LỜI NÓI ĐẦU
“Dân số ổn định – Xã hội phồn vinh – Gia đình hạnh phúc”
1. Lí do chọn đề tài
Xuất phát điểm của nền kinh tế Việt Nam là rất thấp, nước ta lại là
một nước đông dân với tốc độ tăng dân số vào loại cao nhất trên thế giới.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: Điều kiện tiên quyết để
thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước là ổn định dân số, lao
động nhằm hoàn thành cơ bản công cuộc Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa
đất nước từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Cùng với nhân dân cả nước, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Vĩnh
Phúc đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
cho nhân dân đạt được những thành tựu đáng kể. Những năm qua, các cấp
ủy Đảng, chính quyền luôn coi trọng công tác truyền thông, xem đây là giải
pháp tích cực nhằm tạo sự chuyển biến nhận thức cho người dân. Từ đó, có
những quyết định và thực hiện những hành vi có lợi cho sức khỏe sinh sản
(SKSS) của bản thân, gia đình và xã hội. Xác định tầm quan trọng ấy, Chi
cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS - KHHGĐ) tỉnh đã đẩy mạnh công
tác truyền thông dân số đến với người dân.
Thời gian gần đây khi tìm hiểu trên các phương tiện thông tin đại chúng, tôi
nhận thấy vấn đề dân số đang mang tính thời sự vừa cấp bách vừa lâu dài
có ảnh hưởng sâu sắc tới quá trình phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh. Do
đó cần thiết và sớm phải có một sự xem xét, đánh giá trung thực và khoa
học về vấn đề này từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm phát huy những
thành tựu đã đạt được và từng bước giải quyết các vấn đề tồn đọng đề tạo
điều kiện phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh. Xuất phát từ mục đích ý nghĩa
to lớn ấy, chính sách dân số - kế hoạch gia đình cần phải được quan tâm,
củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động. Nhằm góp phần nhận thức đúng
1
đắn hơn về vấn đề này, người viết lựa chọn đề tài: Nhân dân Vĩnh Phúc
không phải là một khối người thuần nhất và đồng dạng mà ngược lại đây là
một thực thể phức tạp, bao gồm nhiều nhóm, nhiều giới, nhiều tầng lớp và
giai cấp xã hội khác nhau với những đặc trưng đa dạng và những quyền lợi
dị biệt và nhiều khi mâu thuẫn nhau.
d. Công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình
Dân số của mỗi quốc gia hoặc mỗi địa phương thật sự có liên quan rất mật
thiết đến sự phát triển của quốc gia, địa phương đó cũng như có ảnh hưởng
rất lớn đến chất lượng cuộc sống của người dân
3
Kế hoạch hóa gia đình là một biện pháp căn cơ giúp giải quyết vấn đề dân
số và nâng cao chất lượng cuộc sống. Kế hoạch hóa gia đình ngoài mục
đích hạn chế sự gia tăng dân số còn nhằm bảo vệ sức khỏe của người phụ
nữ và trẻ em đồng thời đem lại hạnh phúc cho vợ chồng.
4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ THUYẾT
*Khái quát về Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc thuộc vùng Đồng bằng Sông Hồng, phía Bắc giáp Thái
Nguyên và Tuyên Quang, phía Tây giáp Phú Thọ, phía Đông và Nam giáp
Hà Nội, có diện tích tự nhiên là 1.231,76 km2.
Hiện nay, Vĩnh Phúc có 137 xã, phường, thị trấn thuộc 9 đơn vị hành chính
là thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và 7 huyện: Sông Lô, Lập Thạch,
Tam Dương, Tam Đảo, Bình Xuyên, Vĩnh Tường và Yên Lạc.
Vĩnh Phúc là địa phương nằm trong ba vùng quy hoạch lớn của Trung
ương: vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng Đồng bằng sông Hồng và
các hành vi ứng xử dân số. Nói cách khác, thực trạng tình hình kế hoạch
hóa gia đình chủ yếu sẽ là tỷ lệ thuận với chiều hướng hoạt động của dịch
vụ thông tin – giáo dục và tuyên truyền dân số. Và một khi theo chiều
hướng tích cực thì thành quả của nó là chắc chắn, lâu dài và hoàn toàn
đáng tin cậy.
