Ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý ở trường THCS
Năm học 2015 – 2016
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Đặng Thị Thúy Hoa
DANH TỪ
VIẾT TẮT
CNTT
GAĐT
GV
GVCN
HS
PHHS
THCS
TCM
UDCNTT
VIẾT ĐẦY ĐỦ
tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.”
Thủ tướng chính phủ cũng ban hành Quyết định số 246/2005/QĐ-TTg
ngày 06 tháng 10 năm 2005 phê duyệt chiến lược phát triển công nghệ thông tin
và truyền thông Việt Nam đến năm 2010 đồng thời định hướng đến năm 2020.
Trong Quyết định đã nêu rõ: “Các trường sư phạm cung cấp đủ số lượng giáo
viên dạy tin học cho các trường học trong cả nước. (…). Đa số các Bộ, ngành,
tỉnh, thành phố có cán bộ lãnh đạo quản lý thông tin, được bổ túc, đào tạo các
chương trình quản lý công nghệ thông tin và truyền thông với trình độ tương
đương trong khu vực.”
Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2007 về việc Ứng
dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước cũng đã
nêu rõ: “Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà
nước: là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của cơ quan nhà
nước nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động nội bộ của cơ quan
nhà nước và giữa các cơ quan nhà nước, trong giao dịch của cơ quan nhà nước
với tổ chức và cá nhân; hỗ trợ đẩy mạnh cải cách hành chính và bảo đảm công
khai, minh bạch.”
Đặng Thị Thúy Hoa
5
Năm học 2015 – 2016
Ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý ở trường THCS
Năm học 2015 – 2016
Trong Thông tư 29/2009/TT-BGDĐT của Bộ giáo dục và đào tạo ngày 22
Năm học 2015 – 2016
Ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý ở trường THCS
Năm học 2015 – 2016
Về phía địa phương, Sở Giáo dục và Đào tạo Long An đã ban hành Công
văn số số 1889/HD-SGDĐT ngày 09/9/2015 về việc hướng dẫn thực hiện
nhiệm vụ Giáo dục Trung học năm học 2015-2016, Công văn đã nhấn mạnh:
“Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, trao đổi công tác
qua internet, trang mạng "Trường học kết nối", qua trực tuyến MyTV, ...”
Bản thân tôi giữ chức vụ Phó Hiệu trưởng trường THCS Nguyễn Trung
Trực từ năm 2011 đến nay, trình độ chuyên môn: Đại học Tin học và đã tham
gia các lớp Bồi dưỡng Cán bộ quản lý, Trung cấp lý luận chính trị - hành chính
với những môn bồi dưỡng kĩ năng về CNTT, tôi nhận thấy:
Một là, CNTT là ngành ứng dụng công nghệ và xử lý thông tin. Tốc độ
phát triển như vũ bão của CNTT làm cho việc luân chuyển thông tin trở nên
nhanh chóng và vai trò của CNTT ngày càng trở nên quan trọng. Những khả
năng mới mẻ và tính ưu việt của CNTT và truyền thông đã nhanh chóng làm
thay đổi cách sống, cách làm việc, cách học tập, cách tư duy và quan trọng hơn
cả là cách ra quyết định của con người. Chính do tốc độ tăng trưởng và đặc điểm
của CNTT và truyền thông mà đã có tác động to lớn và toàn diện đến xã hội loài
người, và hiển nhiên cũng tác động mạnh mẽ đến giáo dục.
Hai là, CNTT không đơn giản chỉ là công cụ hỗ trợ cho công tác quản lý
giáo dục mà còn là tác nhân tạo ra một cuộc cách mạng trong thay đổi tư duy
quản lý của nhà giáo dục chuyển từ lối quản lý thủ công sang quản lý có ứng
dụng CNTT. Đồng thời CNTT còn làm thay đổi mô hình giáo dục từ việc lấy
giáo viên làm trung tâm đã chuyển sang lấy học sinh làm trung tâm.
