ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ CẨM VÂN
SỬ DỤNG CÔNG CỤ TÀI CHÍNH ĐỂ THÚC ĐẨY QUÁ
TRÌNH HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ DỮ LIỆU CỦA NGÀNH
DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH TỈNH NINH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TP. Hồ Chí Minh, 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHẠM THỊ CẨM VÂN
6
DANH MỤC CÁC BẢNG
7
DANH MỤC CÁC SƠ, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
8
PHẦN MỞ ĐẦU
9
1. Lí do chọn đề tài 9
2. Lịch sử nghiên cứu 11
3. Mục tiêu nghiên cứu 13
4. Phạm vi nghiên cứu 13
5. Mẫu khảo sát 13
6. Câu hỏi nghiên cứu 13
7. Giả thuyết nghiên cứu 14
8. Phương pháp nghiên cứu 14
9. Kết cấu luận văn 15
PHẦN NỘI DUNG
16
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG CỤ TÀI
CHÍNH ĐẾN VIỆC HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN
1.3.1.3 Khái niệm chính sách công nghệ thông tin
23
1.3.2. Vai trò của chính sách công nghệ thông tin 23
1.4. Cơ sở lý luận về dữ liệu, quản lý dữ liệu 23
1.4.1. Cơ sở lý luận về dữ liệu 23
1.4.1.1. Khái niệm dữ liệu
24
1.4.1.2. Phân loại dữ liệu
24
1.4.2. Cơ sở lý luận về quản lý dữ liệu 235
1.4.2.1. Khái niệm quản lý dữ liệu
25
1.4.2.2. Nội dung quản lý dữ liệu
25
1.4.2.3. Vai trò của quản lý dữ liệu
26
1.5. Nội dung chính sách công nghệ thông tin trong ngành DS-KHHGĐ 23
1.6. Tác động của công cụ tài chính đến chính sách công nghệ thông tin
2.3.2. Tổ chức bộ máy thực hiện quản lý dữ liệu dân số - kế hoạch hóa gia
đình tỉnh Ninh Thuận 46
2.3.3. Đánh giá thuận lợi và khó khăn trong quản lý dữ liệu dân số - kế
hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận 47
2.3.3.1. Thuận lợi
48
2.3.3.2. Khó khăn
48
2.4. Hiện trạng chính sách công nghệ thông tin trong ngành DS-KHHGĐ tại
tỉnh Ninh Thuận 49
2.4.1. Ưu điểm 51
2.4.2. Nhược điểm 51
2.5. Thực trạng tác động của các công cụ tài chính tới công nghệ thông tin 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
55
4
CHƯƠNG 3. SỬ DỤNG CÔNG CỤ TÀI CHÍNH THÚC ĐẨY QUÁ
TRÌNH HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG QUẢN LÝ DỮ LIỆU NGÀNH DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA
GIA ĐÌNH TỈNH NINH THUẬN
56
3.1. Dẫn nhập 56
75
PHỤ LỤC 03
76
PHỤ LỤC 04
83
PHỤ LỤC 05
84
5
LỜI CẢM ƠN
Vốn là một người làm công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình nên tác
giả không khỏi bỡ ngỡ khi tham gia lớp đào tạo sau đại học chuyên ngành
Quản lý Khoa học và Công nghệ, vì kiến thức được đào tạo trước đây không
thuộc lĩnh vực này. Tuy nhiên, trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thiện luận văn, tác giả đã nhận được sự truyền đạt, hướng dẫn, giúp đỡ