I.
Đặc điểm dân số Vĩnh Phúc
Dân số trung bình tỉnh Vĩnh Phúc theo tổng điều tra dân số và nhà ở
tháng 4/2009 là khoảng 1.000,8 ngàn người, trong đó nam khoảng 499,5 ngàn
người (chiếm 49,5%), nữ khoảng 505,3 ngàn người (chiếm 50,5%). Đến năm
2011, dân số tỉnh là 1.027.632 người, mật độ dân số là 821 người/ km2 Dân
số đô thị năm 2009 chiếm gần 22,4%, nông thôn chiếm 77,6%.
Toàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện có 10.634 hộ đồng bào dân tộc thiểu số với 43.932
nhân khẩu đang sinh sống tại 301 thôn của 40 xã, thị trấn thuộc 5 huyện Lập
Thạch, Tam Đảo, Bình Xuyên, Tam Dương, Sông Lô.
Về cơ cấu, dân sô trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đang chuyển dần từ cơ cấu
dân số trẻ sang cơ cấu dân số già. Người già từ 60 tuổi trở lên tăng từ
9,68% năm 2009 lên trên 11,6% năm 2011.
Theo số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 1/4/2009, tỷ số giới tính khi
sinh tại Vĩnh Phúc là 115 bé trai/100 bé gái tăng lên 116,15 nam/100 nữ
(2011).
6
Những con số này cho thấy, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh hiện
đang là vấn đề nhức nhối của ngành Dân số Vĩnh Phúc. Hiện là tỉnh đứng
thứ 10 cả nước về vấn nạn này.
- Ảnh hưởng của các yếu tố đến sự tiếp nhận truyền thông đại chúng
nhóm thiên về giải trí nhiều hơn. Về nội dung thường được theo dõi ( báo
in, tivi, radio), những người có học vấn cấp 3 và đại học – cao đẳng có xu
hướng theo dõi tin tức và thời sự nhiều hơn số cấp 1-2.
- Địa bàn cư trú
Dân cư nông thôn sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng để giải
trí là chính, sau đó mới là để theo dõi thời sự, và họ không quan tâm bao
nhiêu tới chức năng mở mang kiến thức nơi các phương tiện này giống
như nơi dân cư đô thị:
Công tác tuyên truyền vận động thực hiện DS-KHHGĐ chủ
yếu chỉ tập trung ở những nơi thuận lợi về giao thông, có
đầy đủ phương tiện thông tin, còn những hộ dân sống ở
những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số,
vùng đặc biệt khó khăn thì ít được tuyên truyền vận động.
Từ những yếu tố trên Vĩnh Phúc đã lựa chọn những phương pháp phù hợp
hơn cho chiến lược DS- KHHGĐ của mình
II.
Các kênh truyền thông và tiếp cận thông tin kế hoạch hóa gia đình.
1. Phương pháp truyền thông- giáo dục sức khỏe (TT – GDSK) trực
tiếp.
a. Tổ chức nói chuyện về sức khỏe
8
Lãnh đạo Tổng cục DS-KHHGĐ lắng nghe các cán bộ chuyên trách phản
ánh công tác dân số ở địa phương (Ảnh: TG).
+ Tổ chức đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo các ngành, các cấp với cá nhân,
tổ chức về vấn đề DS- KHHGD đến với người dân của địa phương mình.
thông qua già làng, trưởng bản, chức sắc, chức việc trong tôn giáo, dòng họ...
Qua thẩm định có nhiều khu dân cư, họ giáo tiêu biểu nhiều năm liền không có
người sinh con thứ 3 như:
- Khu phố Thái Bình, thị trấn Hoa Sơn; thôn Xuân Bái, xã Liễn Sơn; thôn
Đa Cai, xã Sơn Đông; thôn Kiên Đình - xã Quang Sơn (huyện Lập
Thạch).
- Thôn Len, xã Hải Lựu; thôn Thành Công - xã Lãng Công (huyện
Sông Lô).
