Bùi Phương Thảo
Khoá luận tốt nghiệp
Trường đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa sinh - KTNN
Bùi phương thảo
Tích hợp giáo dục dân số - kế hoạch
hoá gia đình vào giảng dạy kiến thức
di truyền cho học sinh THPT
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Di truyền học
Người hướng dẫn khoa học:
Th.S: Nguyễn Văn Lại
Hà Nội - 2007
1
Bùi Phương Thảo
Khoá luận tốt nghiệp
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang trên con đường đổi mới, sự phát triển như vũ bão của
cách mạng khoa học kỹ thuật trong thập kỷ vừa qua đã đưa nước ta thoát khỏi
Khoá luận tốt nghiệp
ngồi trên ghế nhà trường đã hiểu và ý thức được dân số - KHHGĐ giúp cho
học sinh có một hành trang tốt cho mình bước vào tương lai.
Trong năm bộ môn được lựa chọn để tích hợp giáo dục dân số thì môn
sinh học có điều kiện rất thuận lợi để tiến hành kết hợp giáo dục dân số. Trong
đó phần kiến thức di truyền có nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục dân số vì
nó giúp cho học sinh nhận thức đựơc do đâu sinh con trai hay con gái, tại sao
con lại giống bố mẹ hoặc khác bố mẹ, những tính trạng, loại bệnh nào là
không di truyền được, tại sao anh chị em họ hàng thân cận lấy nhau lại xảy ra
nhiều hậu quả xấu?
Tuy nhiên, việc kết hợp giảng dạy kiến thức di truyền với giáo dục dân
số cho học sinh THPT vẫn còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến chính
sách dân số của Đảng và Nhà nước. Xuất phát từ tình hình đó tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài "Tích hợp giáo dục dân số - KHHGĐ vào giảng dạy kiến
thức di truyền cho học sinh THPT".
2. Mục đích nghiên cứu đề tài:
Nghiên cứu việc tích hợp giáo dục dân số - KHHGĐ vào giảng dạy kiến
thức di truyền ở trường THPT.
3. Nội dung nghiên cứu:
Xây dựng thành phần kiến thức di truyền trong chương trình THPT để
giáo dục dân số - KHHGĐ.
Xây dựng phương pháp tích hợp giáo dục dân số trong giảng dạy kiến
thức di truyền ở THPT.
Hướng dẫn giảng dạy: Tích hợp giáo dục dân số vào phần kiến thức di
truyền cụ thể trong chương trình di truyền học ở trường THPT.
4. ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Việc nghiên cứu đề tài nhằm thử nghiệm phương pháp giảng dạy theo
phương thức tích hợp giáo dục dân số - KHHGĐ vào giảng dạy kiến thức di
truyền ở trường THPT.
là di truyền y học. Di truyền y học là một môn khoa học kỹ thuật mà chủ yếu
là tế bào học và sinh học phân tử. Những tiến bộ đó đã tạo khả năng chuẩn
đoán chính xác, tìm ra nguyên nhân và cơ chế phát sinh ra nhiều bộ máy di
truyền mà trước đây chỉ được mô tả dưới dạng các triệu chứng hoặc hội chứng.
Bệnh di truyền ở người không phải sau này khi khoa học phát triển
người ta mới biết đến, ngay từ trước công nguyên (460-370) Hypocrat đã nói
một số tính trạng và bệnh tật của người hay xảy ra trong một gia đình và
không hay xảy ra trong những gia đình khác. Người cổ Hy Lạp đã ghi nhận
xét và tính trạng của người có liên quan đến giới tính, có tính trạng xuất hiện ở
bố nhưng không xuất hiện ở con rồi lại xuất hiện ở cháu trai.[9]
Người đầu tiên đặt nền móng cho ngành di truyền học đó chính là
Gregor Menđen (1865) với công trình nghiên cứu trên đậu Hà Lan. Các
nguyên lý của Menđen không những đúng với thực vật mà còn đúng với con
người và các sinh vật khác. Các nguyên lý đó sau này được phát triển thành
các quy luật di truyền của sinh vật.
Sự nghiên cứu về di truyền học người đòi hỏi phải có sự kết hợp tham
gia của các ngành khoa học khác và một nhà khoa học đã thành công khi đem
thành tựu của khoa học toán học vào nghiên cứu trong sinh học đó là G.N.