tận tình và đầy tâm huyết của tất cả thầy cô ở Khoa Khoa học Quản lý của
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội và cả những thầy cô
thỉnh giảng, để sự bỡ ngỡ ban đầu đã nhanh chóng trở thành sự tự tin trong
tiếp thu tri thức. Phải khẳng định rằng, những kiến thức thu nhận được trong
quá trình học tập, nghiên cứu đã thật sự phục vụ bổ ích vào quá trình công
12. CP: Chính Phủ.
13. BPTT: Biện pháp tránh thai.
14. DCTC: Dụng cụ tử cung.
15. KH: Kế hoạch.
16. CSSKSS: Chăm sóc sức khỏe sinh sản.
17. TTYT: Thông tin y tế.
7
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Kết quả thực hiện chỉ tiêu giảm sinh của ngành dân số - kế hoạch
hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận 35
Bảng 2.2. Kết quả thực hiện kế hoạch hóa gia đình của ngành dân số - kế
hoạch hóa gia đình tỉnh Ninh Thuận 36
Bảng 2.3. Cơ sở hạ tầng máy móc phục vụ công tác quản lý dữ liệu ngành
DS-KHHGĐ tỉnh Ninh Thuận 40
Bảng 2.4. Số liệu hộ, nhân khẩu toàn tỉnh Ninh Thuận xét theo số trên giấy và
số trên máy 42
Bảng 2.5. Biến động số liệu dân số toàn tỉnh Ninh Thuận xét theo số trên giấy
và số trên máy 43
Bảng 2.6. Số liệu kế hoạch hóa gia đình toàn tỉnh Ninh Thuận xét theo số trên
giấy và số trên máy 44
Tại Ninh Thuận trong 2 năm qua, tính từ giữa năm 2011, sau khi tiến
hành đổi sổ ghi chép ban đầu mới vào tháng 3-6 năm 2011, hoạt động của Hệ
thông tin quản lý Dân số - kế hoạch hóa gia đình của tỉnh có chiều hướng
chững lại. Đến những tháng cuối năm 2012 dù toàn hệ thống đang trong giai
đoạn gấp rút hoàn thiện dữ liệu, thử nghiệm báo cáo thống kê Dân số - kế
hoạch hóa gia đình điện tử, nhưng vẫn còn nhiều sự trì trệ trong hệ thống.
Đây là nguyên nhân gây nên những khó khăn cho công tác Dân số - kế hoạch
hóa gia đình.
10
Chính vì điều này và nhận thấy rất nhiều bất cập trong quá trình triển
khai việc tin học hóa quản lý dữ liệu ngành dân số - kế hoạch hóa gia đình
như thiếu các chính sách tài chính để thúc đẩy quá trình hình thành chính sách
công nghệ thông tin. Đó chính là lý do tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “Sử
dụng công cụ tài chính để thúc đẩy quá trình hình thành chính sách công
nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu ngành Dân số- Kế hoạch hóa gia đình
tỉnh Ninh Thuận” với mong muốn kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ đưa ra
giải pháp cho việc hình thành các chính sách công nghệ thông tin thúc đẩy
quá trình tin học hóa hoạt động quản lý dữ liệu dân số - Kế hoạch hóa gia
đình ở tỉnh Ninh Thuận thông qua công cụ tài chính.
Bên cạnh đó, như đã đề cập, đề tài tác giả tập trung khai thác khía cạnh
các công cụ tài chính để thúc đẩy hình thành chính sách công nghệ thông tin
trong quản lý dữ liệu. Lí do tác giả chọn các công cụ, chính sách tài chính mà
không phải các công cụ, chính sách khác là vì tầm quan trọng của các công cụ
này trong bất kỳ hoạt động nào của các tổ chức. Khi tiến hành triển khai bất
kỳ hoạt động nào trong tổ chức, tài chính là vấn đề được đặt ra đầu tiên, các
công cụ tài chính sẽ giúp quy trình triển khai được thực hiện dễ dàng và hiệu
quả hơn, đồng thời đây cũng là công cụ quyết định kết quả có tốt hay không
khi thực hiện thúc đẩy các chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ
liệu. Các công cụ và chính sách khác như chính sách con người hay các công
cụ về khoa học, công nghệ… đều có những vai trò khác nhau trong hiệu quả
Thông qua các dự án Hoàn thiện hệ thông tin quản lý DS-KHHGĐ
(thuộc Chương trình mục tiêu Quốc gia DS-KHHGĐ giai đoạn 2001-2005) và
12
dự án Nâng cao chất lượng hệ thống thông tin quản lý DS-KHHGĐ (thuộc
Chương trình mục tiêu Quốc gia DS-KHHGĐ giai đoạn 2006-2010) tại hơn
760 cơ quan dân số cấp tỉnh, cấp huyện trên cả nước được trang bị mạng máy
tính cục bộ kết nối internet cùng phần mềm chuyên dụng MIS DS-KHHGĐ
để thực hiện tin học hóa hệ thông tin quản lý DS-KHHGĐ. Từ đây đã hình
thành hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử (thường gọi kho dữ liệu điện tử) DS-
KHHGĐ để cập nhật và khai thác thông tin trong hệ thống Sổ theo dõi DS-
KHHGĐ. Hệ thống này giúp ngành Dân số quản lý hơn 21 triệu hộ và gần 90
triệu người trên cả nước với các chỉ tiêu thông tin về dân số, cũng như về kế
hoạch hóa gia đình và sức khỏe sinh sản.
