dân số của nước ta là 2,26%, năm
1997: 1,88%. Tốc độ tăng dân số đã giảm từ 2,34% vào năm 1979 xuống còn
1,51% vào năm 1999 và 1,21% vào năm 2007. Với tỷ lệ gia tăng dân số quá nhanh
nói trên, mỗi ngày nước ta có them 3.100 người (tương đương dân số 1 xã nhỏ),
mỗi tháng thêm khoảng 97.000 người (khoảng 1 huyện) và mỗi năm thêm khoảng
1,1 triệu người (tương đương dân số 1 tỉnh trung bình).
Sự gia tăng dân số quá nhanh đã tạo nên sức ép rất lớn đối với việc phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống của từngthành viên
trong xã hội.
2.Thực trạng chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình:
Từ khi thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp chành Trung
ương Đảng khóa VII về “chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình” và Nghị
quyết 47-NQ/TW, ngày 22-3-2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) về “tiếp tục đẩy
mạnh thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình”, công tác dân số - kế
hoạch hóa gia đình đã đạt được những kết quả quan trọng:
-Nhận thức của toàn xã hội đã có những chuyến biến rõ rệt, quy mô gia đình
có 1 hoặc 2 con được chấp nhận ngày càng rộng rãi; tốc độ gia tăng dân số nhanh
đã được khống chế, số con trung bình của một phụ nữ trong đội tuổi sinh đẻ đã
giảm mạnh từ trên 3,8 con (năm 1990) xuống 2,2 con (năm 2000) và đến nay đạt
tiệm cận mức sinh thay thế (mỗi cặp vợ chồng có khoảng 2,1 con); tỉ lệ phát triển
dân số giảm tương ứng từ hơn 2% xuống còn 1,25%.



tác động tiêu cực đến phong trào toàn dân thực hiện chính sách dân số - kế hoạch
hóa gia đình.
-Hệ thống tổ chức làm công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình trong những
năm qua có nhiều thay đổi, không ổn định. Đặc biệt, vừa qua nhiều tỉnh, thành phố
đã triển khai, xử lý việc giải thể Ủy ban Dân số - gia đình và trẻ em địa phương
không đúng với tinh thần chỉ đạo của Trung ương.
-Một bộ phận nhân dân, trong đó có cả cán bộ, đảng viên cho rằng, công tác
dân số - kế hoạch hóa gia đình đã kết thúc, dẫn tới việc coi nhẹ công tác này, tỉ lệ
sử dụng các biện pháp tránh thai giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước mà hậu quả
sẽ tăng sinh vào cuối năm nay và những năm tiếp theo.
III.PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ VỀCHÍNH SÁCH
DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HOÁ GIA ĐÌNH
1.Phương hướng:
Năm 2010 là năm cuối cùng thực hiện Chiến lược Dân số giai đoạn 2001 2010 của Chính phủ với mục tiêu tổng quát là ổn định quy mô dân số, nâng cao
chất lượng dân số, tiến tới đạt mức sinh thay thế. Để phát huy những kết quả đạt
được trong năm qua và thực hiện có hiệu quả các mục tiêu về DS-KHHGĐ trong
thời gian tới, cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương cần quan tâm các phương
hướng sau:
-Tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng và Nhà nước đối với công tác
DS-KHHGĐ, xem đây là nhiệm vụ chính trị mà cả hệ thống chính trị của địa
phương cần phải quan tâm thực hiện.
-Củng cố, kiện toàn bộ máy tổ chức của Ban DS-KHHGĐ xã, đảm bảo ổn
định số lượng và chất lượng hoạt động của đội ngũ cộng tác viên các ấp. Tiếp tục


đưa đi đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác
dân số.
-Thực hiện thường xuyên công tác kiểm tra, giám sát công tác quản lý địa
bàn của cộng tác viên, thực hiện tốt phương châm “Đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà
từng đối tượng” để tránh những thiếu sót trong quá trình cập nhật thông tin về dân