Hardy.
5
Bùi Phương Thảo
Khoá luận tốt nghiệp
Năm 1908 nhà toán học G.N. Hardy và nhà y học W. Weinberg đã độc
lập nghiên cứu về di truyền học quần thể và đã cùng đi đến một hệ thức toán
học nổi tiếng:
Bùi Phương Thảo
Khoá luận tốt nghiệp
Ingram đã nghiên cứu trong 2 năm (1975 - 1979) đã chứng minh rằng sự khai
thác về tính chất điện ly của các hemoglobin và bệnh lý phụ thuộc vào thành
phần của các axit amin khác nhau trong chuỗi polipeptit của phân tử globin.
Từ đó y học bắt đầu đi sâu vào sự phân tích các phân tử bệnh lý và đã phát
hiện ra hàng trăm bệnh của các loại phân tử protein, các phân tử men, xác
định cơ chế sinh bệnh và phương pháp điều trị các bệnh đó.[9]
Mặc dù những năm đầu thập kỷ XX, di truyền học người và di truyền y
học đã phát hiện ra rất nhiều bệnh di truyền. Nhưng hiện tượng di truyền và cơ
sở khoa học của nhiều căn bệnh di truyền trong đó vẫn còn nằm trong màn bí
mật. Những thành tựu nghiên cứu về hiện tượng di truyền của vi khuẩn, virut
đã mở ra hướng mới trong phòng và chữa bệnh ở người như: Chế tạo vacxin,
nghiên cứu hiện tượng miễn dịch, tính kháng thuốc của vi khuẩn.
Năm 1900 Landsteiner phát hiện ra nhóm máu A, B, O và một số nhóm
máu khác đã đặt nền móng cho môn di truyền học miễn dịch. Cho đến nay
bệnh di truyền vẫn là một thách thức lớn không chỉ đối với y học mà với tất cả
các ngành khoa học, đòi hỏi phải có sự góp sức của cả xã hội. Di truyền học
đã có những thành công trong việc điều trị các bệnh di truyền cụ thể: Năm
1962-1970 Okada và cộng sự đã hoà nhập thành công hai tế bào từ hai cơ thể
cùng loài hay khác loài tạo nên tế bào lai. Nhờ thành công này có thể chuyển
ghép ghen từ tế bào này sang tế bào khác. Việc chuyển gen đã thực hiện trên
nhiều đối tượng động vật và thực vật và đem lại hiệu quả cao song chưa thực
hiện trên người do hệ thống thần kinh và hệ thống bảo vệ của con người vô
cùng phức tạp và mẫn cảm, bất cứ một sự thay đổi nhỏ nào trong cơ thể cũng
có thể gây tác hại rất lớn. Gần đây thành công này đã được áp dụng để chữa
ở Trung Quốc cách đây hơn 4000 năm, nhờ quan sát ghi chép người ta
đã phát hiện ra số cháu trai chiếm khoảng 50% tổng số trẻ sơ sinh. Các nhà tư
tưởng cổ đại như Khổng Tử (551-479 TCN), Lão Tử (570-490 TCN), Platon
(528-347 TCN), Aristor (484-322 TCN) đều đã phát triển quan điểm của
mình về vai trò của yếu tố dân số đối với sự phát triển của xã hội, quan hệ dân
số - đất đai, quy mô dân số hợp lý, chính sách dân số[8]
Khổng Tử cho rằng: "Vi phạm dù là nhỏ nhất sự cân bằng lý tưởng giữa
đất đai - dân số sẽ dẫn đến hoặc là bỏ hoang đất đai, hoặc là không đủ sống",
còn Lão Tử cho rằng :"Sẽ có hạnh phúc nếu quốc gia nhỏ bé, dân cư ít". Mạnh
mẽ hơn Platon khẳng định quy mô quốc gia bằng dân số thật ra phải chú ý
8
Bùi Phương Thảo
Khoá luận tốt nghiệp
chất lượng hơn số lượng. ở một đoạn khác ông nhấn mạnh: "Cường quốc và
quốc gia đông dân không phải là một".
