Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ở việt nam trong thời kỳ đổi mới - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
................................

ĐỖ LÂM HOÀNG TRANG

MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TR ƯỞNG KINH TẾ
VỚI TIẾN BỘ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh - năm 2008


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
................................

ĐỖ LÂM HOÀNG TRANG

MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TR ƯỞNG KINH TẾ
VỚI TIẾN BỘ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60.31.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN VĂN NHƯNG

Đảng và Nhà nước ta xác định trong suốt quá tr ình đổi mới.
Để hiện thực hóa chủ trương trên, trong những năm vừa qua, bên cạnh việc
quan tâm tới phát triển kinh tế, sớm đ ưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển thì


-2-

các vấn đề xã hội cũng là một mục tiêu được Đảng và Nhà nước ta quan tâm ngay từ
đầu. Tuy nhiên, không phải cứ tăng trưởng kinh tế cao là có thể đạt được tiến bộ và
công bằng xã hội. Thực tế những năm qua cho thấy, nền kinh tế Việt Nam đ ã có sự
tăng trưởng liên tục với tốc độ cao. Nhờ đó, Việt Nam đã thoát khỏi cuộc khủng
hoảng kinh tế kéo dài nhiều năm; đời sống vật chất v à tinh thần của người dân đã
được cải thiện một cách đáng kể; nền kinh tế Việt Nam đ ã và đang từng bước hội
nhập với nền kinh tế khu vực v à thế giới. Nhưng nếu xem xét một cách nghiêm túc
thì có thể thấy chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam c òn thấp, chưa tương
xứng với tiềm năng; sự phân phối những th ành quả của tăng trưởng thiếu công bằng,
chưa thật hợp lý; tình trạng tham nhũng, buôn lậu, tệ nạn x ã hội có xu hướng gia
tăng; môi trường sinh thái bị tàn phá nghiêm trọng... Để giải quyết tốt mối quan hệ
giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ v à công bằng xã hội đòi hỏi phải có sự nghiên
cứu, hoạch định và thực thi các chính sách một cách đồng bộ trên cơ sở đánh giá
đúng thực trạng của nền kinh tế - xã hội. Với mong muốn góp phần giải quyết vấn
đề này, tôi quyết định chọn đề tài “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ
và công bằng xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”.
2. Mục tiêu nghiên cứu.
 Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận chung về tăng tr ưởng kinh tế, tiến
bộ xã hội và công bằng xã hội.
 Nghiên cứu bài học kinh nghiệm của một số n ước trong việc giải quyết mối
quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ v à công bằng xã hội.
 Tìm ra mối quan hệ và cơ chế tác động giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã
hội của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.

bao gồm phần nghiên cứu về tiến bộ xã hội. Do đó, đề tài này được thực hiện dựa
trên sự kế thừa nhất định những công tr ình nghiên cứu trên, đồng thời nghiên cứu
vấn đề tăng trưởng kinh tế với tiến bộ v à công bằng xã hội một cách hệ thống h ơn.


-4-

6. Những đóng góp của luận văn.
- Nghiên cứu một cách có hệ thống c ơ sở lý luận về mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế với tiến bộ v à công bằng xã hội.
- Phân tích những thành tựu về tăng trưởng kinh tế, về việc kết hợp tăng
trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội.
- Phân tích những tồn tại, hạn chế trong quá trình giải quyết mối quan hệ giữa
tăng trưởng kinh tế với tiến bộ v à công bằng xã hội.
- Đề ra hệ thống giải pháp v à một số kiến nghị có tính khả thi v à thực tiễn.
7. Kết cấu của luận văn.
Kết cấu của luận văn bao gồm phần mở đầu, 3 ch ương về nội dung và phần
kết luận. Trong đó, 3 chương về nội dung gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về mối quan hệ giữa tăng tr ưởng kinh
tế với tiến bộ và công bằng xã hội.
Chương 2: Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ v à công bằng xã
hội trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam: thực trạng v à những vấn đề đặt ra.
Chương 3: Một số quan điểm và giải pháp nhằm giải quyết mối quan hệ giữa
tăng trưởng kinh tế với tiến bộ v à công bằng xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới.