- Họ giáo Ngọc Hà xã Thái Hoà, (huyện Lập Thạch), họ giáo Văn Thạch
( huyện Lập Thạch).
10
- Các họ giáo: Thống Nhất, Tân Ngọc, Bảo Sơn thuộc xã Bá Hiến, họ
giáo An Lão ở xã Hương Sơn (huyện Bình Xuyên).
- Họ giáo Kim Tràng (xã Tiền Châu, thị xã Phúc Yên)...
Tổ chức ký cam kết các làng, bản, khu dân cư thực hiện tốt 6 nội dung cuộc vận
động: "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư", đăng ký
khu dân cư, hộ gia đình đạt tiêu chuẩn Khu dân cư tiên tiến, Làng văn hoá, Gia
đình văn hóa
- Có 193.972 gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa các cấp. MTTQ tỉnh
phối hợp với Sở Văn hóa- Thể thao và Du lịch rà soát, đề nghị công nhận
44 làng, bản, khu phố đạt tiêu chuẩn Làng văn hóa xuất sắc năm 2009.
- 2. Phương pháp TT – GDSK gián tiếp
a. Đài/loa phát thanh
Các thông điệp GDSK có thể truyền đến đối tượng qua đài phát thanh,
dưới nhiều hình thức như: bài nói chuyện, bản tin sức khoẻ, hỏi đáp về
phòng bệnh. Thời lượng phát tin tuỳ thuộc vào nhu cầu người làm công tác
GDSK. Việc lựa chọn thời điểm phát tin trên đài/loa cũng cần lưu ý để đạt
truyền thông trở nên dễ dàng hơn.
c. Video
Đây là loại phương tiện nghe, nhìn hiện đại, sinh động, hấp dẫn. Sử dụng
nó chủ động hơn truyền hình trong công tác TT- GDSK. Loại hình này có
thể sử dụng cho một nhóm đối tượng. Việc chuẩn bị kịch bản, chương trình
thu băng kỹ thuật đòi hỏi người có chuyên môn, kỹ thuật, đồng thời cần có
kinh phí thích hợp cho các hoạt động này. Sử dụng video phối hợp với các
phương pháp khác như nói chuyện, thảo luận nhóm sẽ đem lại kết quả tốt
hơn trong GDSK:
- Ban tổ chức các chiến dịch đã tổ chức truyền thông lồng ghép cụ thể
là tổ chức chiếu các đĩa DVD về kế hoạch hoá gia đình, tổ chức
truyền thông đối với một số đối tượng nhận thức còn kém.
- Các biện pháp giáo dục trẻ vị thành niên lồng ghép với các chương trình
tuyên truyền phòng, chống tệ nạn xã hội, ma tuý, mại dâm, đảm bảo an
12
toàn giao thông, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi,
trồng trọt, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu vật nuôi, cây trồng phù hợp
với từng địa phương, cơ sở tại các huyện, thành, thị, xã, phường, thị trấn,
khu dân cư đã có 127.382 lượt người tham dự.
d. Báo, tạp chí
Đây là phương tiện truyền thông đại chúng rất phổ biến. Các bản tin sức
khoẻ, bài viết về sức khoẻ, hướng dẫn phòng bệnh, rèn luyện nâng cao sức
khoẻ có thể đăng tải trên các báo, tạp chí và các ấn phẩm in khác. Sử dụng
hình thức báo, tạp chí thường đạt kết quả cao vì số đông người dân có thể
tiếp cận, thông điệp được thể hiện trên báo chí với hình thức đa dạng, đối
tượng có thời gian để đọc và suy nghĩ kỹ lưỡng, giá cả cho
loại hình này chấp nhận được. Điển hình:
- Tổ chức biên soạn và phát hành rộng rãi các tài liệu, tờ gấp thông tin
hoạt ngoại khóa, góc thân thiện, câu lạc bộ, giáo dục đồng đẳng, sân khấu
hóa, giải ô chữ, hòm thư và bản tin tư vấn, giao lưu giữa giáo viên và cha
mẹ học sinh về các vấn đề SKSS vị thành niên thanh niên, tổ chức tham
quan dã ngoại về chủ đề SKSS, tổ chức các cuộc thi sáng tạo về SKSS, tọa
đàm, nói chuyện chuyên đề về chủ trương, chính sách và kiến thức về
DS/SKSS/KHHGĐ
III.