Ba là, CNTT - truyền thông và Internet đang dần trở thành một cánh cửa
về giảng dạy, học tập, chia sẻ kinh nghiệm thực tế trong công tác và sinh hoạt
hàng ngày, đồng thời cũng là nơi tìm kiếm, nơi công khai hóa, minh bạch hóa
nội dung giáo dục; chất lượng, kết quả hoạt động giáo dục.
Đội ngũ cán bộ quản lý, đa số giáo viên đã ứng dụng rất tốt vấn đề CNTT
trong giáo dục và giảng dạy. Hệ thống Email là rất cần thiết để triển khai nhiệm
vụ công tác hàng tháng, hàng tuần đến tổ trưởng chuyên môn, toàn thể cán bộ
giáo viên và công nhân viên nhà trường. Đối với cán bộ giáo viên rất cần thiết
sử dụng Email, Website để cập nhật thông tin từ các cấp ngành quản lý; Cập
nhật kế hoạch chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ công tác từ phía lãnh đạo nhà trường.
2. Lịch sử đề tài
Trong thời gian qua, việc ứng dụng CNTT trong quản lý tại trường THCS
Nguyễn Trung Trực cũng đã có nhiều chuyển biến tích cực song tôi vẫn thấy
còn nhiều điểm chưa chuyên nghiệp và thật sự là điểm mạnh của trường. Một số
giáo viên trong trường nhất là giáo viên lớn tuổi còn e ngại khi tiếp cận với
CNTT. Mặt khác, không ít giáo viên còn xem việc CNTT là đổi mới phương
pháp nhưng thực tế đây chỉ là phương tiện. Vậy làm cách nào để giáo viên ham
Đặng Thị Thúy Hoa
8
Năm học 2015 – 2016
Ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý ở trường THCS
Năm học 2015 – 2016
thích ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy và ứng dụng có hiệu quả?
Làm thế nào để UDCNTT có hiệu quả cao hơn, chuyên nghiệp hơn, chuyên sâu
hơn trong công tác quản lý? Những câu hỏi này đã luôn được đặt ra trong tôi từ
Về đội ngũ giáo viên
Trường có tổng cộng 96 giáo viên, trong đó cán bộ quản lý là 3, giáo viên
thực dạy là 84. Trình độ giáo viên đạt chuẩn 100%, trên chuẩn 67,8%. Gồm 7 tổ
chuyên môn: Toán – Tin, Lý – Công nghệ, Hóa – Sinh, Thể dục – Âm nhạc –
Mỹ thuật, Ngữ văn – GDCD, Tiếng Anh, Sử – Địa cùng 1 tổ văn phòng. Số
lượng giáo viên có chứng chỉ A, B tin học: 90; số giáo viên biết soạn giáo án
bằng word: 87; số giáo viên biết soạn bài giảng điện tử bằng phần mềm
Powerpoint: 40.
1.2.
Về cơ sở vật chất
Tuy trực thuộc xã nhưng học sinh đầu vào hầu hết là học sinh Thị trấn
Bến Lức. Số lớp của trường: 47 lớp với 1919 học sinh. Số phòng học là 31 đủ để
dạy 1 buổi/ngày và phụ đạo, bồi dưỡng học sinh. Trường có 5 phòng học bộ
môn: 2 phòng Tin học, các phòng thực hành Lý, Hóa, Sinh mỗi môn là 1 phòng.
Phòng phục vụ cho học tập là 7 gồm 1 phòng thư viện, 2 phòng thiết bị, 1 phòng
truyền thống, 1 phòng Đoàn – Đội, 1 phòng Công đoàn và 1 hội trường. Ngoài
ra, khối phòng hành chính có 9 phòng bao gồm: 1 phòng Hiệu trưởng, 2 phòng
Phó Hiệu trưởng, 1 văn phòng, 3 phòng giáo viên, 1 phòng y tế và 1 phòng bảo
vệ. Trường có khuôn viên, hàng rào, bảng trường, nhà để xe cho giáo viên và
học sinh, có khu tập thể dục thể thao cho học sinh.