-5-

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA


Có ý kiến cho rằng, chất lượng tăng trưởng kinh tế là nâng cao phúc lợi của
công dân; gắn liền tăng trưởng kinh tế với công bằng x ã hội. Theo quan điểm này,
thước đo của tăng trưởng kinh tế là sự đáp ứng phúc lợi của nhân dân đ ược thể hiện
như thế nào. Phúc lợi xã hội không chỉ thể hiện ở thu nhập b ình quân đầu người mà
còn là chất lượng cuộc sống, môi trường xã hội, môi trường tự nhiên, cơ hội học tập
và chăm lo sức khoẻ.
Có quan niệm cho rằng, chất lượng tăng trưởng kinh tế là phát triển bền
vững. Điều này có nghĩa tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với việc bảo tồn v à phát
triển các nguồn vốn như tài nguyên môi trường, vốn nhân lực và cơ sở vật chất - kỹ
thuật của nền kinh tế…
Còn nhiều ý kiến khác nhau, song các nh à nghiên cứu ở Việt Nam cho rằng:
Chất lượng tăng trưởng kinh tế cao là sự phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững của
nền kinh tế, thể hiện qua năng suất nhân tố tổng hợp , năng suất lao động xã hội tăng
và ổn định, mức sống của ng ười dân được nâng cao không ngừng; c ơ cấu kinh tế
chuyển dịch phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất n ước, sản xuất có tính cạnh
tranh cao, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ v à công bằng xã hội và bảo vệ môi
trường, quản lý kinh tế của nhà nước có hiệu quả.
Như vậy, theo nghĩa hẹp, tăng trưởng kinh tế chỉ phản ánh sự g ia tăng về
lượng của nền kinh tế, song nếu hiểu theo nghĩa rộng th ì tăng trưởng kinh tế không
chỉ phản ánh sự gia tăng về l ượng mà còn về chất của nền kinh tế. Theo nghĩa này,
nó cũng gắn với khái niệm phát triển kinh tế hiện nay vẫn d ùng.
Trong báo cáo về phát triển thế giới năm 1992, Ngân h àng Thế giới đưa ra
định nghĩa về phát triển kinh tế nh ư sau: Phát triển là nâng cao phúc lợi của nhân
dân, nâng cao tiêu chuẩn sống và cải tiến giáo dục, sức khỏe v à bình đẳng về cơ hội
là tất cả những thành phần cơ bản của phát triển kinh tế. Tăng trưởng kinh tế là một
cách cơ bản để có thể có được sự phát triển, nhưng trong bản thân nó là một đại diện
không toàn vẹn của sự tiến bộ.




-8-

số quá thấp dẫn đến thiếu hụt nguồn nhân lực cũng ảnh h ưởng không tốt đến tăng
trưởng kinh tế. Theo tính toán của các nhà khoa học, nếu mức tăng dân số l à
1%/năm, GDP tăng 2% mới chỉ bù đắp cho số dân tăng lên, GDP phải tăng từ 3%
trở lên thì đời sống nhân dân mới được coi là có cải thiện. Vì vậy, phát triển dân số
một cách hợp lý là một trong những yếu tố góp phần quan trọng v ào tăng trưởng
kinh tế.
1.1.2 Tiến bộ xã hội.
Tiến bộ xã hội là một khái niệm phản ánh sự vận động của x ã hội từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp, là sự vận động của xã hội loài người từ hình thái kinh
tế - xã hội này lên hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn, hoàn thiện hơn cả về cơ
sở hạ tầng kinh tế lẫn kiến trúc th ượng tầng về pháp lý, chính trị v à các hình thái ý
thức xã hội. Lịch sử loài người nói chung bao giờ cũng vận động theo h ướng tiến bộ
mà mỗi hình thái kinh tế - xã hội là một nấc thang của tiến bộ x ã hội.
Tiến bộ xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta có những
tiêu chí sau:
- Lực lượng sản xuất phát triển với h àm lượng khoa học ngày càng cao và với
quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; kinh tế tăng tr ưởng
nhanh, có chất lượng cao và bền vững.
- Quyền làm chủ của nhân dân đối với mọi mặt đời sống x ã hội được bảo đảm;
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, v ì dân, trong sạch, vững
mạnh; dân chủ được phát huy; kỷ luật, kỷ c ương được tôn trọng.
- Văn hóa, giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ đuợc mở mang, trình độ
dân trí phát triển cao, quan hệ giữa ng ười với người lành mạnh, những thói hư, tật
xấu được đẩy lùi. Đây là thước đo trí tuệ và đạo đức của tiến bộ xã hội.
- Môi trường sinh thái được bảo vệ và cải thiện.
- Con người có điều kiện từng bước phát triển về thể chất, trí tuệ, đạo đức,
nghề nghiệp; có cuộc sống ng ày càng ấm no, tự do, hạnh phúc; được cống hiến và