Dưới chế độ phong kiến người nông dân quan tâm hơn đến đồng ruộng,
mỗi gia đình là một đơn vị sản xuất cần thiết lao động. Chi phí nuôi trẻ ít lại
sớm sử dụng được sức lao động của trẻ nên họ đẻ nhiều là hợp lý. Về phía Nhà
nước phong kiến thì dân cư là nguồn bổ xung binh lính cho những cuộc chiến
tranh, bổ xung của cải để nuôi giai cấp thống trị và nhà nước phong kiến. Do
vậy nhà nước khuyến khích đẻ.[8]
Sự nảy sinh và phát triển của chủ nghĩa tư bản (CNTB), cuộc cách mạng
công nghiệp diễn ra vào nửa cuối thế kỷ XVIII cùng với sự xuất hiện của hệ
thống máy móc là nạn thất nghiệp trầm trọng, dân số tăng nhanh đạt 1 tỷ
người đầu tiên vào năm 1830. Bên cạnh đó là nạn di dân với quy mô lớn: Từ
tri thức về dân số trên nhiều phương diện không những đã vượt qua giai đoạn
thu thập thông tin, giải quyết những vấn đề mà đã đạt được tới trình độ hệ
thống hoá. Nội dung của khoa học về tái sản xuất dân số tích luỹ hàng ngàn
năm đã tương đối hoàn chỉnh vào cuối thế kỷ XVIII. Năm 1985 lần đầu tiên
tên gọi của môn khoa học đó là Dân số học đã xuất hiện.
ở Việt Nam nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển dân số
có ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc dân. Ngày 26/12/1961 Thủ tướng chính
phủ đã ra quyết định đầu tiên (Số 216/CP ngày 26/12/1961) về việc sinh đẻ có
kế hoạch, thể hiện sự sớm quan tâm của Đảng và nhà nước ta tới vấn đề dân số
với sự phát triển của đất nước và chủ trương rất sớm của nhà nước khi đề ra
chương trình dân số - KHHGĐ.[9]
Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được cũng như ý nghĩa và tầm quan
trọng của vấn đề này. Thủ tướng chính phủ đã ra quyết định 326/TTg ngày
19/5/1977 lấy ngày 26/12 hàng năm là ngày dân số Việt Nam.[9]
1.2.2. Hậu quả của sự tăng dân số quá nhanh.[12]
10
Bùi Phương Thảo
Khoá luận tốt nghiệp
Dân số tăng quá nhanh
Kinh tế, văn hóa kém phát triển
Dư thừa lao động
Tệ nạn xã hội tăng
Bùi Phương Thảo
Khoá luận tốt nghiệp
Các số liệu cho thấy.
- 30 nước có mức nghèo khổ nhất đều thuộc châu Phi và châu á với
RNI = 2,8%.
- 27 nước có mức nghèo khổ thấp nhất đều thuộc về châu Âu, Bắc Mỹ
với RNI=0,4%.
* Gia tăng dân số và lương thực, thực phẩm
Đây là nhu cầu không thể thiếu của con người thể hiện ở số lượng và
chất lượng. Nhu cầu năng lượng cần cung cấp cho cơ thể con người hàng ngày
và khả năng đáp ứng ở từng nước khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
Trình độ sản xuất của xã hội, năng lực lao động của từng người, quy mô gia
đình và sự phát triển dân số.
- Trên thế giới: Theo FAO nếu RNI tăng thêm 10% thì lương thực, thực
phẩm phải tăng 3 lần mới đủ duy trì sản xuất, có quỹ an toàn thực phẩm.
Trung bình trên thế giới hàng năm sản xuất là 1,7 tỷ tấn lương thực/6 tỷ người
= 300 kg/người. Mỗi quốc gia coi là an toàn thực phẩm khi có bình
quân/người = 300 kg/người trở lên.
RNI của thế giới là 1,4% dân số tăng mỗi năm là 77 triệu người nên
mỗi năm thế giới phải sản xuất thêm 25 triệu tấn lương thực mới đủ đảm bảo
cho cuộc sống.