Về các thiết bị phục vụ dạy học ứng dụng CNTT, trường có 5 máy chiếu
đang hoạt động tốt: 4 máy gắn cố định và 1 máy di động, trong đó có 1 máy
chiếu thông minh cùng 2 bảng tương tác, 1 máy photocopy. Hai phòng tin học
của nhà trường được trang bị tổng cộng 45 máy đảm bảo tương đối cho học tập
Tin học và các cuộc thi giải toán qua mạng, giải tiếng Anh qua mạng. Bên cạnh
đó, nhà trường đặt tại các phòng giáo viên 4 máy tính có kết nối Internet để phục
vụ cho việc nhập điểm số, tìm kiếm thông tin, soạn giáo án, bài giảng điện tử,…
mail đồng thời kèm theo văn bản.
Từ việc làm của những “tấm gương” cốt cán trên mà đa số giáo viên của
trường đều có nhận thức sâu sắc về việc ứng dụng CNTT trong dạy học. Điều
này được thể hiện cụ thể qua các tiết thi giảng (đổi mới phương pháp, thi giáo
viên giỏi,…) đều có ứng dụng CNTT bằng các phần mềm: Powerpoint,
Mindmap, E-learning, Bảng tương tác,…
1.4.
Về công tác quản lý
Trong bản kế hoạch năm học đầu năm, Hiệu trưởng cũng đã nhấn mạnh
việc ứng dụng CNTT vào dạy học: “Tiếp tục đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT
trong dạy học”. Trong năm học, Hiệu trưởng đã yêu cầu các bộ phận sử dụng
máy tính làm công cụ để soạn thảo các văn bản, không nhận văn bản viết tay, tất
cả các văn bản, báo cáo đều mail vào hộp mail chung của trường:
đồng thời các văn bản chỉ đạo, các mẫu báo cáo đều
Đặng Thị Thúy Hoa
11
Năm học 2015 – 2016
Ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý ở trường THCS
Năm học 2015 – 2016
được mail vào hộp mail chung để giáo viên cũng như các phòng ban download
về. Đồng thời, Hiệu trưởng yêu cầu 100% giáo viên phải soạn giáo án bằng máy
tính, mỗi năm học có ít nhất 2 tiết thao giảng có ứng dụng CNTT, các tiết thi
nắm về việc thực hiện của các thành viên trong tổ qua một học kì để nhà trường
tiến hành sơ kết, tổng kết. Nội dung báo cáo bao gồm: số tiết thao giảng, số tiết
dự giờ, số tiết dạy ứng dụng CNTT, số giáo viên cập nhật điểm số còn chậm,…
1.5. Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức để cải tiến việc ứng
dụng CNTT vào quản lý ở trường THCS Nguyễn Trung Trực
Việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý góp phần làm tăng hiệu suất
thu thập và quản lý thông tin trong nhà trường; hỗ trợ lập kế hoạch, kiểm tra
giám sát theo kế hoạch. Tuy vậy việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý
cũng có điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức.
1.5.1. Điểm mạnh
Giáo viên an tâm công tác, sức khỏe tốt, có tinh thần trách nhiệm đối với
công việc được giao, có ý thức phấn đấu vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ; có ý
thức tự học, tự rèn, trao đổi học hỏi kinh nghiệm với các bạn đồng nghiệp để
giảng dạy và giáo dục học sinh trở thành con ngoan, trò giỏi.
Tăng cường bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, trình độ tin học cho đội
ngũ qua các lớp bồi dưỡng tin học do Ngành, trường tổ chức. Tính đến nay, tôi
đã được phân công phụ trách 2 lớp giảng dạy Tin học lấy chứng chỉ A cho giáo
Đặng Thị Thúy Hoa
12
Năm học 2015 – 2016
Ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý ở trường THCS
Năm học 2015 – 2016
viên với hơn 60 giáo viên đã có chứng chỉ, số giáo viên còn lại tự bồi dưỡng,
gần đây nhất là trong năm học 2014 – 2015, tôi đã hướng dẫn cho 18 giáo viên
Năm học 2015 – 2016
Ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý ở trường THCS
Năm học 2015 – 2016
bộ quản lý vào công tác quản lý văn bản hành chính vẫn còn chưa khoa học.