Kiến thức và thái độ đối với kế hoạch hóa gia đình.
Kết quả các cuộc điều tra cho thấy, người dân có tiếp cận được các thông
tin về SKSS/KHHGĐ qua các phương tiện thông tin đại chúng. Những
người nào có điều kiện xem tivi, nghe đài hay xem báo nhiều hơn thì
thường có cơ hội nhận được nhiều thông tin hơn về lĩnh vực này. Người
dân lao động tiếp cận với các thông tin về SKSS/KHHGĐ chủ yếu qua các
chương trình của đài truyền hình và đài phát thanh. Họ hầu như ít có điều
kiện để đọc báo, nhất là những báo cáo có nhiều thông tin về các vấn đề
14
này như Báo Gia đình và Xã hội, Báo Phụ nữ Việt Nam hay Báo Sức khoẻ
và Đời sống.
Nhìn chung, người dân có nguyện vọng được tiếp cận nhiều hơn tới các
thông tin SKSS/KHHGĐ trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt
là trên các kênh truyền hình. Họ mong muốn các chương trình này được
phát vào những thời gian thích hợp đối với đa số người lao động như vào
các giờ buổi tối sau bữa ăn. Có ý kiến cho rằng nếu các thông tin này được
lồng ghép vào các chương trình giải trí trên VTV3 thì các đối tượng có cơ
hội tiếp thu được tốt hơn những kiến thức về SKSS/KHHGĐ.
Đồng thời làm thay đổi hành vi xóa bỏ tư tưởng lạc hậu "trọng nam, khinh nữ"
hướng tới việc xây dựng một xã hội văn minh trên nền tảng gia đình văn hóa.
Đạt mức sinh thay thế, nâng cao chỉ số phát triển con người (HDI) từ 3 đến 5
bậc
Số trẻ em sinh ra trên địa bàn tỉnh giảm 0,69% so với năm 2009, số người
sinh con thứ 3 trở lên giảm 0,31%, tỷ số chênh lệch giới tính của trẻ khi
sinh là 115,37/100. Tỷ suất sinh: 18,14%, giảm 0,35% so với năm 2009,
vượt chỉ tiêu năm 2010. Đồng thời số người mới thực hiện biện pháp tránh
thai trong năm 2010 là 62.250 người.
Tỷ lệ trẻ em tử vong dưới 5 tuổi, tỷ lệ tử vong mẹ liên quan đến thai sản, tỷ
lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng đều giảm. Tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1
tuổi giảm từ 7‰ năm 2009 xuống còn 4,4‰.
Năm 2011, việc sàng lọc trước khi sinh được thực hiện tốt.
Năm 2012, kết quả thực hiện dịch vụ KHHGĐ 6 tháng đầu năm:
Tổng các BPTT hiện đại là: 50836 người đạt 80,69% KH năm.
Trong đó:
+ Đặt DCTC: 8536 người đạt 42,7% KH năm;
+ Triệt sản: 44 người đạt 44% KH năm;
+ Bao cao su: 15732 người đạt 98,32% KH năm;
+ Uống thuốc tránh thai: 25175 người đạt 98,73% KH năm;
16
+ Thuốc tiêm tránh thai: 1338 người đạt 102,9% KH năm;
+ Thuốc cấy tránh thai : 11 người đạt 11% KH năm.
+ Có 134 khu dân cư và họ giáo đăng kí không có người sinh con
thứ 3. (Trên tổng số 103 khu dân cư và 62 họ giáo).
+ Tổ chức sàng lọc cho 1200 ca, lấy máu kiểm tra cho 1.264 trẻ sơ
sinh
"Nhưng nói chung cũng theo dõi qua loa thôi, nhớ được nội dung không
nhiều, mọi người thường thích xem những chương trình vui chơi giải trí.