- ở Việt Nam
Việt Nam đã đạt được an toàn lương thực, thực phẩm. Hiện nay mỗi
năm nước ta sản xuất được khoảng 40 triệu tấn lương thực và đứng đầu thế
giới về xuất khẩu gạo. Tuy nhiên ở Việt Nam điều kiện sống quá chênh lệch
giữa thành thị và nông thôn. Đời sống của nông dân quá nhọc nhằn. Theo điều
tra mới đây nhất nông thôn vẫn là nơi có tỷ lệ phụ nữ và trẻ em suy dinh
dưỡng cao nhất. Gần 20% số hộ nông thôn có mức ăn
+ ở những nước phát triển: Chi phí đầu tư cho giáo dục từ 5-7% GNP
+ ở những nước đang phát triển: Chi phí đầu tư cho giáo dục chỉ
khoảng 3% GNP.
Dân số tăng nhanh ảnh hưởng đến giáo dục cả về chất lượng. Trên thế
giới hiện nay có 26,8% số dân từ 18 tuổi trở lên mù chữ. Các nước đang phát
triển có số dân trên 15 tuổi chiếm 36,9 % số người mù chữ tập trung chủ yếu
13
Bùi Phương Thảo
Khoá luận tốt nghiệp
ở châu Phi, châu á. Nếu không đáp ứng nhu cầu cần thiết cho giáo dục, một
bộ phận lớn thanh thiếu niên không đến trường sẽ là nguồn gốc cho tệ nạn xã
hội dẫn đến suy vong nền văn hoá của dân tộc.
* Gia tăng dân số và môi trường sống.
Hiện nay dân số tăng hơn 6 tỷ người đã trở nên quá tải với khả năng
cung ứng của môi trường tự nhiên. Con người phải khai thác tự nhiên để phục
vụ cho cuộc sống hàng ngày tạo ra chất thải ngày một nhiều. Thông qua hoạt
động của mình con người đã làm cho môi trường sống bị ô nhiễm nặng nề.
Trong quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm con người đã làm giảm đi sự
đa dạng sinh học, dẫn đến mất cân bằng sinh thái. RNI càng tăng ô nhiễm môi
trường càng nhiều.
Dân số tăng quá nhanh nhu cầu về nhà ở, nhu cầu về các công trình
công cộng như trường học, bệnh viện cũng tăng theo dẫn đến lấn chiếm đất
trồng trọt làm cho diện tích đất canh tác giảm. ở nước ta có RNI cao nên diện
tích nhà ở bình quân theo đầu người chỉ đạt 4,42m2, ước tính khoảng 1/3 số
dân đang ở mức 2,2m2/người. ở nông thôn diện tích nhà ở rộng hơn là
nhiều người. Có thể nói di truyền học có khả năng giúp chủ động sinh con trai
hay con gái theo ý muốn. Tuy nhiên cuộc vận động kế hoạch hóa gia đình vẫn
phải làm thay đổi tâm lý xã hội "coi trọng con trai" nếu không thì quy mô gia
đình 1-2 con sẽ làm thay đổi tương quan giới tính cấu trúc dân số.
Theo các nhà di truyền học thế giới, nếu tương quan này thay đổi trong
trẻ sơ sinh tới mức 15-20% sẽ đe doạ khả năng duy trì nòi giống.
ở nhiều quốc gia đã ban hành xắc lệnh nghiêm cấm việc xác định giới
tính của thai nhi trong những tuần đầu mang thai.
Trên cơ sở những thành tựu về di truyền học đã hình thành chuẩn đoán
gọi là di truyền y học tư vấn. Di truyền y học tư vấn giúp người nghi ngờ mình
ở trạng thái dị hợp tử đối với một số bệnh di truyền, tự giải quyết một số câu
hỏi: Tại sao không nên kết hôn gần? Tại sao không nên sinh nhiều con và tuổi
sinh đẻ liên quan đến vấn đề di truyền như thế nào?