Điều này dẫn đến việc tìm kiếm văn bản gặp nhiều khó khăn.
Mặt khác, nhận thức việc UDCNTT trong quản lý cũng như trong dạy –
học đôi lúc vẫn còn thụ động. Phương pháp dạy học, lề lối làm việc của giáo
viên theo lối cũ đã trở thành một dấu ấn sâu sắc làm cho giáo viên e ngại với
việc ứng dụng CNTT dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý của Hiệu trưởng.
Cụ thể là khi Hiệu trưởng triển khai đến giáo viên các phần mềm mới: VEMIS,
VNPT School, phần mềm soạn giáo án E-Learning, Bảng tương tác,... giáo viên
rất e dè và hầu như không muốn thay đổi. Với việc ứng dụng CNTT trong công
tác dạy học tuy đã triển khai nhiều năm nhưng Hiệu trưởng vẫn chưa thay đổi
được 100% nhận thức của giáo viên. Họ vẫn chưa phát huy hết hiệu quả mà
công nghệ thông tin mang lại đôi khi vận dụng nhưng lại trở thành lạm dụng.
Bên cạnh đó, việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng CNTT còn lúng túng, chưa
có một văn bản chỉ đạo quy định một chuẩn chung thống nhất trong toàn ngành
nên việc đánh giá đôi khi còn nể nang và mang tính chất cảm tính.
Hai là, quản lý việc kết nối và sử dụng Internet để tìm kiếm thông tin, tài
nguyên cho quản lý và dạy học, cập nhật điểm số còn chưa thật sự có chiều sâu,
hoặc có sử dụng nhưng không hiệu quả, sử dụng không thường xuyên, chỉ khi
nào cấp trên yêu cầu mới làm còn không thì cứ làm theo lối cũ, chưa có kỹ năng
khai thác nguồn tư liệu theo địa chỉ. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ
giáo viên về CNTT chưa chuyên sâu.
Ba là, học sinh trường quá đông (1919 em), tỉ lệ học sinh trên lớp còn cao
trường luôn nhận được sự quan tâm của các cấp Ủy, chính quyền Huyện, chính
quyền địa phương, của ngành và đặc biệt là sự quan tâm của Phụ huynh học
sinh. Cơ sở vật chất luôn được chú trọng đầu tư và rót kinh phí từ cấp trên để
đảm bảo điều kiện dạy – học tốt nhất cho nhà trường nhất là đầu tư cho việc ứng
dụng CNTT.
Sự phát triển nhanh và mạnh của CNTT hiện nay đã mang đến cho nhà
trường những cơ hội được sử dụng các phần mềm tiện ích, đặc biệt là các phần
mềm trong quản lý giáo dục.
Phụ huynh học sinh ngày càng ý thức hơn những lợi ích của CNTT mang
lại trong việc liên lạc với nhà trường thông qua sổ liên lạc điện tử.
1.5.4. Thách thức
Với quy mô trường lớp và số học sinh như vậy và với sự chú trọng quan
tâm của các bậc phụ huynh, ai ai cũng mong muốn con mình được vào học tại
trường THCS Nguyễn Trung Trực. Nhiều năm qua áp lực về chạy trường, chạy
lớp của Phụ huynh đã gây không ít khó khăn cho nhà trường. Bên cạnh đó, là sự
quan tâm của các cấp lãnh đạo, của chính quyền về chất lượng đội ngũ, về cơ sở
vật chất, về chất lượng giáo dục của trường đã là một sợi dây vô hình buộc nhà
Đặng Thị Thúy Hoa
15
Năm học 2015 – 2016
Ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý ở trường THCS
Năm học 2015 – 2016
trường vào một áp lực nặng nề. Trường lúc nào cũng phải đi đầu trong mọi hoạt
động, đi đầu trong chất lượng đã tạo một sự nặng nề cho việc dạy học nói chung,
Năm học 2015 – 2016
Ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý ở trường THCS
Năm học 2015 – 2016
học, được Hiệu trưởng giao nhiệm vụ cho tôi về việc xây dựng một kế hoạch
hoạt động CNTT trong năm. Từ đó, tôi giao trách nhiệm cho từng cá nhân,
nhóm phụ trách từng công việc; triển khai đồng loạt việc ứng dụng CNTT trong
từng phần việc cụ thể sau đây:
Ứng dụng CNTT vào quản lý chuyên môn
Từ những năm học trước, tôi đã hướng dẫn các tổ chuyên môn, giáo viên
tạo địa chỉ email, cách nhận và gởi thư qua mail. Nhà trường cũng đã quán triệt
với đội ngũ tinh thần làm việc: Mọi bộ phận, tổ chuyên môn cần ứng dụng
CNTT để thực hiện hiệu quả công tác của mình (mỗi tổ, mỗi GV tạo một địa chỉ
mail). Đến nay, khoảng 90% GV trong trường thực hiện tốt việc trao đổi công
tác qua mail.