-Tiếp tục vận động người sử dụng các BPTT thuốc viên, thuốc tiêm
tránhthai, bao cao su tiếp cận nguồn cung cấp các sản phẩm tiếp thị ngoài xã hội để
tạothói quen vì nhu cầu lợi ích của bản thân, giảm chi phí của nhà nước trong việc
đầutư cho chương trình.
-Tăng cường các hoạt động phối hợp giữa các ban ngành, đoàn thể thànhviên
thông qua kế hoạch liên tịch hàng năm.
-Tăng cường và có sự đổi mới trong công tác tuyên truyền, vận động, tưvấn,
giáo dục các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vềDSKHHGĐ trong cộng đồng bằng nhiều hình thức cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, tập
trung nhiều hơn nữa cho các vùng khó khăn về 2 lĩnh vực chăm sóc sức khỏesinh
sản và KHHGĐ. Lấy sự chuyển biến từ nhận thức sang hành vi thực hiện làmthước
đo hiệu quả.
3.Kiến nghị:
Nhằm phát huy những mặt đạt được, khắc phục những khó khăn, hạn
chếtrong thời gian qua, để nâng cao chất lượng hoạt động về công tác dân số kếhoạch gia đình trong năm 2010 và những năm tiếp theo, người viết xin đề xuất
mộtsố kiến nghị sau:
-Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật có liên quan đến công tác dân sốkế hoạch hoá gia đình, đảm bảo khi ban hành có thể thực hiện được ngay.


-Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp Uỷ đảng, chính quyền địa phương
đốivới công tác này, hàng năm cần đưa các mục tiêu về DS-KHHGĐ vào Nghị
quyếtcủa Đảng uỷ - HĐND để thực hiện.
-Các ban ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội cần quan tâm hơn
nữacông tác phối hợp thực hiện các hoạt động của công tác này; đưa nội dung,
chươngtrình, mục tiêu về DS-KHHGĐ vào kế hoạch hoạt động của từng ban ngành
để tiếnhành thực hiện.
-UBND xã thường xuyên kiểm tra, giám sát, đánh giá từng hoạt động của
chương trình dân số nhằm rút ra những kinh nghiệm, kịp thời chấn chỉnh những
saisót trong quá trình thực hiện; có hình thức khen thưởng các tổ chức, đơn vị,
cánhân gương mẫu thực hiện chính sách DS-KHHGĐ, xử lý nghiêm những
trườnghợp vi phạm chính sách dân số theo quy định của Đảng và Nhà nước.

1*Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 14/01/1993 của Hội nghị lần thứ 4
BanChấphành Trung ương Đảng khoá VII về chính sách dân số và kế hoạch hoá
gia đình.


2*Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 06/3/1995 của Ban Bí thư về việc đẩy
mạnhthực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về chính sách dân số, kế hoạch hoá gia
đình.
3*Chỉ thị số 37-CT/TTg ngày 17/01/1997 của Thủ tướng Chính phủ về
việcđẩy nhanh thực hiện chiến lược dân số - kế hoạch hoá gia đình.
4*Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X của Đảng.
5*Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Ban Chấp hành Trung
ươngvề việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia
đình.
6*Quyết định số 09/2006/QĐ-TTg ngày 10/01/2006 của Thủ tướng
Chínhphủ về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị
quyếtsố 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực
hiệnchính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình.
7*Nghị định số 114/NĐ-CP ngày 03/10/2006 của Chính phủ quy định
xửphạt hành chính về dân số và trẻ em.
8*Chỉ thị số 13/2007/CT-TTg ngày 06/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ
vềviệc tăng cường thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện
Nghịquyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh
thựchiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình.
9*Quy định số 94-QĐ/TW ngày 15/10/2007 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ
luậtđảng viên vi phạm.
10*Hướng dẫn số 11/HD–UBKTTW ngày24/03/2008 của Ban Chấp
hànhTrung ương về việc thực hiện Quy định số 94-QĐ/TW ngày 15/10/2007 của
BộChính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm.Thông báo kết luận số 160-TB/TW
ngày 04/6/2008 của Ban Bí thư về thựchiện chính sách dân số - kế hoạch hoá gia


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status