sự phát triển xã hội và được xã hội bù đắp, chăm sóc trở lại một cách t ương xứng.
Việc thực hiện công bằng x ã hội về thực chất, là sự ứng xử một cách hợp lý nhằm


-10-

điều tiết mối quan hệ xã hội giữa các cá nhân, các nhóm x ã hội, các vùng, miền…
trong quá trình tìm kiếm lợi ích.
Do nội hàm của công bằng xã hội phức tạp như vậy, nên việc định lượng mức
độ thực hiện công bằng x ã hội là rất khó khăn. Người ta đã sử dụng nhiều thước đo
khác nhau nhưng kết quả cũng chỉ mang tính t ương đối.
Phương pháp phổ biến nhất để đo mức độ công bằn g trong phân phối thu
nhập là tính tỷ lệ thu nhập giữa 20% số ng ười giàu nhất với 20% số người nghèo
nhất. Tỷ lệ này càng lớn, mức độ bất công c àng cao và ngược lại. Để thấy rõ hơn
mức độ phân cực trong thu nhập, ng ười ta còn so sánh mức thu nhập của 5% số
người giàu nhất với thu nhập của 5% số ng ười nghèo nhất.

Ph
ần trăm thu nhập

Ph
ần trăm thu nhập

Đường
bình
đẳng

0

Đường

A

100
Phần trăm dân số

Một sự phân phối tương đối
bình đẳng

Một công cụ để biểu đạt mức độ bất công bằng trong thu nhập đ ược sử dụng
trong kinh tế học là đường cong Lorenz. Đường cong Lorenz được biểu thị trong
một hình vuông, cạnh bên trái thể hiện số phần trăm thu nhập, cạnh đáy là phần trăm
dân số xếp từ nhóm có thu nhập thấp đến cao.
Trong trường hợp bất công bằng tuyệt đối , đường cong Lorenz chạy theo cạnh
đáy và cạnh bên phải (tức là 1% dân số nhận được 100% thu nhập). Thông th ường
đường cong Lorenz nằm ở khoảng giữa đường công bằng và đường bất công bằng


-11-

tuyệt đối, đường cong càng xa đường chéo thì mức độ bất công bằng càng cao.
Hệ số Gini tính bằng tỷ lệ giữa h ình được tạo bởi đường chéo của hình vuông
với đường cong Lorenz và tam giác vuông được tạo bởi đường chéo của hình vuông
với cạnh đáy và cạnh bên phải. Hệ số này tính từ 0 đến 1, trong đó 0 là công bằng
hoàn toàn, 1 là bất công bằng hoàn toàn. Hiện nay, theo tính toán của Chương trình
Phát triển Liên Hiệp Quốc, hệ số Gini bằng 0,4 là giới hạn giữa công bằng và bất
công bằng.
Các phương pháp đo mức độ chênh lệch trong thu nhập chưa đủ để xác định
mức độ bất công bằng trong một quốc gia, chẳng hạn có thể có sự công bằng trong
phân phối thu nhập nhưng xét thêm những yếu tố khác như điều kiện sống, các dịch
vụ được hưởng... thì có thể mức độ công bằng xã hội lại khác đi. Bởi thế, người ta

Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và thực hiện công

bằng xã hội. Một xã hội mới tiến bộ và văn minh phải có một nền kinh tế phát triển
cao, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được đảm bảo. Mỗi người dân thực
sự là người chủ của xã hội, được hưởng tự do, ấm no, hạnh phúc . Tăng trưởng kinh
tế với tiến bộ và công bằng xã hội có mối quan hệ biện chứng với nhau. Tăng tr ưởng
kinh tế là cơ sở và tiền đề thực hiện tiến bộ v à công bằng xã hội. Ngược lại, tiến bộ
và công bằng xã hội sẽ tác động trở lại thúc đẩy tăng tr ưởng kinh tế nhanh và bền
vững hơn. Nếu không tăng trưởng kinh tế thì chúng ta không xây d ựng được cơ sở
kinh tế để xây dựng chủ nghĩa x ã hội. không tăng trưởng và phát triển kinh tế thì
làm sao xây dựng được một xã hội “ấm no, hạnh phúc”. Ng ược lại, nếu tăng trưởng
kinh tế mà tiến bộ và công bằng xã hội không được đảm bảo thì trong xã hội người
dân vẫn chưa thực sự được hưởng hạnh phúc, những hình thức áp bức, boác lột và
bất công vẫn còn. Cho nên phải giải quyết đồng thời cả hai nhiệm vụ n ày trong thời
kỳ đổi mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, chế độ xã hội mà chúng ta xây
dựng là một chế độ mà ở đó “nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn
tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” [13, 161].
1.2.2 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội.
Tăng trưởng và phát triển kinh tế là cơ sở vật chất cho tiến bộ x ã hội và
ngược lại, tiến bộ xã hội thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. Tiến bộ xã hội là
kết quả của mọi sự phát triển kinh tế v à mọi sự phát triển được coi là tiến bộ trước
hết phải là sự phát triển thúc đẩy sự tiến bộ x ã hội.


-13-

Tiến bộ xã hội xét về thực chất là giải phóng và phát triển con người toàn
diện, mà nhân tố con người là chủ thể, là nguồn lực quyết định sự phát triển kinh tế
bền vững. Tiến bộ xã hội xác định rõ các nhu cầu xã hội, nhu cầu đời sống cần phải
đáp ứng. những nhu cầu đó là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. đến l ượt nó, phát

Trước hết, công bằng xã hội là động lực của sự phát triển x ã hội. Xã hội là
hình thái vận động cao nhất của vật chất. H ình thái vận động này lấy mối quan hệ
của con người và sự tác động lẫn nhau giữa người với người làm nền tảng. Mác cho
rằng xã hội không phải gồm các cá nhân, m à xã hội là tổng hòa của những mối liên
hệ của các cá nhân đối với nhau . “Xã hội – cho dù nó có hình thức gì đi nữa... là sản
phẩm của sự tác động qua lại giữa những con ng ười” [4, 657]. Sự tác động của quy
luật xã hội diễn ra thông qua hoạt động của con ng ười. Động lực thúc đẩy con ng ười
hoạt động trong mọi thời đại, mọi xã hội là lợi ích của chủ thể hoạt động. Do vậy,
lợi ích trở thành yếu tố quan trọng trong c ơ chế hoạt động của quy luật x ã hội và
trong nhận thức của con người về nó. Như vậy, xã hội là sản phẩm của sự tác động
qua lại giữa những con người có khi phù hợp nhau, có khi lệch nhau thậm chí đối
lập nhau. Vì vậy, việc phân chia giữa các th ành viên cùng hoạt động với nhau phải
được tiến hành theo một nguyên tắc phân chia lợi ích nhất định. Điều kiện kinh tế xã hội trong lịch sử đã có những cách phân chia khác nhau . Thước đo của nguyên
tắc phân chia lợi ích l à sự bình đẳng giữa lao động và trả công, giữa cống hiến v à
hưởng thụ... Nguyên tắc này quy định lao động ngang nhau th ì trả công ngang nhau,
được thực hiện trên cơ sở sự đồng thuận, tự nguyện của các thành viên tham gia vào
một quan hệ lợi ích. Vì vậy, công bằng xã hội cũng là một nguyên tắc phân chia lợi
ích, thông qua thước đo bình đẳng đã làm cho các thành viên tham gia vào quan h ệ
lợi ích không thấy mình bị thiệt thòi. Mặt khác lại kích thích họ tự nguyện lao động
hơn nữa, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Công bằng xã hội thực sự là động lực
của sự vận động và phát triển xã hội.
Thứ hai, công bằng xã hội là thước đo về mặt xã hội của tiến bộ xã hội.
Nguyên tắc phân phối trong chế độ cộng sản nguyên thủy là bình quân; trong chế độ
nô lệ là quan hệ bất công, bất bình đẳng giữa chủ nô và nô lệ; trong chế độ phong