Trong các buổi sinh hoạt chuyên đề; sinh hoạt chuyên môn để triển khai
những nội dung chuyên môn trọng tâm trong tháng, tôi đã thực hiện dưới hình
thức trình chiếu để giáo viên dễ theo dõi, nắm bắt nội dung đồng thời rút ngắn
thời gian buổi họp.
Tôi
công
khai
địa
–
kế
toán:
, mail Hiệu trưởng: ,
mail cá nhân Phó Hiệu trưởng chuyên môn 1 – Đặng Thị Thúy Hoa (quản lí các
tổ: Toán – Tin, Lí – Công nghệ, Tiếng Anh, Sử - Địa): ,
mail của Phó Hiệu trưởng chuyên môn 2 – Lưu Thị Trúc Phương (quản lí các tổ:
Ngữ văn – GDCD, Hóa – Sinh, Thể dục – Âm nhạc – Mỹ thuật):
để khi cần giáo viên có thể chủ động liên hệ, trao đổi
công việc. Tôi thống nhất với các GV những thư nào sẽ gửi qua mail cá nhân
(báo cáo điểm số, cấu trúc - ma trận đề, các đánh giá – nhận xét giáo viên,...),
thư nào gửi qua mail chung của trường (các kế hoạch, thông báo), hạn chế thư
gửi qua mail quản lý vì mail quản lý chủ yếu để Lãnh đạo trường làm việc với
cấp trên: nhận các công văn, thông báo, báo cáo,... Qua việc thực hiện trao đổi
Đặng Thị Thúy Hoa
17
Năm học 2015 – 2016
Ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý ở trường THCS
Năm học 2015 – 2016
thông tin, tôi đã nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của một số giáo viên; qua đó
đã động viên và chia sẻ những khó khăn, vướng mắc của giáo viên trong quá
Năm học 2015 – 2016
Ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý ở trường THCS
Năm học 2015 – 2016
viên nhận được email cũng là một thông báo chỉ đạo để phối hợp thực hiện hoặc
chuẩn bị các báo cáo (nếu có). Ví dụ có thư của Hội đồng đội Huyện Bến Lức,
thư về các phong trào liên quan đến học sinh tôi mail qua địa chỉ của Tổng phụ
trách đội: , thư từ công đoàn ngành tôi mail cho địa
chỉ chủ tịch công đoàn: , thư về các chế độ liên quan
đến toàn thể giáo viên, kết quả các cuộc thi,... mail vào mail chung của trường:
Mặt khác, tôi tìm đủ mọi cách để động viên, thuyết phục GV và làm cho
GV cũng như các Cán bộ quản lý còn lại thay đổi nhận thức về việc UDCNTT
trong dạy học cũng như trong quản lý. Chẳng hạn, tôi cam kết với GV rằng việc
nhập điểm số vào phần mềm VNPT Shool đảm bảo 100% sẽ không bị tính sai
trung bình môn, và rằng thời gian nhập điểm trên VNPT sẽ ngắn hơn khi nhập
điểm trên sổ điểm giấy, tôi còn giúp GV thấy được việc nhập điểm trên trang
web như vậy sẽ không có tình trạng thay sổ điểm nếu GV vào điểm nhầm,... Tôi
luôn giúp đỡ Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng chuyên môn cộng sự với tôi cũng
như toàn thể GV về các thao tác cần thiết không giấu nghề kể cả khi tôi phát
hiện ra phần mềm (có thể không mới) nhưng có lợi cho công tác quản lý như:
ABBYY FineReader 11 có chức năng chuyển đổi file hình ảnh, file PDF sang
word giúp giảm áp lực trong công tác báo cáo, hay phần mềm cắt, ghép Video,
đổi đuôi tập tin Video Total Video Converter tôi chia sẻ ngay với GV,...