Di truyền học và vấn đề tư vấn hôn nhân mấy năm gần đây cho chúng ta
những lời khuyên về mặt di truyền học khi quyết định hôn nhân, sinh đẻ nhằm
dự đoán, đề phòng, ngăn ngừa khả năng xuất hiện một số bệnh tật di truyền
bẩm sinh và góp một phần nào đó phương hướng điều trị. Di truyền học đã chỉ
15
Bùi Phương Thảo
Khoá luận tốt nghiệp
rõ hậu quả của việc kết hôn gần là làm cho các đột biến lặn có hại được biểu
hiện trên cơ thể đồng hợp. Theo một số nghiên cứu ở Hoa Kỳ trên 2778 đứa
trẻ của các cặp kết hôn gần thì tỷ lệ chết là 22,9% tỷ lệ này mắc bệnh di
truyền là 16,5%. Điều này chứng tỏ luật hôn nhân và gia đình cấm kết hôn
gần là hoàn toàn hợp lý.
di truyền người ta có thể dự đoán đựơc khả năng biểu hiện các bệnh di truyền
do đột biến lặn. Tuy nhiên tác hại của các đột biến sinh ra cũng không phải là
tuyệt đối, đột biến có hại trong điều kiện này nhưng có thể có lợi trong điều
kiện khác. Cụ thể, trong khi các cơ thể đồng hợp về gen chi phối bệnh tế bào
hồng cầu hình lưỡi liềm thường không sống được thì các cơ thể dị hợp về gen
ấy lại gặp nhiều ở các vùng có bệnh sốt rét. Nếu các cặp vợ chồng dị hợp với
gen này đẻ con thường chết mất 1/4 số con. Hiện tượng có nhiều đột biến ở
trạng thái dị hợp cũng giải thích cả sự lấy nhau cận huyết.
Như vậy, di truyền học và giáo dục dân số có mối quan hệ mật thiết với
nhau. Do đó, trong giảng dạy kiến thức di truyền ở trường phổ thông cần phải
kết hợp giữa giảng dạy kiến thức với giáo dục dân số - KHHGĐ. Bởi vì dân số
không chỉ là số lượng dân số mà quan trọng là chất lượng dân số. Hơn nữa,
mục tiêu của giáo dục dân số là ngoài việc trang bị kiến thức còn phải xây
dựng thái độ, hành vi cho học sinh. Hiệu quả của giáo dục dân số được thể
hiện ở sự chuyển biến của người học về thái độ, hành vi trước vấn đề dân số.
Sự chuyển biến này phải tự giác mới vững chắc, người học phải được thông tin
đầy đủ về tình hình thực tế dân số, về cơ sở khoa học của các chủ trương,
chính sách dân số môi trường. Trên cơ sở đó được gợi mở, tranh luận để tự lựa
chọn thái độ và quyết định hành vi hợp lý.
17
Bùi Phương Thảo
Khoá luận tốt nghiệp
Phần 2
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
đối tượng kết hôn trong những gia đình không có bệnh đó.
1.1.2. Mối liên hệ giữa tái bản nhiễm sắc thể - nguyên phân - giảm phân - thụ
tinh.
19
Bùi Phương Thảo
Khoá luận tốt nghiệp
Nhiễm sắc thể là vật chất di truyền ở cấp độ tế bào. Nhiễm sắc thể chứa
thông tin di truyền đặc trưng cho loài, được ổn định qua các thế hệ nhờ các cơ
chế sinh học chặt chẽ, qua các quá trình: nguyên phân, giảm phân, thụ tinh.
Các quá trình đó đảm bảo cho bộ nhiễm sắc thể của loài được duy trì từ thế hệ
này sang thế hệ khác.
- Vật chất di truyền của hợp tử là tổ hợp một nửa vật chất di truyền từ
mẹ và một nửa vật chất di truyền từ bố. Như vậy khi bố mẹ mang gen bệnh sẽ
truyền lại cho con những gen bệnh đó.
Do vậy giáo viên cần phải giải thích cho học sinh: Do bộ nhiễm sắc thể
của con là tổ hợp bộ nhiễm sắc thể của cả bố và mẹ nên con cái mang nhiều
đặc điểm giống bố và mẹ.
1.2. Kiến thức về quy luật di truyền.
- Ngoài việc cung cấp cho học sinh hiểu rõ cơ chế và các quy luật di
truyền của Menđen và sau Menđen. Giáo viên cần phải cho học sinh thấy
được sự di truyền của các gen lây bệnh bằng cách vận dụng các quy luật di
truyền.