Dữ liệu dân số là thông tin cơ bản cho việc hoạch định chính sách phát
triển kinh tế-xã hội của đất nước. Trong những năm vừa qua, rất nhiều cộng
tác viên, chuyên viên DS-KHHGĐ cơ sở đã vì sự phát triển của đất nước, bền
bỉ "đi từng ngõ, gõ cửa từng nhà" để vận động xã hội, gia đình, cá nhân tham
gia chương trình DS-KHHGĐ, đồng thời kiên trì ghi chép, cập nhật thông tin
về DS-KHHGĐ của mỗi người trong từng hộ. Con đường hướng đến tương
lai đã in đậm những dấu chân không mệt mỏi của họ.
Mặc dù trong giai đoạn từ 2010 đến nay, ngành dân số Việt Nam đã bắt
đầu ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu. Nhận thấy việc quản
lý dữ liệu của ngành Dân số là quan trọng và cần thiết, từ thực hiện báo cáo
thủ công chuyển sang báo cáo bằng điện tử ứng dụng phần mềm quản lý
chuyên ngành dân số - kế hoạch hóa gia đình; năm 2013, Trung tâm nghiên
cứu, thông tin và dữ liệu của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình được
thành lập. Thế nhưng, một thực tế xảy ra là chưa có bất kỳ một chính sách
công nghệ thông tin nào dành riêng cho ngành.
Ngoài ra, hiện tại ngành đang sử dụng những chính sách tài chính riêng
cho mình mà không hề có bất kỳ nghiên cứu nào về vấn đề tài chính cho phát
Ngoài việc sử dụng công cụ thuế để khuyến khích các doanh nghiệp
công nghệ thông tin tham gia vào xây dựng hệ thống quản lý dữ liệu cho
ngành dân số, ngành dân số tỉnh Ninh Thuận còn phải có các chính sách sử
dụng công cụ tài chính riêng để thúc đẩy quá trình hình thành nên chính sách
công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu dân số - kế hoạch hóa gia đình.
8. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Luận văn sử dụng số liệu sơ cấp có
liên quan đến công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu DS-KHHGĐ tỉnh
Ninh Thuận.
- Phương pháp chọn mẫu: ( đại diện cho mẫu khảo sát)
+ Để thu thập số liệu nhằm tìm ra tác động của công cụ tài chính đến
chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu của ngành DS-KHHGĐ
tỉnh Ninh Thuận.
+ Để thu thập số liệu nhằm đánh giá hiệu quả của chính sách công nghệ
thông tin trong quản lý dữ liệu của ngành DS-KHHGĐ tỉnh Ninh Thuận.
- Khảo sát đặc điểm cơ sở hạ tầng thông tin tỉnh Ninh Thuận.