Bên cạnh đó, các cuộc thi Dạy học theo chủ đề tích hợp, soạn giảng trên
Bảng tương tác,... tôi luôn động viên và sát cánh bên GV, hướng dẫn và giúp đỡ
tôi nhắc nhở GV đó ngay bằng một tin nhắn (gửi từ trang web quản lý điểm) sau
đó tôi kiểm tra lại nếu GV chưa thực hiện thì trong phiên họp Hội đồng (vào thứ
năm tuần đầu tiên mỗi tháng) tôi sẽ nêu tên nhắc nhở. Vì thế, cho đến nay tôi đã
an tâm rằng không có GV nào trong trường cập nhật điểm số chậm trễ mà không
có lý do chính đáng.
Về quản lý sinh hoạt của GV trên trường học kết nối, ngoài việc có 1 tì
khoản quản lý chung của nhà trường, tôi còn tạo 1 tài khoản là GV trong tổ
Toán – Tin học để đóng vai làm GV xem TCM hoạt động như thế nào, tham gia
sinh hoạt với TCM khi cần thiết. Trường làm tốt mỗi TCM có 2 sản phẩm trên
một học kì. Nếu TCM nào GV không đủ máy sinh hoạt trực tuyến tôi huóng dẫn
họ vào phòng tin học của trường để học tập, trao đổi.
Ứng dụng CNTT trong công tác quản lý giáo viên
Dưới sự chỉ đạo của ngành, nhà trường sử dụng phần mềm quản lý giáo
viên PMIS thuộc dự án SREM. Vì tiền thân tôi là GV tin học nên trước đây
những mảng liên quan đến CNTT đều do tôi phụ trách từ khâu cài đặt, nhập dữ
liệu, xuất thông tin và nộp báo cáo. Do đó đây là một lợi thế cho tôi, với phần
này ngoài việc phụ trách chính là tôi, tôi phân công cho nhân viên văn thư cập
Đặng Thị Thúy Hoa
20
Năm học 2015 – 2016
Ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý ở trường THCS
Năm học 2015 – 2016
nhật thông tin và trích xuất thông tin báo cáo khi cần. Ban đầu, nhân viên văn
thư rất bỡ ngỡ nhưng tôi luôn luôn giúp đỡ và chỉ dẫn tận tình và yêu cầu nhân
Năm học 2015 – 2016
Ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý ở trường THCS
Năm học 2015 – 2016
của trường để giáo viên tham khảo. Tôi đề xuất gắn 6 máy tính dành riêng cho
giáo viên nhập điểm hoặc soạn giáo án,… có nối mạng Internet VNPT vì thế nếu
GV không có máy tính ở nhà vẫn có thể nhập điểm khi đến trường. Đến nay, tôi
rất tự hào rằng 100% GV trong trường đều sử dụng tốt phần mềm này từ khâu
nhập lí lịch học sinh đến khâu nhập điểm, cập nhật ngày nghỉ HS, xuất bảng
điểm,… thậm chí GV còn sử dụng phần mềm để nhắn tin liên lạc với PHHS khi
con em họ “cúp” tiết hay nghỉ học không phép. Đồng thời để giảm bớt áp lực
công việc cho tôi, tôi đã phân công một GV (Cô Phan Thị Gái) hỗ trợ quản lý
phần mềm, giúp đỡ, hướng dẫn giáo viên khi cần. Về báo cáo qua VEMIS tôi đã
phân công cho cô Nguyễn Thị Mỹ Hiền thực hiện khi có hướng dẫn của Phòng
Giáo dục – Đào tạo.