-15-

kiến là quan hệ bất công, bất bình đẳng giữa giai cấp nông dân v à giai cấp địa chủ.
Trong chủ nghĩa tư bản, tư liệu sản xuất thuộc về giai cấp tư sản, vì vậy nguyên tắc

-16-

Một trong những nguyên nhân thành công đó là chính sách “tăng trư ởng kinh
tế cao đi liền với công bằng x ã hội”. Đối với người Nhật, công bằng xã hội không có
nghĩa là mọi người đều được hưởng như nhau những thành quả xã hội. Công bằng
xã hội cũng không đơn thuần chỉ là các khoản phúc lợi xã hội, các khoản trợ cấp xã
hội của chính phủ. Theo họ, công bằng xã hội không chỉ là toàn bộ những gì mà
người dân đã, đang và sẽ được hưởng từ sự tăng trưởng kinh tế tương ứng với phần
đóng góp của họ, mà còn là quyền và những cơ hội tạo điều kiện cho họ đ ược tham
gia đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế. Các nhà kinh tế Nhật Bản gọi đó là “sự
tăng trưởng kinh tế cùng chia sẻ”. Các biện pháp và chính sách mà Nhật Bản đã thực
hiện là:
Thứ nhất, tạo cho mọi người có một môi trường thuận lợi để được tham gia
đóng góp phần mình cho xã hội, cũng như được hưởng một phần thành quả tương
ứng với sự đóng góp của m ình do sự tăng trưởng đem lại.
Trong lĩnh vực chính trị, chủ nghĩa Thiên Hoàng bị lật đổ, nhà nước được
tách ra khỏi tôn giáo Thần Đạo. Mọi ảnh hưởng của giới quân sự và tư tưởng quân
sự đối với đời sống kinh tế, chính trị v à xã hội được loại bỏ. Nhà nước khẳng định
và khuyến khích các tư tưởng dân sự trong nền kinh tế.
Trong lĩnh vực kinh tế, tiến hành đồng thời ba cuộc cải cách lớn nhằm dân
chủ hóa đời sống kinh tế v à tái lập nền kinh tế thị trường.
Thủ tiêu tình trạng tập trung quá mức sức mạnh kinh tế thông qua việc giải
tán và chia nhỏ các tập đoàn tài phiệt, tạo điều kiện cho sự cạnh tranh mạnh mẽ
trong tất cả các ngành công nghiệp.
Cải cách ruộng đất được tiến hành chặt chẽ với nội dung cơ bản là chuyển
quyền sở hữu ruộng đất cho thuê sang cho những tá điền đã từng trồng trọt trên
những mảnh đất đó, giảm bớt tình trạng bất bình đẳng về sở hữu ruộng đất , kích
thích tính tích cực sản xuất và nâng cao thu nhập cho người nông dân.