Thông tin mà chúng em nắm được phần lớn qua tuyên truyền của các Cộng
tác viên thông qua các cuộc họp phụ nữ, tổ họp dân phố… Em thấy tuyên
truyền trực tiếp thì mới có nhiều thông tin hơn, nhớ được lâu hơn về những
vấn đề nêu trên"
(Nữ, nội trợ, phường Ngô Quyền)
VI. Những khó khăn, thách thức
Tuy nhiên, công tác dân số, sức khỏe sinh sản còn một số hạn chế,
yếu kém. Kết quả giảm sinh chưa ổn định và thiếu vững chắc; tỷ lệ sinh
con thứ 3 trở lên còn cao (11,35% năm 2010), nhất là vùng xa, khó khăn và
vùng đồng bào có đạo. Chất lượng dân số chưa đáp ứng yêu cầu; các tố
chất về thể lực còn hạn chế, đặc biệt chiều cao, cân nặng, sức bền của vị
thành niên và thanh niên. Tỷ lệ phụ nữ mắc bệnh phụ khoa và tái nhiễm sau
điều trị còn cao. Tình trạng nạo phá thai phổ biến (0,6/1 ca sinh), có xu
hướng tăng ở vị thành niên và thanh niên. Giới, bình đẳng giới và vị thành
niên trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản chưa được quan tâm đúng mức;
trách nhiệm của nam giới trong việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình chưa
cao; bạo lực gia đình còn diễn biến phức tạp.
- Số trẻ em sinh ra là 9.625 cháu tăng 1139 cháu so với cùng kỳ năm 2011
bằng 13,42%; con thứ 3 trở lên là 973 cháu bằng 10,1% so với cùng kỳ là
9% tăng 1,1%.
- Tỷ số giới tính khi sinh 6 tháng đầu năm 116,97 so với cùng kỳ năm 2011
là 124,44.
Hiện nay, việc truyền thông vẫn chưa đạt hiệu quả mong muốn, một trong
những nguyên nhân là do:
19
Vì cư dân Vĩnh Phúc phân bố không đồng đều, có nhiều dân tộc với
bản sắc văn hóa, phong tục tập quán và trình độ dân trí khác nhau, đó là
những yếu tố đặc thù gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế xã hội nói
chung trong đó có công tác dân số kế hoạch hóa gia đình. Do đó, cần có
những biện pháp cụ thể để người dân có thể dễ dàng tiếp cận và thực hiện
chính sách.
- Nhằm nâng cao mức độ tiếp cận của người dân tới các thông tin SKSS
trên các kênh truyền hình và phát thanh:
(1) cần điều chỉnh thời gian phát sóng các chương trình về DS/KHHGĐ
vào buổi tối, sau các chương trình thời sự để tạo điều kiện cho đông đảo
người dân lao động tiếp cận nhiều hơn tới các chương trình này.
(2) Nên tăng cường đưa các thông tin tuyên truyền về DS/KHHGĐ lồng
ghép vào các chương trình giải trí trên các kênh truyền hình và phát thanh
để người dân lao động có thể dễ dàng tiếp nhận các thông điệp về
DS/KHHGĐ.
(3) Cần phổ biến theo ngành dọc từ Uỷ ban DS,GĐ&TE xuống cho đội ngũ
CTV dân số và cán bộ y tế cơ sở về thời gian phát sóng các chương trình
DS/KHHGĐ trên các kênh truyền hình và phát thanh để họ có điều kiện
theo dõi, qua đó, có thêm vốn kiến thức và thông tin phục vụ cho công tác
tuyên truyền, tư vấn tại cơ sở cho người dân lao động.
- Tiến hành công tác truyền thông nhằm chuyển đổi hành vi đối với các
nhóm đối tượng tại cộng đồng (bà mẹ mang thai, bà mẹ mới sinh; phụ nữ,
nam giới, các cặp vợ chồng; người chưa thành niên, thanh niên; người di
cư; người cao tuổi) và người cung cấp dịch vụ y tế.
- Tiến hành truyền thông huy động xã hội, tạo sự đồng thuận, ủng hộ của
các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức quần chúng, những người có uy tín
trong cộng đồng đối với công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình: già làng,
trưởng bản, cán bộ thôn, xã, ấp…
21
25