Ứng dụng CNTT trong công tác quản lý các văn bản hành chính
Việc quản lý các văn bản hành chính trên máy khoa học là một chìa khóa
của sự thành công trong quản lý dựa vào CNTT. Khi sử dụng máy tính để lưu
trữ, tôi tạo các thư mục rõ ràng, và lưu theo từng năm để khi cần thiết tôi vào
từng năm vừa làm tư liệu tham khảo cho năm sau, vừa làm tài liệu lưu trữ hằng
năm. Trong từng năm, tôi tạo những thư mục rõ ràng cho từng hoạt động cụ thể.
Đồng thời phải thực hiện sao lưu bằng nhiều hình thức khác nhau: Ghi ra CD,
Lưu vào USB, lưu trữ trên mạng thông qua host miễn phí Mediafire, Google
drive,…
Tôi xin nêu ra vài ví dụ để chứng minh cho việc quản lý khoa học trong
máy tính làm việc của mình: Từ ổ đĩa D:\ tôi tạo thư mục theo các năm học ví dụ
THIGVSANGTAO,… mỗi thư mục tôi đều lưu các kế hoạch về cuộc thi và các
cấp thi tôi tạo các thư mục: CAPTRUONG, CAPHUYEN, CAPTINH,… Vì
vậy, khi tôi không có mặt ở trường, Hiệu trưởng có thể điện thoại cho tôi và tôi
chỉ dẫn đường dẫn truy cập đến các file cần thiết một cách dễ dàng.
Ứng dụng CNTT vào hoạt động giảng dạy
Tôi chỉ đạo giáo viên Tin học nhà trường hướng dẫn giáo viên thực hành một
số kỹ năng ứng dụng CNTT vào giảng dạy như: chèn hình ảnh, âm thanh, tạo
những hiệu ứng liên kết các slide trên phần mềm Powerpoint, cách truy cập vào
các website để lấy thông tin, hình ảnh, đoạn phim... cần thiết để phục vụ cho
việc soạn giảng GAĐT. Qua các chuyên đề “Ứng dụng CNTT vào giảng dạy” và
các tiết hội giảng cấp trường, giáo viên đã mạnh dạn chia sẻ những thuận lợi,
khó khăn, những kinh nghiệm trong quá trình soạn-dạy GAĐT để giáo viên toàn
trường cùng trao đổi, học tập, rút kinh nghiệm và tích cực giảng dạy bằng giáo
án điện tử ở lớp hàng ngày. Trong năm học 2015 – 2016, tính đến tháng 04/2016
trường đã có tổng cộng 1479 tiết dạy giáo án điện tử, 507 tiết dạy trên bảng
tương tác.
Như tôi đã trình bày ở trên, với mỗi môn học (trừ môn Thể dục dạy ngoài
trời) tôi đều cố gắng để xây dựng một GV cốt cán làm “cánh tay nối dài” của tôi
để hướng dẫn các GV cùng môn cũng như các GV khác các kỹ năng cần thiết.
Chẳng hạn, trong cuối năm học 2013 – 2014, nhà trường được trang bị 2 bảng
tương tác phục vụ cho “Đề án tiếng Anh”. Qua các buổi tập huấn vào đầu năm
2014 – 2015 chỉ chưa đến 5 GV biết soạn giáo án tương tác thì cuối năm 2014 –
2015 là 14/87 GV chiếm tỉ lệ 16% và đến tháng 04/2016 là 35/84 GV chiếm tỉ lệ
gần 42%.
Đặng Thị Thúy Hoa
23
Năm học 2015 – 2016
Huyện
Tỉnh
1
Olympic TA
44
5(K6:2, K7: 2, K8:1)
2
HSG Văn hóa môn Tin học
3
Thi tỉnh: 3
3
Toán TA qua mạng
30
8(K8: 6, K9: 2)
4
Toán TV qua mạng
29
4( K7: 1, K8: 3)
5
Tin học trẻ
1
Thi tỉnh 1
6
KTLM
1
0
Hai là, tôi đã tham mưu với Hiệu trưởng để đầu tư trang thiết bị CNTT:
máy tính, máy chiếu, các thiết bị kèm theo,… phục vụ cho việc ứng dụng CNTT
Đặng Thị Thúy Hoa
trực tuyến với nhiều cuốn sách bổ ích.