- Khảo sát các chính sách CNTT tại tỉnh Ninh Thuận
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như:
- Phương pháp phỏng vấn sâu: tác giả Luận văn tiến hành phỏng vấn
nhân lực quản lý dữ liệu DS-KHHGĐ của tỉnh Ninh Thuận. Để thu được kết
quả phỏng vấn, tác giả đã liên hệ trước với người được phỏng vấn, gửi câu
hỏi và hẹn gặp. Trong cuộc gặp, tác giả đã trao đổi và nghe ý kiến của Cán
bộ, công chức viên chức của ngành Dân số về vấn đề nghiên cứu.
15
9. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các danh mục, đề tài bao gồm ba
chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tác động của công cụ tài chính đến việc hình
thành chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu Dân số-KHHGĐ.
đạt được mục tiêu đề ra một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn.
Để hiểu sâu hơn nội dung chương một sẽ khai thác về các khái niệm, các
khía cạnh nội dung của công cụ tài chính và các chính sách công nghệ thông
tin nói chung và đối với ngành DS-KHHGĐ nói riêng, cụ thể:
- Khái niệm công cụ, tài chính, công cụ tài chính.
17
- Vai trò của công cụ tài chính.
- Khái niệm chính sách công nghệ thông tin.
- Vai trò của chính sách công nghệ thông tin.
- Khái niệm dữ liệu, quản lý dữ liệu
- Vai trò của quản lý dữ liệu
- Nội dung chính sách công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu ngành
DS-KHHGĐ.
- Tác động của công cụ tài chính đến chính sách công nghệ thông tin
trong quản lý dữ liệu ngành DS-KHHGĐ.
1.2. Công cụ tài chính
1.2.1. Khái niệm
1.2.1.1. Khái niệm công cụ
“ Công cụ” là khái niệm rất quen thuộc bởi nó xuất hiện ở hầu hết tất cả
các lĩnh vực và ngành nghề trong xã hội. Vậy, “Công cụ” là gì?
Trong lĩnh vực kế toán, khái niệm công cụ thường được gắn trong cụm
từ công cụ dụng cụ. Trong lĩnh vực này, công cụ được hiểu là:
“ Công cụ, dụng cụ là những tư liệu lao động không có đủ các tiêu
chuẩn về giá trị và thời gian sử dụng quy định đối với TSCĐ. Vì vậy công cụ,
dụng cụ được quản lý và hạch toán như nguyên liệu, vật liệu” [I.1].
Các quy định hiện hành cũng quy định cụ thể các loại hình công cụ,
dụng cụ cụ thể.
Tuy nhiên, xem xét trong phạm vi của đề tài nghiên cứu, tác giả đang đề
cập đến khái niệm “công cụ” với một nghĩa khác, nghĩa của khoa học quản lý.
Trong khoa học quản lý, “công cụ được hiểu theo cả nghĩa vật thể và phi vật
19
- Là các quan hệ tài chính trong phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới
hình thức tổng giá trị, thông qua đó tạo lập các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu
cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế
- Tài chính phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong
quá trình phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng
các quỹ tiền
- Giá cả của các hàng hóa trên thị trường sẽ phản ánh xu hướng phát
triển của nền kinh tế. Giá cả hàng hóa giảm thì hiệu quả nền kinh tế sẽ yếu,
giá cả hàng hóa mà tăng thì nền kinh tế rất hiệu quả.
1.2.1.3. Khái niệm công cụ tài chính
Ở trên, tác giả đã hệ thống hóa lại các khái niệm, cơ sở lý luận liên quan
đến “công cụ”, “tài chính”, vậy “công cụ tài chính” là gì?
Theo cách hiểu trên thị trường tài chính, công cụ tài chính là những
phương thức, cách thức doanh nghiệp dùng để phòng ngừa các rủi ro tài
chính; tạo ra thu nhập; tiết kiệm chi phí; và huy động vốn. Công cụ tài chính
có thể được phân chia thành nợ (là khoản vay nhà đầu tư cung cấp cho doanh
nghiệp) hoặc vốn cổ phần (thể hiện quyền sở hữu đối với doanh nghiệp).