-18-

truyền thống (chế độ làm việc suốt đời, trả lương theo thâm niên). Ở các công ty
Nhật Bản, mặc dù có sự chênh lệch tiền lương giữa những người có thâm niên khác
nhau đủ để khuyến khích những ng ười có thâm niên cao tiếp tục gắn bó và trung
thành với công ty, song đồng thời sự ch ênh lệch đó cũng được trung hòa một phần
do có tính đến tính năng động, sáng tạo v à trình độ học vấn của tuổi trẻ.
Thứ năm, công bằng xã hội ở Nhật Bản còn được thực hiện thông qua việc đề
ra và thực hiện nghiêm chỉnh các đạo luật, thông qua việc quản lý xã hội, quản lý
nền kinh tế bằng pháp luật, duy tr ì một xã hội có trật tự, có luật pháp v à an toàn.
Thứ sáu, thực hiện công bằng trong phân phối thu nhập. Thay v ì đề cao chủ
nghĩa cá nhân như Mỹ, người Nhật lại đề cao chủ nghĩa tập thể với quy tắc sống
“chia phần công bằng”. Chính phủ Nhật Bản đ ã thực thi nhiều chính sách khác nhau
để điều tiết thu nhập cho ph ù hợp, tránh gây ra sự chênh lệch quá đáng giữa các tầng
lớp dân cư bằng các chính sách tạo việc làm, trợ cấp cho những người thất nghiệp,
có thu nhập thấp hoặc mất khả năng lao động, đánh thuế lũy tiến vào những người
có thu nhập cao, trợ cấp cho nông dân để đảm bảo cho họ có thu nhập tạm chấp
nhận được so với dân cư đô thị, đầu tư cho cơ sở hạ tầng xã hội cũng như các điều
kiện phúc lợi phục vụ đông đảo mọi ng ười...
1.3.2 Kinh nghiệm Hàn Quốc.
Ở Hàn Quốc, mục đích cuối cùng của tăng trưởng kinh tế là nâng cao chất
lượng cuộc sống của người dân sao cho tương đương với mức sống của người dân ở
các nước công nghiệp phát triển. Hàn Quốc đã kết hợp tăng trưởng kinh tế với thực
hiện công bằng xã hội thông qua các chính sách sau:
Thứ nhất, làm giảm bớt bất bình đẳng về thu nhập. Sự phân phối thu nhập
trong toàn xã hội Hàn Quốc được cải thiện mạnh, người dân nhận được nhiều phúc
lợi dưới các hình thức thu nhập gián tiếp như phúc lợi về giáo dục, y tế, nhà ở và các
cơ hội việc làm... Phân phối thu nhập ở Hàn Quốc được thực hiện thông qua việc

+ Ngân sách nhà nước dành cho giáo dục thường xuyên chiếm từ 16-20%
tổng kinh phí của nhà nước.


-20-

+ Sáu năm phổ thông cơ sở là bắt buộc và hoàn toàn miễn phí. Hiện nay, giai
đoạn bắt buộc được mở rộng 3 năm đối với các tr ường trung học ở các vùng nông
thôn.
+ Luôn thừa nhận tầm quan trọng của giáo dục tiểu học v à trung học đối với
triển vọng của tăng trưởng và phát triển kinh của đất nước.
+ Hệ thống trường học đa dạng và phong phú ở tất cả các cấp và các lĩnh vực
khoa học tự nhiên và xã hội.
Điều đáng lưu ý là để thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, chính phủ
Hàn Quốc đã thiết lập và phát triển hệ thống giáo dục phi chính quy, nghĩa l à xây
dựng các chương trình giảng dạy liên tục cho thanh niên và những người vì lý do
nào đó không được hưởng quyền lợi của một chế độ giáo dục chính quy, hoặc xây
dựng các khóa bồi dưỡng kỹ thuật ngắn hạn cho những ng ười đang đi làm. Các
chương trình phi chính quy nhìn chung th ường hướng tới mục tiêu xóa nạn mù chữ,
giáo dục trẻ em lớn tuổi, bồi d ưỡng kiến thức cho người lớn. Hệ thống giáo dục của
Hàn Quốc bao phủ hết cả nước cả ở vùng sâu, vùng xa. Có thể nói Hàn Quốc đã đạt
được một nền giáo dục toàn diện.
1.3.3 Kinh nghiệm Trung Quốc.
Nhờ có quyết tâm đổi mới với những b ước đi và nhiệm vụ cụ thể, trong hơn
20 năm cải cách, mở cửa kinh tế Trung Qu ốc đã phát triển với tốc độ cao. Mức tăng
trưởng kinh tế của Trung Quốc 25 năm qua đứng h àng đầu thế giới. Trong giai đoạn
1979 – 1998, bình quân GDP tăng 9,8%/năm. Những năm 1997 – 1999, do ảnh
hưởng của khủng hoảng tài chính trong khu vực, mức tăng GDP của kinh tế Trung
Quốc có giảm, nhưng vẫn đạt mức trên 7%/năm. Năm 2000, ti ếp tục tăng 7,6%, năm
2003 lại tăng ở mức cao 9,15%. Trung Quốc đ ã hoàn thành cơ bản mục tiêu đã đặt