3. Trang web này có các bài viết về
quân sự trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc như: Kế sách giữ nước thời
Lý – Trần, tìm hiểu thiên tài quân sự Nguyễn Huệ, Binh Thư Yếu Lược,
lịch sử cục quân lực 1945 – 2005, lịch sử cục Bảo vệ - An ninh quân đội
nhân dân Việt Nam (1950 – 2000)… Bên cạnh đó có nhiều bài viết giới
thiệu về các quân binh chủng, tài liệu hồi ký, tài liệu quân sự nước
ngoài…
Đặng Thị Thúy Hoa
25
Năm học 2015 – 2016
Ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý ở trường THCS
Năm học 2015 – 2016
4. Là một thư viện tập hợp nhiều loại sách báo, thơ ca,
âm nhạc và tranh ảnh.
5. Đây là trang web rất hữu
ích cho những ai muốn tra cứu các kiến thức chuẩn. Nội dung của trang
web dựa trên bộ Bách khoa toàn thư 4 tập do chính phủ Việt Nam chỉ đạo
biên tập.
6. Trang web này giúp các bạn yêu thích tạp chí
An ninh thế giới, An ninh cuối tháng có được nội dung các kỳ phát hành
của tờ báo mà không cần bỏ tiền mua báo.
7. />Trang web này cung cấp cho bạn những tấm hình xưa rất giá trị. Chúng là
nguồn tư liệu trực quan tốt phục vụ cho nghiên cứu giảng dạy của các
kiện cho họ học tập trau dồi kiến thức. Bố trí sắp xếp để giáo viên tham dự đầy
đủ các lớp bồi dưỡng, tập huấn.
Về việc ngại UDCNTT của các giáo viên nhất là GV lớn tuổi, tôi đã động
viên, hướng dẫn họ từng bước làm dễ nhất từ khâu đầu tiên là sử dụng cái GV
khác có sẵn đến khâu tự mình tạo ra để sử dụng. Tôi không để GV nào phải cảm
thấy thất vọng rằng muốn ứng dụng nhưng không biết ứng dụng bởi lẽ tôi luôn
xây dựng ở mỗi TCM, mỗi bộ môn một GV nòng cốt để hướng dẫn, giúp đỡ
GV. Nay từ con số biết ứng dụng CNTT là của năm 2013 – 2014 là 45 đã lên
con số 77 cho đến tháng 04/2016.
Ba là, tôi tham mưu với Hiệu trưởng đề nghị các cấp lãnh đạo có phương
án tách trường để giảm áp lực về số lớp và số HS cho trường tôi. Dù sao quản lý
ít HS và GV sẽ dễ dàng quan tâm sâu sát hơn và bao quát được nhiều hơn.
Bốn là, tôi tham mưu với Hiệu trưởng và Lãnh đạo Phòng Giáo dục, Sở
Giáo dục có hướng nghiên cứu để sắm các thiết bị phục vụ giảng dạy có độ bền
cao hơn. Cụ thể, trong năm qua trường đã mua một Tivi LCD 60 inch đặt thử
nghiệm tại phòng thực hành Lý (thay thế cho máy chiếu hiện có) để sử dụng
đồng thời so sánh với máy chiếu để có thể nhân rộng trong nhà trường.
Năm là, trong năm học 2015 – 2016 này tôi đã tích cực tham mưu với
Hiệu trưởng việc triển khai thiết kế, xây dựng trang web mang hình ảnh mà
thương hiệu trường THCS Nguyễn Trung Trực, dự kiến sẽ đưa vào hoạt động
thử nghiệm vào đầu năm 2016 – 2017 và hoạt động chính thức vào học kì II năm
học 2016 – 2017.
Song song với các giải pháp bên trong, về phía cung cấp mạng Internet
hiện tại trường đang sử dụng hai đường truyền Internet: VNPT có tính phí và
Đặng Thị Thúy Hoa
27
Năm học 2015 – 2016