Bên cạnh việc thông báo cho học sinh biết: Các tính trạng di truyền của
gen có thể nằm trên nhiễm sắc thể thường hoặc nằm trên nhiễm sắc thể giới
tính. Giáo viên cần cho học sinh biết - ngày nay đã phát hiện ra 2.500 bệnh di
Aa(bệnh)
GP
:
A, a
F1
:
1Aa
x
aa(lành)
a
:
1aa
(bệnh)
(lành)
- Nếu cặp vợ chồng dị hợp tử về gen gây bệnh thì 3/4 số con sẽ mắc
bệnh:
Sơ đồ:
lặn theo kiểu Menden do gen lặn trên nhiễm sắc thể thường quy định, trong đó
có 611 bệnh tật và tính trạng đã xác định.
Trong quần thể người, đối với bệnh tật di truyền lặn nếu cả bố và mẹ
đều mang gen bệnh ở trạng thái dị hợp tử thì thế hệ con của họ sẽ mắc bệnh
theo sơ đồ sau:
21
Bùi Phương Thảo
Khoá luận tốt nghiệp
P
:
Aa(lành)
F1
:
1
AA :
lanh
x
2
Aa
gen kiểm soát giới tính nó còn chứa đựng gen kiểm soát tính trạng khác không
thuộc về giới tính. Đến nay gần 300 bệnh và tính trạng liên kết giới tính đã
được phát hiện. Tất cả các tính trạng và bệnh tật di truyền liên kết với nhiễm
22
Bùi Phương Thảo
Khoá luận tốt nghiệp
sắc thể Y (trội và lặn) là không có sự di truyền từ nam sang nam, vì con trai
luôn nhận nhiễm sắc thể Y từ bố.
Bố và mẹ có vai trò khác nhau trong sự di truyền gen bệnh vào bệnh cho
con thuộc nam và nữ giới, gen bệnh trên nhiễm sắc thể X từ bố chỉ di truyền
cho con gái. Con trai bị bệnh nhận nhiễm sắc thể X của mẹ khi người mẹ
mang gen gây bệnh.
Trong trường hợp bố lành và mẹ lành nhưng mang gen bệnh có thể sinh
ra các con theo tỷ lệ: một con gái lành, 1con gái lành nhưng mang gen bệnh, 1
con trai lành, 1 con trai bệnh.
Sơ đồ:
P
:
F1
:
A A
1X X
:
1XAXa
:
A
1X Y
: 1XaY
XaY (bệnh)
Con gái lành
có gen bệnh
x
Con gái bệnh
23
XAXa (lành)
Con trai lành
Con trai bệnh
Bùi Phương Thảo
Khoá luận tốt nghiệp
- Dạng điển hình của phả hệ bệnh di truyền gen lặn liên kết với giới tính
X là hình ảnh "di truyền chéo". Người ông mang gen gây bệnh truyền lại gen
gây bệnh cho con gái và bệnh sẽ biểu hiện ở cháu trai.
Ví dụ: Bệnh máu khó đông, bệnh mù màu đỏ và lục, bệnh suy liệt thần
kinh thị giác ở người
Lành bệnh
XMY
Con trai bệnh mù màu
Bệnh di truyền liên kết với giới tính do gen lặn nằm trên nhiễm sắc thể
X không có alen tương ứng trên nhiễm sắc thể Y thường gặp nhiều ở nam giới,
ở nữ giới rất hiếm gặp. Vì ở nam giới chỉ cần có một gen lặn, bệnh đã được
biểu hiện. Còn ở nữ gen lặn gây bệnh thường bị gen trội tương ứng át
chế,bệnh chỉ biểu hiện khi nữ ở trạng thái đồng hợp lặn. Vì kết hôn gần sẽ
tăng nguy cơ xuất hiện đồng hợp lặn do vậy không kết hôn với người dùng
dòng họ).
24
Bùi Phương Thảo
Khoá luận tốt nghiệp
Sự di truyền của gen tồn tại trên nhiễm sắc thể Y là sự di truyền theo
quy luật di truyền thẳng. Bố mắc bệnh truyền cho con 100% con trai ở thế hệ
sau.
Ví dụ: Tật dính ngón tay 2 và 3, da dày sần sùi, có túm lông ở tai chỉ
biểu hiện ở nam giới.
P
F1
:
:
tử được phát triển trong tế bào chất lấy từ trứng còn. Hơn nữa, trong quá trình
mang thai cơ thể mẹ yếu thì không đủ sức nuôi thai dẫn đến đứa con yếu hoặc
bệnh tật.
25