triệu trẻ em không thể tiếp tục đi học v ì những khó khăn kinh tế. Thiếu sự chăm sóc
sức khỏe và y tế, thiếu điều kiện tiếp cận với giáo dục l àm cho nguồn lực con người
bị giảm sút, cản trở quá tr ình phát triển kinh tế đất nước, nhất là trong giai đoạn hiện
nay, nguồn lực con người giữ vị trí trọng yếu trong phát triển.
Thứ hai, sự chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa các nhóm x ã hội, các
vùng miền ngày càng tăng. Thời kỳ đầu của công cuộc cải cách, Trung Quốc thực


-22-

hiện chính sách cho phép một bộ phận dân c ư và một số khu vực giàu lên trước,
nhằm mục đích giải phóng năng lực sản xuất v à khả năng sáng tạo của lực l ượng sản
xuất. Thực hiện chính sách n ày là tất yếu để thúc đẩy tăng tr ưởng kinh tế. Tuy vậy,
do thiếu quan tâm cải thiện điều kiện sống v à lao động cho các vùng nghèo, những
người nghèo, đến nay tình trạng phân hóa giàu nghèo quá lớn đe dọa sự ổn định và
phát triển của Trung Quốc. Chênh lệch về thu nhập giữa các tỉnh bờ biển miền Đông
– Nam với các tỉnh miền Tây lên tới 6 lần. Sự cách biệt ng ày càng tăng giữa thành
thị và nông thôn về thu nhập, về cung cấp dịch vụ công, về năng suất lao động hiện
đang là trở lực lớn đối với quá tr ình phát triển lực lượng sản xuất và tiến bộ xã hội.
Mức độ tiêu dùng của cư dân nông thôn hiện thua kém 6 lần so với c ư dân thành thị.
Hệ số Gini của Trung Quốc năm 2002 đ ã lên đến 0.5. Theo ước tính của Ngân hàng
Thế giới, có khoảng hơn 100 triệu dân Trung Quốc đang sống dưới mức nghèo,
phần lớn trong số họ là nông dân đang sống ở các tỉnh miền Tây v à các nhóm dân
tộc ít người.
Sự phân biệt giàu – nghèo ngày càng sâu sắc do nhóm người nghèo mặc dù
có quy mô dân số đông nhưng không có khả năng tự bảo vệ lợi ích của m ình. Nếu số
người nghèo vẫn chiếm tỷ lệ cao như hiện nay tất yếu dẫn đến ti êu dùng xã hội
giảm, ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế, mặt khác c òn tích tụ những rủi ro về
mặt xã hội.
Đồng thời, với nỗ lực tăng tr ưởng kinh tế cao, Trung Quốc đ ã đi sâu cải cách

công bằng xã hội; rút ngắn khoảng cách thu nhập giữa các v ùng miền, giữa nông
thôn và thành thị; thực hiện chiến lược phát triển bền vững; đảm bảo sự phát triển
hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển dân số, t ài nguyên, môi trường…Từ
thực tế của Trung Quốc trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng tr ưởng kinh tế
và công bằng xã hội gợi mở những bài học đối với các nước trong đó có Việt Nam
chúng ta.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status