“Hàng hóa giao dịch trên thị trường tài chính được gọi là tài sản tài
chính hoặc các công cụ tài chính và chúng rất đa dạng. Tuy nhiên, nhìn
chung, nếu phân loại các công cụ tài chính theo hình thức huy động vốn
của các đơn vị phát hành, chúng ta có thể phân chia chúng thành 2
loại: (1) nếu huy động vốn bằng cách phát hành nợ, ta có các chứng khoán
nợ (trái phiếu); (2) nếu huy động vốn bằng cách phát hành vốn ta có chứng
khoán vốn (cổ phiếu)”[II.7-tr.24].
Nhìn chung, công cụ tài chính được hiểu là những phương thức, cách
thức mà các tổ chức, doanh nghiệp dùng để phòng ngừa các rủi ro trong quá
20
trình hoạt động, hướng đến mục tiêu tiết giảm chi phí, tăng cường lợi nhuận
và đạt được các mục tiêu mà doanh nghiệp, tổ chức đã đề ra.
lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối
chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra"; hoặc "Chính sách là các chủ
trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực
chính trị - xã hội" [II.25-tr1].
Cũng theo tài liệu này, tác giả phân loại ra nhiều loại chính sách khác
nhau, đó là:
- Chính sách đối ngoại của Nhà nước: chủ trương, chính sách mang tính
đối ngoại của quốc gia;
- Chính sách kinh tế: chính sách của nhà nước đối với phát triển các
ngành kinh tế;
- Chính sách xã hội: chính sách ưu đãi trợ giúp cho một số tầng lớp xã
hội nhất định như chính sách xã hội đối với công tác giáo dục ở vùng cao,
vùng sâu, chính sách xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sĩ.
- Chính sách tiền tệ: chính sách của Nhà nước nhằm điều tiết (tăng hoặc
giảm) lượng tiền tệ trong lưu thông để đạt được những mục tiêu nhất định như
chống lạm phát, kích thích sản xuất, giảm thất nghiệp, cải thiện cán cân thanh
toán quốc tế.
Như vậy, khái niệm chính sách là một khái niệm vô cùng rộng lớn, bao
hàm nhiều lĩnh vực khác nhau. Ở phạm vi của đề tài này, chính sách được
hiểu như là kế hoạch, chiến lược cụ thể nhằm thực hiện một mục tiêu nào đó
của doanh nghiệp hay tổ chức.
22
Theo Vũ Cao Đàm trong giáo trình “Khoa học chính sách”, tác giả đã
định nghĩa về từ “chính sách” như sau:
“ Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể
quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một
số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một
mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”"
[I.3].
Theo tác giả thì khái niệm “hệ thống xã hội” được hiểu theo một ý nghĩa
Vai trò của chính sách công nghệ thông tin biểu hiện ở những nội dung
sau đây:
- Chính sách công nghệ thông tin giúp tổ chức xác định được cách thức,
phương thức để nghiên cứu và ứng dụng những công nghệ mới vào thực tiễn
tổ chức.
- Chính sách công nghệ thông tin giúp tổ chức tiếp thu các công nghệ
mới, các phương thức tiếp nhận thông tin tiên tiến, từ đó nâng cao chất lượng
hoạt động của tổ chức.
- Chính sách công nghệ thông tin là phương cách hiệu quả nhất giúp xã
hội tiếp cận nhanh chóng với các công nghệ hiện đại, từ đó nâng cao chất
lượng hoạt động của các lĩnh vực khác nhau tại quốc gia áp dụng chính sách.
- Đầu tư cho công nghệ nói riêng và phát triển công nghệ thông tin nói
chung là phương cách nhanh chóng nhất giúp quốc gia phát triển mạnh mẽ và
nhanh chóng nhất.
1.4. Cơ sở lý luận về dữ liệu, quản lý dữ liệu
1.4.1. Cơ sở lý luận về dữ liệu